Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở khu vực miền núi phía Bắc" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Thủy thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Thị Minh Huế, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục (mã số: 9140102), bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu và là công cụ trao đổi thông tin, cảm xúc, tác động qua lại giữa con người trong đời sống xã hội. Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, nhu cầu giao tiếp được hình thành từ mối quan hệ xúc cảm trực tiếp với người mẹ, tiếp tục phát triển qua các mối quan hệ với cô giáo, bạn bè, người lớn và mở rộng trong các hoạt động khác nhau. Trong các hoạt động của trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Thông qua trò chơi này, môi trường trải nghiệm mang tính giả định được tạo lập, giúp trẻ thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội bằng việc đóng vai, từ đó hình thành hành vi, nhận thức và rèn luyện các kĩ năng xã hội, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp.

Thực tiễn giáo dục mầm non tại khu vực miền núi phía Bắc cho thấy công tác giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi đã được các cơ sở quan tâm nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn bộc lộ nhiều hạn chế; đội ngũ giáo viên chưa khai thác hiệu quả ưu thế của hoạt động vui chơi và trò chơi đóng vai theo chủ đề. Về mặt lý luận và thực tiễn nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề tại khu vực miền núi phía Bắc nhằm giải quyết hai vấn đề then chốt: làm rõ vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ, và xác lập quy trình, biện pháp tổ chức hiệu quả phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, luận án đề xuất quy trình và các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.

Câu hỏi nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khu vực miền núi phía Bắc được thực hiện thông qua những con đường nào? Tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề có phải là con đường ưu thế trong giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi?
  2. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc như thế nào?
  3. Giáo viên mầm non khu vực miền núi phía Bắc có thể sử dụng các biện pháp nào để nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề?

Giả thuyết khoa học

Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục mầm non. Hiệu quả giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề phụ thuộc vào năng lực tổ chức trò chơi của giáo viên, môi trường tâm lý xã hội, cơ sở vật chất, văn hóa và phong tục tập quán. Nếu xác lập được quy trình và các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề đảm bảo tính khoa học, phù hợp với đặc điểm của trẻ và điều kiện thực tiễn khu vực miền núi phía Bắc thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại khu vực này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề với giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non nhằm xác lập quy trình và các biện pháp tổ chức.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các kĩ năng giao tiếp cơ bản bằng ngôn ngữ tiếng Việt cần giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề dựa trên Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, bao gồm 3 nhóm: kĩ năng nghe hiểu lời nói, kĩ năng biểu đạt lời nói và kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp.
  • Phạm vi không gian và khách thể khảo sát: Khảo sát thực trạng tại 14 trường mầm non khu vực nông thôn miền núi phía Bắc thuộc 06 tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn; với khách thể gồm 314 cán bộ quản lý, giáo viên và 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Địa bàn thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Mầm non Nà Pheo (xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba hướng chính:

                                    CÁC HƯỚNG TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Hướng 1: Lý luận giao tiếp]            [Hướng 2: Kĩ năng giao tiếp]            [Hướng 3: GD KNGT qua trò chơi]
- Quốc tế: Feuerbach, Pavlov,           - Quốc tế: Ushinsky, Lisina,            - Quốc tế: Fröbel, Leontiev,
  Marx, Lenin, G.H. Mead                  Vygotsky, Lomov, Zakharov               Vygotsky, Usova, Stoppard
- VN: Nguyễn Thạc, Hoàng Anh,           - VN: Hoàng Thị Anh, Lê Xuân Hồng,      - VN: Nguyễn Ánh Tuyết (1987)
  Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ               Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Tính

