CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TONG QUAN CAC NGHIEN CUU VE QUAN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIAO DUC 1. Ngoài nước Trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đang phát triển cũng như các nước có nền kinh tế phát triển đều nhắn mạnh chính sách phát triển dựa vào GD&ĐT, dựa vào khoa học và công nghệ. Có thể nói, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và truyền thống văn hoá giáo dục mà mỗi nước có những đặc điểm về cơ cầu hệ thống, loại hình đào tạo, phân chia thời gian các bậc học, yêu cầu chất lượng của người học ở các cấp học khác nhau.
Nhưng nhìn chung, hệ thống GD các nước đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hoá và xu hướng hội nhập GD&DT và kinh tế xã hội giữa các nước, khu vực và toàn thể giới. Ở Indonexia: Ngoài hệ thống GD nhà trường, họ còn coi trọng các loại hình GD ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh nghiệp; các trường Đại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng và mọi tầng lớp xã hội. Tại Thái Lan: Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hoá các loại hình dao tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy đề thích ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình CNH đất nước. Đối với Trung Qui - Chính phủ nước này đặt ra chiến lược: Làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và GD.
Với phương châm GD phải thực hiện ba điều hướng tới đó là: Giáo dục phải hướng tới hiện đại hoá, hướng tới thế giới, hướng tới tương lai. Chính sách phát triển GD của Trung Quốc hiện nay có thẻ khái quát: Đầu tư chỉ phí cao cho GD phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD phải được xem như đầu tư phát triển cho sản xuất. Phát triển GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực đủ chuẩn, phát triển GD theo hoàn cảnh địa phương. Đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc QLGD và đầu tư cho GD.
Nhật Bản: Đã đạt được những thành tựu "khổng lồ" về mặt kinh tế - khoa học công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lực của toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT. Từ năm 1971, Nhật Bản đã thành lập Bộ Giáo dục và thành lập hệ thống GD mới. Hệ thống GD đã đề ra chính sách: Đối với các trường Tiểu học bắt buộc thì sự "bình đẳng" là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng là cao nhất.
Quan điểm này không những xoá bỏ sự bắt bình đẳng. trong xã hội về GD, mà còn tạo ra sự phát triển tiềm năng của con người. Điểm qua tình hình GD một số nước trong khu vực để thấy rằng, các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới đã có sự nhận thức tương đồng. về giáo dục, coi giáo dục là con đường để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ.
Trong nước Van dé XHHGD cing đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD như nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Xã hội hoá giáo. dục nhận thức và hành động”. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Banh, Thái Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực.
tiễn công tác XHHGD. Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD như: Luận văn của tác giả Phạm Thuý Hiền với đề tài: “vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự nghiệp phát triển giáo dục”; Luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm vẻ “Biện pháp. tăng cường công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn thành phó Bắc Ninh" Những luận văn, đề tài nghiên cứu trên đã chỉ rõ giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, giáo dục dành cho mọi người, giáo dục phải vì dân, luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững.
Từ đó huy động mọi gia đình, mọi người dân, các đoàn thể trong xã hội cùng tham gia công tác XHHGD, trong đó nhà trường là trung tâm, hiệu trưởng là người đứng đầu và có vai trò rất quan trọng. Kế thừa và phát triển những luận văn của các tác giả đi trước, luận văn. này nhằm làm sáng tỏ hơn những lý luận về XHHGD ở trường THCS. Khảo sát thực trạng công tác này tại các trường THCS trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp quản lý công tác XHHGD gắn với điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Xác định vai trò của Phòng GD&ĐT trong việc quản lý công tác XHHGD trên địa bàn huyện nói chung và công tác XHHGD ở các trường THCS huyện nói riêng. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Quản lý, Quản lý Giáo dục, Quản lý nhà trường a.
Quản lý Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, từ nền văn minh mông muội, đến nền văn minh lúa nước, nền văn minh công nghiệp và hiện nay xã hội loài người đang bước vào nền văn minh trí thức thì hoạt động quản lý càng trở lên phô biến và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sống con người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tùy theo các quan điểm tiếp cận: 10 Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.P Follett (1868- 1933), đại diện của thuyết hành vi trong quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tinh tại. Bởi một vẫn đề đã được giải quyết, thì trong giải quyết đó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [26]. “Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tô chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế.bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm: “Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [23] Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. " Như vậy, quản lý là việc hiện thực hoá các mục tiêu của tổ chức theo cách có hiệu quả và hiệu suất cao, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các yêu cầu thực hiện của tô chức. b, Quản lý giáo dục Là hệ thông những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm tạo cho hệ thống giáo dục vận hành theo nguyên lý và đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
e Quân lý nhà trường Quản lý nhà trường (cơ sở giáo dục) là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Trường học là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục — dao tạo, thực hiện chức năng giáo dục cho thế hệ đang dân lớn lên. Nhà trường là tế bào cơ sở, là đối tượng quản lý của tắt cả các cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến các địa phương. Đồng thời nhà trường lại là tổ chức giáo dục có tính độc lập tương đối và tự quản của xã hội.
Do đó quản lý trường học nhất thiết phải có tính nhà nước, tính xã hội và tính sư phạm. Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường chính là xây dựng một quan hệ hợp lý giữa các hình thức công tác tập thể đối với các học sinh và giáo viên. Do con đường giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm xúc về trí tuệ và cảm xúc, do các tình huống trong đời sống nội tại, tâm hồn, đời sống tập thể trong nhà trường có sự biến đổi liên tục. Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý các quá trình giáo dục — đào tạo, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tổ chức sư phạm và các.
điều kiện khác của lao động, của giáo viên và học sinh. 12 Quản lý trực tiếp ở nhà trường bao gồm quản lý chương trình, quản lý quá trình dạy học, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo. Nhà quản lý ở mỗi loại hình nhà trường, ở mỗi bậc học sẽ phải đảm bảo Vị ốt yếu là: xác định mục tiêu quản lý của nhà trường, xác định cụ thể các mục tiêu quản lý và có các biện pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu. Các nghiên cứu về tô chức trường học đã khái quát những nhân tố cấu trúc cần quan tâm khi tổ chức nhà trường như dưới đây.
Nhóm nhân tố thứ nhất: ~ Mục tiêu giáo dục (M) chịu sự quy định của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). ~ Nội dung giáo dục hay chương trình giáo dục (N) được xác định từ mục tiêu đào tạo và thành quả của khoa học kỹ thuật, văn hóa.