Phần mở đầu: Những vấn đề chung Phần nội dung nghiên cứu, gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Phần Kết luận và khuyến nghị.
Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con ngƣời, là công cụ để tƣ duy, để giao tiếp và là chìa khoá để con ngƣời nhận thức, chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Sự phát triển ngôn ngữ diễn ra nhanh nhất ở giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non).
Từ chỗ sinh ra chƣa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi trẻ đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Ở giai đoạn này, nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì trẻ khó có thể phát triển tốt đƣợc. Chính vì vậy, ngôn ngữ nói chung, giáo dục ngôn ngữ và quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ trƣớc tuổi học là vấn đề đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới và trong nƣớc quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới Vấn đề ngôn ngữ đã đƣợc đề cập đến từ thời cổ đại song đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ với triết học và lôgíc học.
Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ nhƣ là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con ngƣời [27]. Trong cuốn "Phương pháp luận", nhà triết học Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ, ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ - cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tƣ duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm yếu tố phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật" [10]. Ngƣời đầu tiên sáng lập ra trƣờng phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đƣa ra quan điểm ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc.
Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc [dẫn theo 29]. 6 Theo triết học Mác-Lênin, ngôn ngữ là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội, là cơ sở của phát triển trí tuệ và là kho tàng của kiến thức, tất cả hiểu biết đều bắt đầu từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại bằng ngôn ngữ [dẫn theo 21]. Sau cách mạng tháng Mƣời Nga, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mac - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ và xem xét ngôn ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng xã hội. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tƣ duy, là phƣơng tiện giao tiếp chủ yếu của con ngƣời.
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này có thể kể đến là: L.Selishchev… Họ đã nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… [31]. Vƣgotxki trong cuốn "Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng: Hoạt động tinh thần của con ngƣời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải chỉ là kết quả mang tính cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của ngƣời lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ngƣời này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tƣ duy trong một xã hội nhất định đƣợc chuyển giao sang trẻ.
Do ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên mà qua đó, con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, L. Vƣgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy [dẫn theo 23]. Lênin đã viết: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [31]. Trong cuộc sống, trong sự phát triển xã hội loài ngƣời, ngôn ngữ là phƣơng tiện để phát triển tƣ duy, là phƣơng tiện giữ gìn, bảo tồn, truyền đạt và phát triển kinh nghiệm xã hội loài ngƣời.
Ngôn ngữ còn là công cụ biểu đạt tƣ tƣởng, tình cảm, giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội. Trong các nghiên cứu về giáo dục phát triển ngôn ngữ, tác giả E. Tikhêeva quan tâm tới đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em trƣớc tuổi học và đƣa ra phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hệ thống [dẫn theo 11].Skinner trong tác phẩm “Hành vi bằng lời” cho rằng: ngôn ngữ của trẻ cũng nhƣ mọi hành vi khác đƣợc hình thành do thao tác quyết định và sự “bắt chƣớc” là rất quan trọng, những thao tác về ngôn ngữ cùng với sự giúp đỡ của ngƣời lớn sẽ giúp trẻ nhanh chóng trƣởng thành về ngôn ngữ [dẫn theo 7]. Tác giả Noam Chomxky cho rằng: Trẻ em đóng vai trò là nhân tố chính trong sự phát triển ngôn ngữ.
