Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số 9 14 01 14) với đề tài "Phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật tại các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện tại Học viện Quản lý Giáo dục, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Phúc Châu và TS. Trần Bội Lan (bảo vệ năm 2020).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định mục tiêu giáo dục phổ thông là phát triển toàn diện người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ. Theo Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, môn Nghệ thuật (gồm phân môn Âm nhạc và Mỹ thuật) là môn học bắt buộc ở cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và là môn học tự chọn ở cấp Trung học phổ thông với thời lượng 70 tiết/năm. Nhu cầu giáo viên nghệ thuật cần bổ sung cho toàn hệ thống phổ thông ước tính khoảng 5.400 người. Đội ngũ giáo viên này chủ yếu được đào tạo tại các trường đại học có khoa hoặc mã ngành Sư phạm Nghệ thuật. Chất lượng đào tạo giáo viên nghệ thuật phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật (GVSPNT).
Tuy nhiên, đội ngũ GVSPNT tại các trường đại học còn bộc lộ nhiều bất cập về số lượng, cơ cấu, trình độ học vị, học hàm và năng lực nghề nghiệp; công tác quản lý phát triển đội ngũ còn lúng túng trước các đặc điểm nghề nghiệp và tâm lý nghệ sĩ đặc thù. Mặt khác, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về phát triển đội ngũ GVSPNT tại các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ GVSPNT tại các trường đại học, luận án đề xuất các giải pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ GVSPNT đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, nâng cao phẩm chất và năng lực nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên nghệ thuật phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu:
- Tại sao trong bối cảnh đổi mới giáo dục cần phải phát triển đội ngũ GVSPNT trong các trường đại học?
- Cơ sở khoa học nào cần được tiếp cận để chỉ ra các hoạt động phát triển đội ngũ GVSPNT tại các trường đại học?
- Hiện nay còn có các khó khăn và bất cập nào trong thực trạng phát triển đội ngũ GVSPNT tại các trường đại học và những giải pháp nào cần triển khai để tháo gỡ khó khăn, khắc phục bất cập đó?
Giả thuyết khoa học
Nếu các trường đại học triển khai có hiệu quả các giải pháp phát triển đội ngũ GVSPNT dựa trên lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và tập trung vào phát triển năng lực nghề nghiệp của GVSPNT, thì đội ngũ đó sẽ phát triển đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên nghệ thuật trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ GVSPNT trong các trường đại học.
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển đội ngũ GVSPNT của các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
- Giới hạn chuyên ngành: Giảng viên giảng dạy các ngành Sư phạm Âm nhạc (mã ngành 7140221) và Sư phạm Mỹ thuật (mã ngành 7140222) theo Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ đại học (Thông tư 24/2017/TT-BGDĐT).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 05 trường đại học đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam:
- Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
- Trường Đại học Sài Gòn
- Trường Đại học Đồng Tháp
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát thực trạng thu thập trong 05 năm học, từ năm học 2014-2015 đến năm học 2018-2019.
| Thành phần thông tin |
Nội dung xác định trong luận án |
| Học vị / Chuyên ngành |
Tiến sĩ Quản lý giáo dục (Mã số: 9 14 01 14) |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Quản lý Giáo dục |
| Chuyên ngành giảng viên |
Sư phạm Âm nhạc (7140221) và Sư phạm Mỹ thuật (7140222) |
| Khách thể khảo sát |
Cán bộ quản lý (Ban Giám hiệu, Trưởng/Phó Khoa, Phòng chức năng) và GVSPNT có thâm niên từ 5 năm trở lên tại 05 trường đại học |
| Thời gian khảo sát |
5 năm học (2014 - 2015 đến 2018 - 2019) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu đã có
Tác giả phân tích các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai trục chính:
-
Nghiên cứu về lý thuyết quản lý, phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ giảng viên:
- Nghiên cứu quốc tế: Frederick Winslow Taylor (1911) với các nguyên tắc quản lý khoa học; Leonard Nadler (1980) với các tác phẩm Developing Human Resource và Corporate Human Resource Development xác lập 3 nhóm nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực (giáo dục - đào tạo - bồi dưỡng, sử dụng, và tạo môi trường phát triển); Gary Dessler (1998) và Battu EN. Raju (2006) về quản trị nhân lực; Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich (1994) về các vấn đề cốt yếu của quản lý; Bikas C. Sanyal (1995) của UNESCO về sáng kiến quản lý trường đại học; Vương Lạc Phu và Tưởng Nguyệt Thần (2000) về khoa học lãnh đạo; Ngô Cương (2003) về đánh giá công tác tổ chức cán bộ trong trường học.
