CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUNG NĂNG LỰC CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chất lượng giáo dục đại học Chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm khó định nghĩa và mang tính chất tương đối. Những đối tượng khác nhau có những nhìn nhận về chất lượng ở những khía cạnh khác nhau.
Với góc độ tiếp cận mang tính toàn diện và hệ thống, Harvey và Green đã hệ thống hóa các quan niệm về chất lượng giáo dục đại học. Trên thế giới có 5 quan niệm về chất lượng giáo dục đại học: chất lượng là sự xuất sắc; chất lượng là sự hoàn hảo nhất quán; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; chất lượng được đánh giá bằng chi phí tài chính; chất lượng được phản ánh ở giá trị chuyển đổi, tạo ra giá trị gia tăng [88]. Mỗi một quan niệm về chất lượng phù hợp với những đối tượng khác nhau (nhà trường, nhà tuyển dụng, người học, gia đình người học, cơ quan quản lý nhà nước…) và mục tiêu khác nhau. Từ góc độ tiếp cận từ trách nhiệm xã hội của giáo dục đại học, Brubacher xác định chất lượng giáo dục đại học chính là kết quả sáng tạo tri thức, chuyển giao tri thức, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của quốc gia và chất lượng giáo dục đại học được hợp thành từ chất lượng của các trường đại học [73].
Trong khi đó, Frazer Malcolm quan niệm chất lượng giáo dục đại học là chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia [82]. Với góc độ cách tiếp cận từ người học, Vương Nhất Bình quan niệm chất lượng giáo dục đại học thể hiện ở việc sinh viên tốt nghiệp đại học phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn về kiến thức, kĩ năng, phẩm chất thái độ, các chỉ số thông minh, chỉ số cảm xúc. Với góc độ tiếp cận cụ thể cho quá trình đào tạo đại học, Trần Khánh Đức quan niệm chất lượng giáo dục đại học là “kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, CTĐT theo các ngành nghề cụ thể” [16, tr. Với quan niệm này, Trần Khánh Đức cho rằng chất lượng giáo dục đại học được thể hiện ở năng lực của người học sau tốt nghiệp khi tham gia thị trường lao động.
Nguyễn Đức Chính và các cộng sự (2002) đã phân tích các khái niệm chất lượng trong giáo dục đại học và đưa ra quan điểm “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hay sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, rộng, đa chiều và với những người khác nhau có những ưu tiên khác nhau khi xem 8 xét nó” [11, tr. Qua các nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học, có thể nhận thấy điểm chung là các quan niệm về chất lượng giáo dục đại học là tính phù hợp với mục đích hay đạt được các mục đích đề ra trước đó. Trong Luận án này, tác giả sử dụng khái niệm về chất lượng giáo dục đại học được xác định trong văn bản quy phạm pháp luật của Bộ GD&ĐT, theo đó “Chất lượng của cơ sở giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở giáo dục đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước” [4, tr.
Khái niệm này được Bộ GD&ĐT sử dụng làm cơ sở xây dựng để xây dựng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Khái niệm về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Khái niệm ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực thương mại và từng bước được xem là một phần của quản lý chất lượng giáo dục đại học. Khái niệm về ĐBCL không dễ định nghĩa vì nó phụ thuộc vào đối tượng và bối cảnh khác nhau. Đầu tiên, Harvey và Green (1993) đã định nghĩa “đảm bảo chất lượng là đảm bảo có các cơ chế, thủ tục và quy trình để ĐBCL được thực hiện để đảm bảo đạt được chất lượng mong muốn” [87, tr.
Tương tự, Woodhouse (1999) cho rằng ĐBCL chỉ ra việc đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu và đảm bảo yêu cầu của các bên liên quan đạt được. Do đó, Woodhouse đã định nghĩa ĐBCL là “hệ thống các chính sách, thái độ, hoạt động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng được duy trì và tăng cường” [131, tr. 9 của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng”. 37] Theo Vlasceanu và cộng sự (2007), ĐBCL là một thuật ngữ bao gồm quá trình đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng của chương trình, cơ sở giáo dục hoặc hệ thống giáo dục [128].
Len MP (2005) đã đưa ra quan điểm ĐBCL có thể liên quan đến một chương trình, một cơ sở giáo dục hay một hệ thống giáo dục đại học. ĐBCL là tất cả các quan điểm, đối tượng, hoạt động và qui trình đảm bảo rằng các tiêu chuẩn thích hợp về mặt giáo dục đang được duy trì và nâng cao trong suốt quá trình tồn tại và sử dụng. Cùng với các hoạt động kiểm soát chất lượng bên trong và bên ngoài của mỗi chương trình, ĐBCL còn là việc làm cho các tiêu chuẩn và quá trình đều được cộng đồng giáo dục và công chúng biết đến rộng rãi. [95] Như vậy, có thể xác định ĐBCL giáo dục đại học là hệ thống các chính sách, thái độ, hoạt động, thủ tục, quy trình cần thiết được xác định từ trước nhằm đảm bảo, củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục ở cả cấp cơ sở giáo dục và cấp chương trình đào tạo giúp cho các trường đại học hoàn thành sứ mạng đã tuyên bố và làm cơ sở giải trình chất lượng với xã hội.
