CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỀ RỐI LOẠN BƯỚNG BỈNH CHỐNG ĐỐI Ở TRẺ DƯỚI 6 TUỔI 1. Tổng quannghiên cứunhận thức của giáo viên mầm non về rối loạn bướng bỉnh chống đối ở trẻ dưới 6 tuổi 1.Những nghiên cứu trên thế giới Hiện nay, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã chú ýtriển khai các nghiên cứu về nhữngvấn đề rối loạnhành viở trẻ nói chung và về nhận thức của GVvề các hành vi có vấn đềở trẻ mầm non nói riêng. Điều này xuất phát từ thực tế rằng ngày càng nhiều bằng chứng chứng minh việc phát hiện và can thiệp sớm chính là chìa khóa giúp trẻ gặp vấn đề về tâm lý và hành vi có thể cải thiện tốt các tình trạng rối loạn của mình. Độ tuổi vàng để can thiệp sớm và hiệu quả thường là độ tuổi mầm non từ 3 đến 6 tuổi.
Trong khoảng thời gian cửa sổ này, sự phối hợp hệ thống từ phía chuyên gia - gia đình - nhà trường một cách chặt chẽ sẽ cung cấp cho trẻ có rối loạn hành vi nhiều cơ hội được can thiệp hiệu quả hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bên cạnh chuyên gia và gia đình, trong các kênh hỗ trợ can thiệp điều chỉnh cho trẻ có rối loạn phát triển, giáo dục từ phía nhà trường cũng có ảnh hưởng rất quan trọng. Đặc biệt, GV chính là người trực tiếp tiến hành các tác động giáo dục đối với trẻ, lại càng cần phải nhận thức đầy đủ về những rối loạn ở trẻ. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng đã cho thấy hành vi của trẻ có rối loạn phát triểnthường gây khó khăn cho tác động giáo dục từ phía GV.
Cụ thể, các hành vi có vấn đề của trẻ không chỉ tác động đến kết quả phát triển của trẻ mà có thể gây ra những hậu quả tiêu cực cho GV(Hammarberg, Schulte, & Fredholm, 2003). Trẻ có những hành vi gây rối và hung hăng thường phá vỡ trật tự, phá vỡ quy tắc lớp học và đương đầu với GV(Ladd, 2006). Do đó, nếu GV không nhận thức đầy đủ về các rối loạn ở trẻ sẽ khó định hướng tác động can thiệp phù hợp. Bên cạnh đó, các nghiên cứu theo lý thuyết hành vi có kế hoạch cho rằng một người nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện một hành vi hay hành động được yêu cầu dựa trên kinh nghiệm trước đó của họ (Ajzen, 2011).Theo Skinner (1996), kiểm soát nhận thức phụ thuộc vào niềm tin của một người về các kinh nghiệm có sẵn.
Do đó, cách GV quản lý lớp học cũng tùy thuộc vào khả năng nhận thức của GV, kinh nghiệm của GV trước đó. Khi GVMN bắt gặp nhiều hành vi có vấn đề của trẻ trong lớp học là do nhận thức kiểm soát về hành vi của GV thấp, hay nói cách khác là kinh nghiệm kiểm soát hành vi của họ ít. Trong quá trình kiểm soát nhận thức về hành vi có vấn đề của trẻ, để đối phó với một số hành vi không mong muốn GV có thể sử dụng các biện pháp chẳng hạn như ra lệnh và khiển trách (Hagekull & Hammarberg, 2004), điều này có thể làm tăng mức độ xung đột trong mối quan hệ của GV và trẻ(Henricsson & Rydell, 2004). Nhiều GV có định kiến, chưa đồng cảm với khó khăn, tâm trạng của trẻ hoặc phạt những trẻ có hành vi trước lớp làm cho các trẻ khác có nguy cơ tập nhiễm và tái diễn hành vi này.
Xếp hạng của GV về các vấn đề hành vi khác với xếp hạng của PH và những người quan sát độc lập, đặc biệt là về các hành vi hung hăng (Harden & Crosby, 2000). Tuy nhiên, về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ và các vấn đề hoạt động học tập, GV đánh giá vấn đề cao hơn cha mẹ (Verhulst & Akkerhuis, 1989). Một nghiên cứu do Winsler and Wallace (2002)thực hiện trên 47 trẻ mầm non tại Đông-Nam Hoa Kỳ cho thấyGV có nhiều tiềm năng kiểm soát những hành vi tiêu cực của trẻ nếu những hành vi đó được can thiệp đúng cách. Nhận thức hoặc hành vi của GV đối với trẻ đem lại biện pháp can thiệp hiệu quả, làm hạn chế các hành vi có vấn đề.
Trong nghiên cứu hành vi hung hăng của trẻ em và GV, Doumen, Verschueren, and Buyse (2009) tìm hiểu những khó khăn về sự kiểm soát nhận thức của GV đối với hành vi của trẻ. Nghiên cứu thực hiện trên 139 trẻ mẫu giáo Bỉ và GV của trẻ với phương pháp bảng hỏi cho GV cho thấy rằng niềm tin của GV về khả năng của họ đối phó với các hành vi có vấn đề của trẻ là cần thiết. Mức độ trẻ có hành vi hung hăng cao và xung đột GV với trẻ khi kiểm soát nhận thức của GV thấp có thể gây ra tiêu cực trong tương tác của GV và trẻ. Nghiên cứu nhận thức của 346 GV ở Asturias về hành vi gây rối trong lớp học của Eva Álvarez Martino và cộng sự (2016) cho thấy các kỹ năng quản lý lớp học GV còn hạn chế.