- Nghiên cứu trong nước: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, huấn luyện cán bộ; các công trình chuyên khảo của Hồ Văn Vĩnh (2003), Nguyễn Thanh (2005), Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001), Nguyễn Ngọc Quang (1989), Bùi Minh Hiền, Đặng Quốc Bảo và Vũ Ngọc Hải (2010), Phạm Đức Thành (1995), Nguyễn Vân Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2007).
- Các chương trình, đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ: Chương trình KX07-14 (1996) do Nguyễn Minh Đường chủ nhiệm; Đề tài B92.38-18 (1993) của Phạm Thành Nghị; Đề tài B96.52-11 (1997) của Trần Thị Bạch Mai; Đề tài của Cao Văn Sâm (2009); Đề tài của Nguyễn Thúy Bình (2008) tại Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
- Các luận án tiến sĩ về phát triển đội ngũ giảng viên: Nguyễn Văn Đệ (2010), Nguyễn Thị Bích Lợi (2013), Thái Huy Bảo (2014), Lại Văn Chính (2014), Nguyễn Mỹ Loan (2014), Vũ Thanh Xuân (2014), Nguyễn Bách Thắng (2015), Nguyễn Thế Dân (2016), Vũ Đức Lễ (2017).
-
Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành nghệ thuật và giảng viên sư phạm nghệ thuật:
- Luận án tiến sĩ của Vũ Dương Dũng (2016) về phát triển đội ngũ giảng viên múa; luận án của Mai Thị Thùy Hương (2016) và các bài báo khoa học (2012, 2015) về phát triển và đánh giá đội ngũ giảng viên đại học khối ngành nghệ thuật; luận án của Nguyễn Thị Thu Hằng (2017) và bài báo khoa học (2016) về giảng viên âm nhạc tại các Học viện Âm nhạc; kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc của Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (2008).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu phát triển đội ngũ giảng viên nói chung, giảng viên các trường đại học theo vùng lãnh thổ hoặc giảng viên giảng dạy nghệ thuật thuần túy (biểu diễn âm nhạc, múa, mỹ thuật ứng dụng). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật – những người vừa mang đặc điểm của nhà sư phạm vừa mang đặc điểm của người nghệ sĩ, có nhiệm vụ đào tạo giáo viên nghệ thuật cho các trường phổ thông đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông mới và Đề án 89/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Các cách tiếp cận nghiên cứu
Luận án vận dụng 05 tiếp cận khoa học:
- Tiếp cận lý thuyết phát triển nguồn nhân lực: Xem xét ở bình diện vĩ mô về các quy luật giáo dục, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân lực.
- Tiếp cận lý luận quản lý đội ngũ trong một tổ chức: Tiếp cận ở bình diện vi mô trong cơ sở giáo dục đại học.
- Tiếp cận năng lực: Xác định khung năng lực nghề nghiệp đặc thù của GVSPNT làm căn cứ khảo sát thực trạng và định hướng giải pháp phát triển.
- Tiếp cận hệ thống: Đặt mối quan hệ giữa nhà trường đại học với các trường phổ thông và các đơn vị phòng, khoa nội bộ trong trường đại học.
- Tiếp cận chức năng quản lý: Vận dụng 4 chức năng quản lý cơ bản (kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) vào toàn bộ chu trình phát triển đội ngũ.