Các nghiên cứu quốc tế

  • Hướng nghiên cứu về giao tiếp: L. Feuerbach (1804–1872) phân tích bản chất con người thể hiện trong giao tiếp; I.P. Pavlov (1849–1936) nghiên cứu công cụ giao tiếp là ngôn ngữ - hệ thống tín hiệu thứ hai; K. Marx (1884) và V.I. Lenin xem giao tiếp là nhu cầu xã hội và phương thức con người tham gia vào các quan hệ xã hội; G.H. Mead (1863–1931) nhấn mạnh vai trò của tương tác liên cá nhân trong sự phát triển nhân cách.
  • Hướng nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và giáo dục kĩ năng giao tiếp: K.D. Ushinsky (1950) khẳng định việc nắm vững tiếng mẹ đẻ và rèn luyện kĩ năng nghe, nói mạch lạc ở thời kì mẫu giáo là chỉ số chuẩn bị cho học tập ở trường phổ thông; M.I. Lisina (1974) và A.G. Ruzskaya (1978) nghiên cứu sự phát triển giao tiếp và hành vi giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ của trẻ mầm non; L.S. Vygotsky (1960) và B.F. Lomov (1981) phân tích sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao và quá trình lĩnh hội kĩ năng giao tiếp; Kark-Hai-Nowdich (1990) nghiên cứu các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ; Linda Maget nghiên cứu kĩ năng giao tiếp xã hội và vai trò của cha mẹ; Zakharov xác định hệ thống các kĩ năng thành phần của giao tiếp (thiết lập quan hệ, cân bằng nhu cầu, lắng nghe, tự chủ cảm xúc, diễn đạt mạch lạc, điều khiển giao tiếp); Chương trình High-Scope (Mỹ, 2004) tích hợp 58 chỉ số phát triển then chốt (KDIs), trong đó có các chỉ số giao tiếp và ngôn ngữ.
  • Hướng nghiên cứu về giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề: F. Fröbel (1782–1852) khởi xướng việc kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ mẫu giáo; A.N. Leontiev và L.S. Vygotsky khẳng định trò chơi đóng vai theo chủ đề giữ vai trò chủ đạo định hình hành vi và kĩ năng giao tiếp; A.P. Usova (1977) phân tích trò chơi như phương tiện hình thành "xã hội trẻ em" với hai loại quan hệ (quan hệ thực và quan hệ chơi); Miriam Stoppard (1993) nhấn mạnh giai đoạn 4-6 tuổi trẻ cần cơ hội rèn luyện giao tiếp xã hội với bạn đồng trang lứa qua trò chơi cộng đồng; Pere Klerman, Diana Courson và Claissa Wallace (2010), cùng chương trình giáo dục mầm non tại Bắc Ireland (1997) và bang California - Mỹ (2010) đều khẳng định vai trò cốt lõi của hoạt động chơi đối với việc hình thành kĩ năng sống và kĩ năng giao tiếp.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Hướng nghiên cứu về giao tiếp: Nguyễn Thạc và Hoàng Anh (1991) nghiên cứu giao tiếp sư phạm; Nguyễn Văn Lê (1999) phân tích cơ sở lý luận về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh (2006), Nguyễn Bá Minh (2012) nghiên cứu phương tiện và quy tắc giao tiếp xã hội; Trần Văn Phòng và Ngô Thị Nụ (2015) nghiên cứu quan điểm của Trần Đức Thảo về quan hệ cá nhân - xã hội; Hà Thế Ngữ (2001) phân tích sự thống nhất giữa hoạt động và giao lưu trong giáo dục; Phùng Thị Hằng (2006) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc nội trú vùng Đông Bắc.
  • Hướng nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và giáo dục kĩ năng giao tiếp: Hoàng Thị Anh (1992) xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên; Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân (1994, 2000) nghiên cứu giao tiếp sư phạm mầm non; Nguyễn Thị Oanh (2000) phân tích vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ; Chu Văn Đức (2005) nghiên cứu nhu cầu giao tiếp thời thơ ấu; Nguyễn Thanh Bình (2005, 2009) nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống và kĩ năng giao tiếp cho học sinh THCS, THPT; Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa (2006) tiếp cận giao tiếp trẻ em dưới góc độ thỏa mãn nhu cầu; Nguyễn Thị Tính (2009) và Ngô Giang Nam (2013) nghiên cứu giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc; Nguyễn Hữu Độ cùng cộng sự (2010) nghiên cứu kĩ năng giao tiếp ứng xử trong tài liệu nếp sống thanh lịch - văn minh.
  • Hướng nghiên cứu về giáo dục trẻ qua trò chơi: Nguyễn Ánh Tuyết (1987) khẳng định vai trò của việc vui chơi trong nhóm bạn giúp mở rộng kinh nghiệm sống và rèn luyện kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây đã làm sáng tỏ cơ sở tâm lý học của giao tiếp, kĩ năng giao tiếp sư phạm hoặc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông và học sinh tiểu học miền núi. Tuy nhiên, việc nghiên cứu giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc vẫn chưa được thực hiện một cách chuyên biệt và toàn diện. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng quy trình tổ chức và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể gắn với bối cảnh kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ của vùng miền núi phía Bắc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Quan điểm tiếp cận và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên 05 quan điểm phương pháp luận:

