CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ kỹ năng sống được đưa ra bởi những nhà tâm lý học thực hành, coi đó như một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân [8]; [36]. Những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [36].
Phần lớn các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống ở giai đoạn này quan niệm về kỹ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO, chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển rộng khắp. Thông qua mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thanh thiếu niên thông qua các cách tiếp cận khác nhau. Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe (bao gồm: Chile, Colombia, Mexico, Peru, Venezuela, Uruguay, Brazil, Costa Rica và vùng Caribe), khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á (Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Nepal, Srilanka, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan, Việt Nam) [38].
Tầm quan trọng của kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống được khẳng định và nhấn mạnh trong Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người 14 (Senegan 2000). Theo đó, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp. Người ta coi kỹ năng sống là của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học.
Trong bối cảnh này, các nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống được triển khai rất rộng rãi. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục kỹ năng sống nên những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc. Cho đến này, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kỹ năng sống. Tháng 12 năm 2003 tại Bali – Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục không chính quy (Việt Nam gọi giáo dục thường xuyên) với sự tham gia của 15 nước.
Tại hội thảo này đã xác định mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống. Những nghiên cứu về kỹ năng sống đang được quan tâm ở các nước trong trên thế giới. Tuy nhiên do chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về kỹ năng sống, chưa có các tiêu chí đồng bộ cho việc hoạch định chương trình cho giáo dục, nên cần có các nghiên cứu nhằm cụ thể hóa các nội dung giáo dục phù hợp. Ở Malaysia, giáo dục kỹ năng sống được xem xét và nghiên cứu dưới ba góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình.
Ở Bangladesh, giáo dục kỹ năng sống được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai. 15 Ở Ấn Độ, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực. Các kỹ năng sống được giáo dục là các kỹ năng: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách. Như vậy, nội hàm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau, song hầu hết các nước trên thế giới (hiện nay đã có hơn 143/155 nước đưa kỹ năng sống vào nhà trường) đã đưa vào chương trình chính khóa ở cấp tiểu học và trung học, theo 3 hình thức: kỹ năng sống là một môn học riêng biệt; kỹ năng sống được tích hợp vào một môn học chính thức và kỹ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong nhà trường.
Những vấn đề liên quan đến nội dung của giáo dục kỹ năng sống được đề cập tương đối có hệ thống trong Chương trình giáo dục của UNICEF vào những năm 90 của thế kỷ XX. Trong Chương trình “giáo dục những giá trị sống”, 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ đã được đề cập [38]. Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong thời điểm đó đã cố gắng thống nhất quan niệm chung về kỹ năng sống, cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống ở giai đoạn này đều tiếp cận quan niệm kỹ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội [4], [6].
Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kỹ năng sống nêu trên [36]. Những năm gần đây, Tổ chức UNESCO tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Dự án chia làm 2 giai đoạn: 16 Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống. Câu hỏi được đặt ra cho mỗi nước là: Quan niệm về kỹ năng sống như thế nào? Phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? Rà soát xem kết quả thực hiện các chương trình kỹ năng sống như thế nào? Việt Nam tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này thông qua ấn phẩm “Life skills Mapping in Việt Nam”.
Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra (có tiến hành thử nghiệm). Nhìn chung, mục đích giáo dục kỹ năng sống cho con người nói chung và cho học sinh nói riêng đã được các nước, các tổ chức trên thế giới đặc biệt quan tâm, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng ý nghĩa cuối cùng là hướng đến phát triển và hoàn thiện hơn nhân cách của một con người. Các nghiên cứu ở Việt Nam Từ xa xưa người Việt Nam đã biết quan tâm đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống như: học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên. Vấn đề giáo dục kỹ anwng sống ở Việt Nam đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà.
Ở Việt Nam, mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được qui định tại điều 27 - Luật Giáo dục 2005 như sau: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [31]. 17 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định: “…Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân…” Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [4]; [6], tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam. Những nghiên cứu được thực hiện theo các hướng chính sau: - Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống: Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo [1]; Phạm Minh Hạc [19]; Phạm Văn Nhân [27]; Nguyễn Thanh Bình [3]; [4]; [5, Tr 18,19]; [6] cũng nhất quán về mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống là: “nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
- Xác định những vấn đề lý luận cốt lõi về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống: Theo hướng nghiên cứu này có một số công trình nghiên cứu như: kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên [28]; Một số cơ sở tâm lý của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và những nghiên cứu của một số tác giả khác như: Nguyễn Thị Hồng Hạnh [20]; Lương Quốc Hùng [21]; Cao Hồng Nam [26]; Nguyễn Đức Thạc [32]; Phan Thanh Vân [38, tr 12]. 18 - Nghiên cứu so sánh giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam với một số quốc gia khác: Một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh như đề tài: “Thực trạng phạm tội của học sinh- sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức [24].