Khái niệm và đặc điểm đặc thù của GVSPNT
- Giảng viên sư phạm nghệ thuật: Là nhà giáo được đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc hoặc Sư phạm Mỹ thuật, giảng dạy tại các trường đại học có nhiệm vụ đào tạo giáo viên nghệ thuật cho giáo dục phổ thông.
- Đặc điểm nguồn đào tạo và tuyển dụng: Tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau (các trường sư phạm của Bộ GD&ĐT, các trường văn hóa nghệ thuật của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hoặc các cơ sở thuộc Bộ Quốc phòng), dẫn tới sự không đồng đều về nghiệp vụ sư phạm.
- Đặc điểm tính cách và lối sống: Nhạy cảm với cái đẹp, yêu thích tự do cá nhân, sáng tạo, hướng nội nhưng thích biểu diễn tài năng trước công chúng, đề cao cái "tôi" nghệ thuật, không thích sự gò bó hành chính.
- Đặc điểm 5 vai trò lao động nghề nghiệp:
- Nhà sư phạm: Giảng dạy, biên soạn chương trình, giáo trình, tổ chức dạy học và đánh giá người học.
- Nhà nghiên cứu khoa học: Thực hiện đề tài khoa học giáo dục và nghệ thuật, công bố bài báo, viết học liệu, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu.
- Nhà hoạt động nghệ thuật: Sáng tác, dàn dựng, biểu diễn, triển lãm các tác phẩm âm nhạc và mỹ thuật.
- Nhà xây dựng môi trường sư phạm nghệ thuật: Xây dựng môi trường văn hóa, quy chế dân chủ, môi trường học thuật sáng tạo.
- Nhà hoạt động xã hội: Mở rộng quan hệ với các trường phổ thông, hội nghề nghiệp, cộng đồng văn hóa nghệ thuật.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và tài liệu khoa học về quản lý nguồn nhân lực.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Khảo sát bằng phiếu hỏi (Ankette): Thu thập dữ liệu định lượng về số lượng, cơ cấu, học vị, chức danh nghề nghiệp, thực trạng năng lực, phẩm chất và các hoạt động quản lý.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập ý kiến của cán bộ quản lý các cấp, giảng viên có thâm niên và các nghệ sĩ thỉnh giảng.
- Phương pháp khảo nghiệm: Đánh giá mức độ cấp thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp đề xuất.
- Phương pháp thử nghiệm: Triển khai thử nghiệm 02 nội dung giải pháp cụ thể trên thực tế.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng công cụ tin học và thống kê toán học (tính điểm trung bình cộng có trọng số, hệ số tương quan) để xử lý dữ liệu khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật tại các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực và quản lý đội ngũ trong tổ chức giáo dục đại học. Tác giả phân tích các yêu cầu đối với đội ngũ GVSPNT bắt nguồn từ bối cảnh đổi mới giáo dục:
- Yêu cầu về quy mô, số lượng giảng viên nhằm đáp ứng quy mô mở rộng đào tạo giáo viên nghệ thuật phổ thông.
- Yêu cầu về cơ cấu: Cơ cấu độ tuổi (kết hợp kinh nghiệm của giảng viên lâu năm và sức sáng tạo của giảng viên trẻ), cơ cấu giới (bảo đảm bình đẳng giới), cơ cấu ngành đào tạo (cân đối giữa Âm nhạc và Mỹ thuật), và cơ cấu học vị, học hàm theo chuẩn Nghị định số 73/2015/NĐ-CP (tỷ lệ sinh viên/giảng viên nhóm ngành nghệ thuật không quá 10; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư theo định hướng nghiên cứu hoặc ứng dụng).
- Yêu cầu về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp: Khung năng lực nghề nghiệp gồm 5 nhóm năng lực tương ứng với 5 vai trò lao động nghề nghiệp đặc thù.