  1. Quan điểm hệ thống cấu trúc: Xem xét giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong mối quan hệ gắn kết hữu cơ với mục tiêu, nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non.
  2. Quan điểm thực tiễn: Tiếp cận việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi và điều kiện cơ sở vật chất, văn hóa, xã hội cụ thể tại các trường mầm non miền núi phía Bắc.
  3. Quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách: Đặt quá trình hình thành, phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ trong hoạt động chủ đạo (hoạt động vui chơi) và các mối quan hệ giao lưu nhân cách tại trường mầm non.
  4. Quan điểm tiếp cận Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi: Dựa vào các chỉ số chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi về ngôn ngữ và giao tiếp để xác định mục tiêu, nội dung giáo dục và xây dựng tiêu chí, thang đo đánh giá.
  5. Quan điểm tiếp cận giáo dục kĩ năng sống: Định hướng kĩ năng giao tiếp như một thành tố cốt lõi của kĩ năng sống cần hình thành cho trẻ lứa tuổi mầm non.

Phân loại kĩ năng giao tiếp trong luận án

Luận án xác định 03 nhóm kĩ năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng Việt cần giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề:

  • Kĩ năng nghe hiểu lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề: Khả năng tiếp nhận, hiểu nội dung lời nói, mệnh lệnh, yêu cầu và ngữ cảnh giao tiếp của vai chơi.
  • Kĩ năng biểu đạt lời nói để giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề: Khả năng sử dụng từ ngữ, ngữ điệu, câu cú mạch lạc để thể hiện ý nghĩ, cảm xúc và thực hiện hành động của vai chơi.
  • Kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề: Khả năng tuân thủ các chuẩn mực hành vi ứng xử văn hóa, quy ước của vai chơi và quan hệ xã hội giả định trong nhóm chơi.
Nhóm kĩ năng giao tiếp Tiêu chí biểu hiện chính trong trò chơi đóng vai theo chủ đề
1. Nghe hiểu lời nói Chú ý lắng nghe lời bạn/cô nói; hiểu nội dung thông điệp của vai chơi; thực hiện phản hồi đúng yêu cầu ngôn ngữ.
2. Biểu đạt lời nói Phát âm rõ ràng, dùng từ phù hợp hoàn cảnh chơi; nói câu trọn vẹn, diễn đạt mạch lạc; sử dụng ngữ điệu phù hợp với vai.
3. Thực hiện quy tắc giao tiếp Chào hỏi, xưng hô phù hợp vai chơi; biết chờ đến lượt khi nói; biết nói lời cảm ơn, xin lỗi và tôn trọng bạn cùng chơi.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế để xây dựng khung lý thuyết.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thực hiện khảo sát trên mẫu 314 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non nhằm thu thập số liệu về nhận thức, nội dung, phương pháp, quy trình và các yếu tố ảnh hưởng.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và giáo viên để làm rõ các bất cập trong thực tiễn tổ chức trò chơi.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động giao tiếp của 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong quá trình chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề và quan sát quá trình tổ chức của giáo viên để đánh giá thực trạng.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng (nhóm Đối chứng - ĐC và nhóm Thực nghiệm - TN) qua 3 giai đoạn tại Trường Mầm non Nà Pheo, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình cùng các biện pháp đề xuất.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu điều tra, tính toán các tham số thống kê mô tả và thực hiện kiểm định T-Test so sánh sự khác biệt giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về giao tiếp, kĩ năng giao tiếp và giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Luận án phân tích đặc điểm phát triển tâm lý và nhu cầu mở rộng quan hệ xã hội của trẻ ở giai đoạn chuẩn bị bước vào lớp 1. Trò chơi đóng vai theo chủ đề được xác định là con đường giáo dục chiếm ưu thế vượt trội do tính chất tạo lập môi trường xã hội giả định: trẻ được phân vai, nhập vai, mô phỏng các mối quan hệ xã hội của người lớn, qua đó kích thích việc nghe hiểu ngôn ngữ, diễn đạt ý nghĩ và thực hành các quy tắc ứng xử một cách tự nhiên.