Việc nâng cao nhận thức cho GV giúp giảm hành vi thách thức ở trẻ về sau. Tuy nhiên, GV ít được đào tạo và ít sự hỗ trợ từ các chuyên gia.Trong một nghiên cứu cho thấy đa số các GV chỉ được cung cấp mức độ kiến thức và kỹ năng để bước đầu làm việc với trẻ dễ tổn thương và khó khăn trong học tập.Việc quản lý học sinh là một trong những lĩnh vực thấp nhất mà họ được đào tạo.Chỉ có một số ít các khóa học tự chọn và bắt buộc trong quản lý lớp học tại các trường đại học.Tỷ lệ GVMN nhận được rất ít sự hỗ trợ của các chuyên gia khi gặp các tình huống cần thiết. Những hành vi thách thức đã được chứng minh là có thể nhận biết được từ những độ tuổi rất sớm và có thể được can thiệp sớm. Nhưng GV ít được đào tạo và ít tài liệu để giúp quản lý các hành vi của trẻ (Miller, Smith-Bonahue, & Kemple, 2017).
Nhìn chung trên thế giới hiện nay, những nghiên cứu về nhận thức của GV về trẻ RLBBCĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục những trẻ này của GV khá phong phú. Tuy nhiên,những nghiên cứu cụ thể tập trung tìm hiểu nhận thức của GVMN về RLBBCĐ ở trẻ còn rất hạn chế.2 Nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam,nhìn chung, những nghiên cứu chuyên sâu về trẻ RLBBCĐ còn rất hạn chế. Nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương (2018) được thực hiện cũng chỉ mới tìm hiểu được ảnh hưởng của các biến như giới, lứa tuổi và tầng lớp xã hội đến phát triển RLBBCĐ ở cá nhân. Kết quả cho thấyRLBBCĐ xuất hiện với tỷ lệ giống nhau ở trẻ nam và nữ khi ở lứa tuổi nhi đồng, ở giai đoạn thiếu niên RLBBCĐ nhiều hơn chủ yếu ở nam.
Tầng lớp xã hội là yếu tố quan trọng, RLBBCĐ xuất hiện ở tầng lớp xã hội không được thuận lợi về mặt kinh tế xã hội. Hay nghiên cứu về “Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu và Phát triển và UNICEF Việt Nam thực hiện năm 2019 nhằm mục tiêu có cái nhìn tổng quan về thực trạng sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội ở trẻ em và thanh niên trong đó cũng có quan tâm đến vấn đề “RLBBCĐ cho trẻ mầm non”. Tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29%, tỷ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12%, đồng nghĩa với việc hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề như: lo âu, trầm cảm, tự kỷ, tăng động, giảm chú ý.
Cũng theo nghiên cứu này, RLBBCĐ cho trẻ mầm nonchiếm tỷ trọng 8% trong tổng số các bệnh liên quan đến sức khỏe tâm lý(Unicef, 2019). Các nghiên cứu khác hầu hết được thực hiện nhằm tìm hiểu biểu hiện rối loạn chống đối ở trẻ như là một rối loạn phối hợp của một loại rối loạn được chú ý hơn là rối loạn tăng động giảm chú ý. Theo hướng này có thể kể đến một số nghiên cứu như nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc và Dương Minh Tâm (2022) hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thoa và Trần Nguyễn Ngọc (2021). Ngoài ra, cũng có một số các nghiên cứu được thực hiện có liên quan gần với RLBBCĐ ở trẻ là các nghiên cứu về biểu hiện hung tính hay biểu hiện hành vi gây hấn ở trẻ.
Ví dụ nhưHồ Thị Thúy Hằng (2018) đã tìm hiểu về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn ở 2 trường mẫu giáo công lập, một trường là ở quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, một trường ở huyện ngoại thành. Nghiên cứu tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với GV và PH, tiến hành quan sát trong thời gian trẻ ở lớp cho thấy 78,7% trẻ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng xuất hiện các hành vi hung tính; 21,3% trẻ biểu hiện rõ hành vi hung tính ở trường có tương đối tương quan; ở nhà trẻ không chỉ biểu hiện biểu hiện hung tính mà còn la hét, mắng chửi…nhưng không có mối tương quan. Đa số trẻ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng biểu hiện hành vi hung tính trên lớp và GV thường nhắc nhở nhẹ nhàng, cho thấy cách ứng xử của GV với trẻ có ảnh hưởng nhất định đến sự xuất hiện hành vi hung tính ở trẻ.Cùng trong năm 2018, Tạ Thị Huệ cũng thực hiện nghiên cứu “Thực trạng biểu hiện hành vi gây hấn của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường mầm non ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định”. Kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu này đã chỉ ra: Hành vi gây hấn của trẻ mẫu giáo lớn trong các trườngmầm non ở thành phố Nam Định đang diễn ra với nhiều biểuhiện đa dạng, trẻ chủ yếu gây hấn với trẻ khác và ngườilớn, còn gây hấn với bản thân và động vật có ít biểu hiệnhơn.
Như vậy, hành vi gây hấn có thể xuất hiện từ rất sớmtrong những năm đầu đời. Các kết quả cũng chỉ ra rằng, trẻcó hành vi gây hấn trong thời thơ ấu và vị thành niênthường có nguy cơ cao trở thành trẻ cá biệt, bị từ chối ởtrường học, khó có thể duy trì được việc làm, trở thành tộiphạm và khó kết hôn.