- Khái quát 05 yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ: Bối cảnh kinh tế - xã hội; Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ quản lý trường đại học; Sự tự thân vận động của chính giảng viên; Mức độ đầu tư tài chính và cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật tại các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 2 trình bày kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và kết quả khảo sát thực trạng tại 05 trường đại học giai đoạn 2014-2019:
- Khái quát 05 cơ sở khảo sát: Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương; Trường ĐH Sư phạm Hà Nội; Trường ĐH Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trường ĐH Sài Gòn; Trường ĐH Đồng Tháp.
- Thực trạng đội ngũ GVSPNT:
- Số lượng và cơ cấu: Đội ngũ có sự gia tăng nhưng chưa đồng đều giữa các trường; cơ cấu thâm niên và độ tuổi có khoảng trống giữa thế hệ giảng viên lớn tuổi và giảng viên trẻ.
- Học vị và chức danh: Tỷ lệ giảng viên có học vị Tiến sĩ và học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư còn rất thấp so với yêu cầu chuẩn hóa của cơ sở giáo dục đại học; tỷ lệ đạt trình độ Thạc sĩ chiếm đa số.
- Xếp hạng chức danh nghề nghiệp: Số lượng GVSPNT hạng III và hạng II đã đủ thâm niên nhưng còn thiếu các điều kiện (chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học) để được xét thăng hạng còn chiếm tỷ lệ đáng kể.
- Phẩm chất và năng lực nghề nghiệp: Phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp được đánh giá tốt; tuy nhiên năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực hoạt động nghệ thuật đỉnh cao và năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế.
- Thực trạng các hoạt động quản lý phát triển đội ngũ:
- Quy hoạch: Chưa bám sát chiến lược dài hạn và nhu cầu thực tế của Chương trình GDPT mới.
- Tuyển dụng và sử dụng: Chưa tạo ra cơ chế cạnh tranh thực sự để thu hút nhân tài nghệ thuật có trình độ cao vào làm việc.
- Đào tạo, bồi dưỡng: Còn mang tính thụ động, thiếu các chương trình bồi dưỡng chuyên biệt về phương pháp dạy học nghệ thuật hiện đại và kỹ năng nghiên cứu khoa học.
- Đánh giá và tạo động lực: Cơ chế đánh giá còn cào bằng, chưa phản ánh đúng tính chất sáng tạo và lao động đặc thù của người nghệ sĩ - giảng viên; chế độ đãi ngộ tài chính và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghệ thuật chuyên sâu còn thiếu thốn.
- Tổng hợp nguyên nhân: Bắt nguồn từ nhận thức của cán bộ quản lý, sự thiếu đồng bộ của chính sách đãi ngộ, ngân sách đầu tư cho thiết bị nghệ thuật còn hạn chế và sự bằng lòng, thiếu tự học của một bộ phận giảng viên.
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật tại các trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Tác giả xác định 05 nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng giải pháp (tuân thủ đường lối chính sách; bảo đảm tính khoa học; bảo đảm tính hệ thống và logic; phù hợp đặc điểm người làm nghệ thuật; bảo đảm tính khả thi) và đề xuất hệ thống 06 giải pháp quản lý đồng bộ:
| STT |
Tên giải pháp |
Nội dung trọng tâm |
| 1 |
Điều chỉnh quy hoạch phát triển đội ngũ GVSPNT |
Rà soát, dự báo nhu cầu giáo viên nghệ thuật của các trường phổ thông; xây dựng lộ trình chuẩn hóa học vị, học hàm và cơ cấu bộ môn theo từng giai đoạn. |
| 2 |
Đổi mới tuyển dụng theo nguyên tắc cạnh tranh và thu hút nhân tài |
Đổi mới tiêu chí tuyển dụng, kết hợp thi tuyển thực hành năng lực nghệ thuật và năng lực sư phạm; ban hành chính sách ưu đãi thu hút nghệ sĩ, chuyên gia giỏi về trường công tác. |
| 3 |
Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp |
Tổ chức bồi dưỡng chuẩn chức danh nghề nghiệp; nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, phương pháp giảng dạy tích hợp, ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ cho GVSPNT. |
| 4 |
Đổi mới công tác đánh giá GVSPNT theo năng lực và quy hoạch |