Ông coi ngôn ngữ có cơ sở sinh học chỉ có ở con ngƣời và con ngƣời có cơ quan sản sinh ngôn ngữ trong não bộ, khi có tác động từ bên ngoài (môi trƣờng ngôn ngữ) thì ngôn ngữ có cơ hội xuất hiện, dƣờng nhƣ suy nghĩ là có sẵn, đƣợc tập hợp từ các mô hình tách biệt, đƣợc “di truyền” từ thế hệ trƣớc. Ông cho rằng, ngôn ngữ sẽ bùng nổ khi có kích thích phù hợp mà không cần sự dạy dỗ có chủ định của các bậc cha mẹ và ông còn cho rằng trẻ có kho chứa ngữ pháp toàn cầu, chỉ cần sử dụng đúng lúc là có thể giải mã đƣợc tiếng mẹ đẻ của nó [dẫn theo 11]. Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy, tác giả Piaget cho rằng: “ngôn ngữ không quan trọng lắm đối với sự phát triển của tƣ duy”. Theo ông, tƣ duy phát triển đƣợc là nhờ trẻ hành động với các vật thể vật chất, phát hiện ra những thiếu sót trong tƣ duy hiện có, luyện tập để sáng tạo ra phƣơng thức tƣ duy phù hợp với hiện thực và mọi trẻ em đều trải qua quá trình phát triển nhƣ nhau nhƣng với tốc độ khác nhau, vì vậy, giáo viên phải nỗ lực tổ chức hoạt động cho từng trẻ hoặc nhóm chứ không phải theo cả lớp [dẫn theo 28].
Bên cạnh các nghiên cứu về ngôn ngữ và mối quan hệ giữa sự phát triển ngôn ngữ và nhân cách, vấn đề quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ bƣớc đầu cũng đã đƣợc các tác giả M.Konđacop, Mary Parker Follett, Koontz, O’Donnell, James Stoner, Stephen Robbins. quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu của những tác giả này chỉ ra rằng ngôn ngữ là yếu tố đặc trƣng của loài ngƣời, ngôn ngữ phát triển trong hoạt động và giao tiếp, có mối quan hệ với tƣ duy; ngƣời lớn cần tổ chức các hoạt động giúp trẻ phát triển ngôn ngữ gắn với bối cảnh sống thực tiễn của trẻ. 8 Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải đƣợc thực hiện ngay từ khi trẻ mới chào đời và phải đƣợc thực hiện có hệ thống, bài bản bắt đầu từ khi trẻ tới trƣờng mầm non, nếu nhà giáo dục bỏ qua giai đoạn này sẽ là thiệt thòi lớn đối với sự phát triển của trẻ; công tác quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Ở Việt Nam Vấn đề ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non cũng đƣợc nhiều tác giả trong nƣớc quan tâm nghiên cứu và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau. Có thể kể đến các nghiên cứu sau: Tác giả Nguyễn Thị Oanh (2000) đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Tác giả Hồ Lam Hồng (2002) đã nghiên cứu thực trạng vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp tác động để chuẩn bị tốt về mặt ngôn ngữ cho trẻ trƣớc tuổi học, giúp trẻ thích ứng với môi trƣờng học ở lớp 1. Tác giả Lƣu Thị Lan (1996) trong công trình nghiên cứu “Những bƣớc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em từ 1 - 6 tuổi" đã đề cập đến biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 - 6 tuổi.
Theo tác giả, để phát triển vốn từ cần tổ chức cho trẻ quan sát và đàm thoại, cùng với trẻ phân tích sự vật hiện tƣợng, cho trẻ nghe thơ, truyện, chơi một số trò chơi nhƣ đoán vật qua tiếng kêu, nối từ, chơi đóng vai theo chủ đề… để giúp trẻ nhận thức và phát triển ngôn ngữ. Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” NXB ĐHSP năm 2004 đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trên cơ sở những đánh giá về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác để đề ra một số phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Các công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ về giáo dục học cũng quan tâm đến ngôn ngữ của trẻ nhƣng chủ yếu về vấn đề chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 9 tuổi học đọc, học viết ở lớp 1 nhƣ luận văn “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo của tác giả Hoàng Thị Hồng Mát; công trình “Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi học chữ” của tác giả Nguyễn Phƣơng Nga; Luận văn "Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi Trƣờng mẫu giáo Minh Tân, xã Minh Tân, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai qua tổ chức hoạt động đọc thơ" của tác giả Kim Thị Hơn. Tác giả Bùi Việt Phú và Bùi Thị Thanh Hải đã đăng trên Tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 12 năm 2015 bài viết: “Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ở trƣờng mầm non.