Tác giả xác định các thành tố sư phạm cốt lõi: mục tiêu, ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục kĩ năng giao tiếp và quy trình tổ chức hoạt động. Chương 1 cũng xây dựng hệ thống tiêu chí, thang đánh giá 3 nhóm kĩ năng giao tiếp của trẻ qua trò chơi đóng vai theo chủ đề (nghe hiểu, biểu đạt, thực hiện quy tắc), đồng thời đưa ra các yêu cầu sư phạm cụ thể đối với giáo viên mầm non khi đóng vai trò là người thiết kế, định hướng và hỗ trợ hoạt động chơi của trẻ.

QUY TRÌNH HỌC THUẬT CỦA LUẬN ÁN

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 14 trường mầm non thuộc 06 tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn). Luận án phân tích các nét đặc thù về tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em miền núi (tính nhút nhát, rào cản tiếng Việt đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số).

Số liệu khảo sát 314 cán bộ quản lý, giáo viên và 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cho thấy:

  • Về nhận thức: Đa số cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, song mức độ hiểu biết về quy trình và cách thức tích hợp rèn luyện kĩ năng chuyên biệt còn thiếu đồng đều.
  • Về thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ: Kết quả đánh giá của giáo viên và quan sát thực tế chỉ ra rằng mức độ thực hiện cả 3 nhóm kĩ năng (nghe hiểu lời nói, biểu đạt lời nói, thực hiện quy tắc giao tiếp) của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở khu vực miền núi phía Bắc còn ở mức trung bình và thấp; kĩ năng sử dụng từ ngữ tiếng Việt và tính chủ động thiết lập quan hệ giao tiếp trong vai chơi còn nhiều hạn chế.
  • Về hoạt động tổ chức của giáo viên: Việc triển khai nội dung, phương pháp, quy trình và đánh giá kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề còn mang tính hình thức, chưa đa dạng hóa các chủ đề gắn liền với đời sống thực tế của vùng cao.
  • Về các yếu tố ảnh hưởng: Hiệu quả giáo dục chịu tác động của năng lực sư phạm của giáo viên, môi trường tâm lý - ngôn ngữ lớp học, điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi và sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường.
Nội dung khảo sát thực trạng Đối tượng khảo sát Phương pháp thu thập Kết quả chính
Nhận thức của CBQL và GV 314 GV và CBQL Phiếu hỏi, phỏng vấn Đa số nhận thức đúng tầm quan trọng nhưng lúng túng về quy trình tổ chức.
KNGT của trẻ (theo GV đánh giá) 193 trẻ 5-6 tuổi Phiếu trưng cầu ý kiến GV Mức độ nghe hiểu, biểu đạt và thực hiện quy tắc tập trung ở mức trung bình.
KNGT của trẻ (theo quan sát) 193 trẻ 5-6 tuổi Quan sát trực tiếp theo tiêu chí Tương đồng với đánh giá của GV; kĩ năng biểu đạt ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế.
Hoạt động sư phạm của GV 314 GV Phiếu hỏi, quan sát giờ chơi Quy trình thực hiện chưa triệt để; thiếu tài liệu và đồ chơi phù hợp văn hóa vùng miền.

Chương 3: Quy trình và biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc

Trên cơ sở 02 nguyên tắc chỉ đạo: (1) Đảm bảo tính mục đích giáo dục, và (2) Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên với việc phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động của trẻ; tác giả thiết kế quy trình giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề gồm các giai đoạn chuẩn hóa từ chuẩn bị, tổ chức thực hiện trò chơi đến đánh giá và củng cố kĩ năng.