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá dựa trên khung năng lực nghề nghiệp đặc thù; kết hợp đánh giá của cơ sở đào tạo, đồng nghiệp, sinh viên và tự đánh giá; gắn kết quả đánh giá với đãi ngộ. |
| 5 |
Tổ chức các hoạt động tạo động lực phát triển cho GVSPNT |
Cải thiện môi trường làm việc dân chủ, tôn trọng tự do sáng tạo nghệ thuật; đầu tư phòng thực hành, xưởng họa, phòng hòa nhạc; hoàn thiện quy chế khen thưởng và tôn vinh thành tích nghệ thuật. |
| 6 |
Bồi dưỡng lý luận quản lý nguồn nhân lực cho CBQL các cấp |
Nâng cao nhận thức và kỹ năng quản lý nhân sự giáo dục nghệ thuật cho Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Khoa, Phòng chức năng trong trường đại học. |
Chương 3 cũng trình bày kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi của 06 giải pháp với sự tham gia của các chuyên gia và cán bộ quản lý, cho thấy hệ số tương quan thuận chặt chẽ. Đồng thời, tác giả đã thử nghiệm 02 nội dung cụ thể:
- Thử nghiệm nội dung thứ 2 của Giải pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và chuẩn chức danh nghề nghiệp cho GVSPNT.
- Thử nghiệm nội dung thứ 2 của Giải pháp 6: Bồi dưỡng nâng cao nhận thức và nghiệp vụ quản trị nhân lực cho cán bộ quản lý cấp Khoa/Phòng.
Kết quả đo lường trước và sau thử nghiệm cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về số lượng giảng viên hoàn thành chứng chỉ bồi dưỡng, gia tăng sản phẩm khoa học công nghệ và sự thay đổi tích cực trong nhận thức của cán bộ quản lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ GVSPNT trong các trường đại học dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết phát triển nguồn nhân lực, lý luận quản lý đội ngũ trong tổ chức và tiếp cận năng lực.
- Xây dựng khung năng lực nghề nghiệp đặc thù của GVSPNT gồm 05 cấu phần: Năng lực sư phạm, Năng lực nghiên cứu khoa học, Năng lực hoạt động nghệ thuật, Năng lực phát triển môi trường sư phạm nghệ thuật và Năng lực hoạt động xã hội.
- Xác lập chu trình quản lý phát triển đội ngũ GVSPNT phù hợp với đặc điểm tâm lý, tính cách nghệ sĩ và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng số lượng, cơ cấu độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, chức danh nghề nghiệp và năng lực của đội ngũ GVSPNT tại 05 trường đại học đại diện cho 3 miền giai đoạn 2014-2019.
- Chỉ rõ các điểm nghẽn trong công tác quy hoạch, tuyển dụng, bồi dưỡng, đánh giá và đãi ngộ giảng viên nghệ thuật tại các cơ sở đào tạo giáo viên hiện nay.
- Đề xuất hệ thống 06 giải pháp quản lý khả thi, có mối quan hệ biện chứng; kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm thực tế chứng minh tính hiệu quả của các giải pháp trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung vào 05 trường đại học công lập đào tạo hai mã ngành Sư phạm Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật; dữ liệu phản ánh giai đoạn chuẩn bị thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới (2014-2019).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu đến tất cả các cơ sở đào tạo giáo viên nghệ thuật trên cả nước (bao gồm cả khối ngoài công lập và các trường cao đẳng có đào tạo giáo viên nghệ thuật); nghiên cứu tác động thực tế của việc thực hiện Đề án 89/QĐ-TTg đến chuyển dịch cơ cấu học vị tiến sĩ của giảng viên khối nghệ thuật trong giai đoạn 2020-2030.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:
- Cán bộ quản lý các trường đại học: Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Khoa Nghệ thuật, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Đào tạo có thể vận dụng trực tiếp 06 giải pháp để rà soát quy hoạch, cải tiến quy trình tuyển dụng, thiết kế chương trình bồi dưỡng và đổi mới công tác đánh giá GVSPNT.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ VHTTDL): Cung cấp căn cứ thực tiễn để rà soát các quy định về chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên, tiêu chuẩn phân tầng xếp hạng cơ sở giáo dục đại học đối với khối văn hóa - nghệ thuật.