Khái niệm về đảm bảo chất lượng giáo dục bên trong Đảm bảo chất lượng bên trong cũng được định nghĩa rất đa dạng tùy theo từng ngữ cảnh và có thể khác nhau giữa các nước và các tổ chức. UNESCO đã định nghĩa ĐBCL bên trong là “những hoạt động trong nội bộ của tổ chức nhằm giám sát và cải tiến chất lượng giáo dục đại học” [122, tr. Tổ chức INQAAHE xác định ĐBCL bên trong là 10 “quá trình với các chính sách và hệ thống được các cơ sở giáo dục sử dụng để duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục đối với hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên và giảng viên”. Harvey (2004 – 2016) xem xét ĐBCL bên trong như là một cơ chế của cơ sở giáo dục đối với việc rà soát, đánh giá chất lượng giáo dục và/ hoặc nghiên cứu và xác định hệ thống ĐBCL bên trong là “tập hợp những chính sách và hoạt động tích hợp để quản lý, thực hiện và điều chỉnh các quy trình đảm bảo chất lượng” [100, tr.
ADDA (2010) định nghĩa “trong mỗi bối cảnh cụ thể của các trường đại học, ĐBCL bên trong là toàn bộ hệ thống, nguồn lực và thông tin dành cho việc thiết lập, duy trì và cải tiến chất lượng và tiêu chuẩn giảng dạy, học tập, nghiên cứu và dịch vụ cộng đồng. Tương tự, González (2008) cho rằng ĐBCL bên trong là một hệ thống nhằm giúp trường đại học quản lý và kiểm soát các hoạt động cốt lõi liên quan đến chất lượng [dẫn theo 121]. Điểm chung của các định nghĩa trên là đều xem xét ĐBCL bên trong như một hệ thống. Theo các cách hiểu này, các trường đại học dựa vào các nguồn lực của mình để thiết lập một hệ thống nhằm quản lý các hoạt động cốt lõi liên quan đến chất lượng và ĐBCL được cải tiến một cách liên tục.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học của Việt Nam (Điều 1, khoản 27) quy định các cơ sở giáo dục phải “Xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học phù hợp với sứ mạng, mục tiêu và điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục đại học” [64]. Như vậy có thể khái quát, ĐBCL bên trong là các cơ chế, chính sách và việc sử dụng chúng để duy trì và nâng cao chất lượng nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giáo dục đại học. Khái niệm về cán bộ chuyên trách đảm bảo chất lượng Nhân sự làm việc trong hệ thống ĐBCL được chia thành nhân sự ĐBCL bên trong và nhân sự ĐBCL bên ngoài. Nhân sự ĐBCL bên trong là những người làm việc trong các cơ sở giáo dục đại học còn nhân sự ĐBCL bên ngoài làm việc trong các cơ quan ĐBCL của chính phủ hoặc các tổ chức ĐBCL bên ngoài như những tổ chức kiểm định chất lượng.
[91], [92] 11 Trong phạm vi nghiên cứu này, những người có tên trong danh sách trả lương của đơn vị chuyên trách ĐBCL trong các cơ sở giáo dục đại học được xác định là cán bộ cơ hữu và là cán bộ chuyên trách ĐBCL. Cán bộ chuyên trách ĐBCL gồm 2 nhóm: (1) nhóm cán bộ quản lý là những cá nhân giữ chức vụ là trưởng hoặc phó đơn vị chuyên trách ĐBCL và có hệ số chức vụ; (2) nhóm chuyên viên/ nhân viên là những cá nhân là nhân viên thuộc đơn vị chuyên trách ĐBCL trong các cơ sở giáo dục đại học và không có hệ số chức vụ. Khái niệm về năng lực và năng lực cán bộ chuyên trách đảm bảo chất lượng 1. Khái niệm về năng lực Năng lực là một khái niệm mang tính đa chiều và được định nghĩa khác nhau trong các bối cảnh khác nhau.
Năng lực vừa có thể nhìn nhận ở góc độ cá nhân - được gọi là năng lực cá nhân, vừa có thể nhìn nhận ở góc độ tổ chức - năng lực của tổ chức. Khi xem xét năng lực ở góc độ cá nhân, năng lực có thể được mô tả dưới dạng kiến thức, kỹ năng và khả năng nhưng cũng có thể được mô tả ở góc độ hành vi, thái độ hay động lực.