Luận án đề xuất hệ thống 05 biện pháp sư phạm cụ thể:

  1. Xây dựng hệ thống trò chơi đóng vai theo chủ đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Lựa chọn, thiết kế các chủ đề gần gũi với đời sống miền núi (chợ phiên vùng cao, trạm y tế bản, gia đình ấm no, trường mầm non...) nhằm kích hoạt vốn từ và nhu cầu giao tiếp tiếng Việt của trẻ.
  2. Phát triển hoạt động chơi theo hướng linh hoạt nhằm tăng cường giáo dục kĩ năng giao tiếp: Mở rộng không gian chơi, khuyến khích trẻ tự liên kết các nhóm chơi, chuyển đổi vai chơi và xử lý các tình huống giao tiếp nảy sinh trong trò chơi.
  3. Phát triển môi trường nhóm, lớp kích thích trẻ tích cực tham gia trải nghiệm rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề: Sắp xếp các góc chơi mở, trang bị đồ chơi trực quan, phong phú, mang bản sắc văn hóa địa phương để kích thích trẻ tương tác lời nói.
  4. Định hướng thiết kế tài liệu hướng dẫn giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề: Xây dựng cẩm nang, tài liệu hướng dẫn cụ thể về ngữ liệu, câu hỏi gợi mở, kịch bản tình huống giao tiếp mẫu hỗ trợ giáo viên đứng lớp.
  5. Phối hợp giữa giáo viên và cha mẹ trong giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề: Tuyên truyền, hướng dẫn phụ huynh tạo lập môi trường giao tiếp tiếng Việt tại gia đình và cùng tham gia làm đồ chơi tự tạo cho trẻ.

Tác giả phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các biện pháp và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Nà Pheo (Võ Nhai, Thái Nguyên). Dữ liệu thu được từ 3 vòng thực nghiệm (Lần 1, Lần 2, Lần 3) được xử lý bằng kiểm định T-Test trên phần mềm SPSS 20.0. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy điểm trung bình của nhóm thực nghiệm ở cả 3 nhóm kĩ năng (nghe hiểu, biểu đạt, thực hiện quy tắc giao tiếp) có sự tiến bộ vượt bậc so với nhóm đối chứng với độ tin cậy thống kê rõ rệt, khẳng định tính khoa học và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Góp phần hoàn thiện và phát triển hệ thống lý luận về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mầm non tại Việt Nam, đặc biệt là lý luận giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động vui chơi dựa trên cách tiếp cận nhân cách - hoạt động, Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi và giáo dục kĩ năng sống.
  • Làm sáng tỏ ưu thế sư phạm của trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc tạo lập môi trường xã hội giả định, giúp trẻ mẫu giáo rèn luyện ngôn ngữ tiếng Việt và hành vi ứng xử liên cá nhân.
  • Xác lập khung lý thuyết gồm hệ thống khái niệm, cấu trúc 3 nhóm kĩ năng giao tiếp thành phần (nghe hiểu lời nói, biểu đạt lời nói, thực hiện quy tắc giao tiếp) cùng các tiêu chí và thang đo đánh giá tương ứng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi và thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại 14 trường mầm non thuộc 06 tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn), chỉ rõ các yếu tố thuận lợi và rào cản đặc thù vùng miền.
  • Xây dựng quy trình tổ chức và đề xuất hệ thống 05 biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác nghiên cứu, bồi dưỡng giáo viên và giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Mầm non tại các trường sư phạm.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT): Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi cho các trường mầm non vùng khó khăn; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề về phương pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm phát triển ngôn ngữ và kĩ năng giao tiếp cho trẻ.
  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên: Bổ sung, cập nhật nội dung rèn luyện kĩ năng tổ chức hoạt động vui chơi và giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số vào chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non.
  • Đối với các trường mầm non và giáo viên: Linh hoạt áp dụng quy trình và 5 biện pháp sư phạm của luận án; chủ động xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt thân thiện, tích cực làm đồ chơi tự tạo từ nguyên vật liệu địa phương và duy trì mối liên hệ phối hợp thường xuyên với phụ huynh học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung của luận án giới hạn ở việc nghiên cứu các kĩ năng giao tiếp cơ bản bằng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, chưa đi sâu phân tích toàn diện hiện tượng song ngữ hoặc tác động của tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc thiểu số) đến quá trình giao tiếp của trẻ.
  • Phạm vi địa bàn khảo sát thực trạng giới hạn ở 14 trường mầm non thuộc 06 tỉnh miền núi phía Bắc; địa bàn thực nghiệm sư phạm mới chỉ được tiến hành tại một cơ sở giáo dục (Trường Mầm non Nà Pheo, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm tại nhiều điểm trường mầm non thuộc các vùng địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Nghiên cứu mở rộng việc giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho các lứa tuổi mầm non khác (trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi).
  • Nghiên cứu sâu về các biện pháp tăng cường tiếng Việt kết hợp bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ em người dân tộc thiểu số thông qua hoạt động vui chơi và giao lưu văn hóa tại trường mầm non.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, Lý luận và Lịch sử Giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp luận tiếp cận hoạt động - nhân cách, chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, cũng như kĩ thuật thiết kế bộ công cụ khảo sát và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
  • Giáo viên mầm non (đặc biệt là giáo viên công tác tại vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số): Vận dụng trực tiếp quy trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, các chủ đề trò chơi mẫu và các biện pháp phối hợp với gia đình nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi.
  • Cán bộ quản lý giáo dục mầm non tại các địa phương: Sử dụng tài liệu để xây dựng nội dung bồi dưỡng chuyên môn, kiểm tra, đánh giá chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ và chỉ đạo thực hiện Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thành những nhóm kĩ năng cụ thể nào?

Luận án xác định 03 nhóm kĩ năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng Việt cần giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, dựa trên Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi: (1) Kĩ năng nghe hiểu lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề; (2) Kĩ năng biểu đạt lời nói để giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề; và (3) Kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.

2. Địa bàn khảo sát thực trạng và địa điểm thực nghiệm sư phạm của luận án được triển khai ở đâu?

  • Khảo sát thực trạng: Triển khai tại 14 trường mầm non khu vực nông thôn miền núi phía Bắc thuộc 06 tỉnh gồm: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn (trên mẫu 314 cán bộ quản lý, giáo viên và 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi).
  • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tại Trường Mầm non Nà Pheo, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

3. Tác giả đề xuất bao nhiêu biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp và gồm những biện pháp nào?

Tác giả đề xuất hệ thống 05 biện pháp sư phạm:

  1. Xây dựng hệ thống trò chơi đóng vai theo chủ đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
  2. Phát triển hoạt động chơi theo hướng linh hoạt nhằm tăng cường giáo dục kĩ năng giao tiếp.
  3. Phát triển môi trường nhóm, lớp kích thích trẻ tích cực tham gia trải nghiệm rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
  4. Định hướng thiết kế tài liệu hướng dẫn giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.
  5. Phối hợp giữa giáo viên và cha mẹ trong giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.

4. Luận án sử dụng các quan điểm tiếp cận phương pháp luận nào để nghiên cứu vấn đề?

Luận án tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên 05 quan điểm chính: (1) Quan điểm hệ thống cấu trúc; (2) Quan điểm thực tiễn; (3) Quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách; (4) Quan điểm tiếp cận Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi; và (5) Quan điểm tiếp cận giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

5. Công cụ và kĩ thuật phân tích dữ liệu nào được sử dụng trong luận án?

Luận án sử dụng phần mềm thống kê SPSS 20.0 cùng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra thực trạng và kiểm định T-Test so sánh giữa nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) qua 3 lần thực nghiệm sư phạm.


Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Thị Thủy đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề tại khu vực miền núi phía Bắc. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng tại 14 trường mầm non thuộc 06 tỉnh miền núi, đồng thời xác lập quy trình và 05 biện pháp can thiệp sư phạm khả thi. Kết quả thực nghiệm sư phạm được kiểm định bằng SPSS 20.0 đã khẳng định hiệu quả nâng cao rõ rệt các kĩ năng nghe hiểu, biểu đạt và tuân thủ quy tắc giao tiếp của trẻ. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và đóng góp thiết thực cho công tác giáo dục mầm non tại các địa bàn khó khăn ở Việt Nam.