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết, bộ công cụ khảo sát thực trạng và quy trình thiết kế, khảo nghiệm, thử nghiệm giải pháp quản lý giáo dục.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung năng lực nghề nghiệp của giảng viên sư phạm nghệ thuật trong luận án gồm những yếu tố nào?
Khung năng lực nghề nghiệp của GVSPNT được luận án xác lập dựa trên 05 vai trò lao động nghề nghiệp:
- Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm: Xây dựng chương trình, kế hoạch bài dạy, tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập.
- Năng lực nghiên cứu khoa học: Thực hiện đề tài khoa học giáo dục/nghệ thuật, biên soạn học liệu, công bố bài báo khoa học.
- Năng lực hoạt động nghệ thuật: Sáng tác tác phẩm âm nhạc/mỹ thuật, biểu diễn, tham gia triển lãm nghệ thuật.
- Năng lực phát triển môi trường sư phạm nghệ thuật: Xây dựng môi trường văn hóa, quy chế dân chủ, phát triển không gian sáng tạo.
- Năng lực hoạt động xã hội: Mở rộng quan hệ hợp tác với trường phổ thông, cộng đồng văn hóa nghệ thuật và các tổ chức xã hội.
2. Nhu cầu giáo viên nghệ thuật phổ thông đặt ra bài toán gì cho các trường đại học?
Theo tính toán của Bộ GD&ĐT được trích dẫn trong luận án, khi triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới với thời lượng 70 tiết/năm ở cả 3 cấp học, hệ thống giáo dục phổ thông cần bổ sung khoảng 5.400 giáo viên nghệ thuật (hơn 2.800 trường THPT cần bổ sung giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật). Điều này đòi hỏi các trường đại học vừa phải mở rộng quy mô đào tạo sinh viên sư phạm nghệ thuật, vừa phải phát triển số lượng và nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ GVSPNT để bảo đảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên không quá 10 theo đúng quy định phân tầng đại học.
3. Những hạn chế lớn nhất trong thực trạng đội ngũ GVSPNT được luận án chỉ ra là gì?
Thực trạng khảo sát giai đoạn 2014-2019 tại 05 trường đại học cho thấy:
- Cơ cấu trình độ học vị còn mất cân đối: Tỷ lệ giảng viên có học vị Tiến sĩ và chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư rất thấp.
- Nhiều giảng viên hạng III và hạng II đã đủ thâm niên công tác nhưng chưa đủ điều kiện để xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp do thiếu chứng chỉ bồi dưỡng chức danh và thiếu sản phẩm nghiên cứu khoa học.
- Năng lực nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ giảng viên nghệ thuật còn hạn chế.
4. Luận án đã tiến hành thử nghiệm những nội dung giải pháp nào?
Tác giả đã triển khai thử nghiệm 02 nội dung cụ thể trong thực tế:
- Nội dung thứ 2 của Giải pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và hỗ trợ hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho giảng viên.
- Nội dung thứ 2 của Giải pháp 6: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực lý luận quản lý nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp Phòng/Khoa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của ngành Quản lý giáo dục trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW và đổi mới giáo dục phổ thông. Bằng cách tiếp cận liên ngành giữa lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và đặc thù lao động nghệ thuật, luận án đã làm rõ khung năng lực nghề nghiệp của giảng viên sư phạm nghệ thuật và đánh giá toàn diện thực trạng tại 05 trường đại học tiêu biểu. Hệ thống 06 giải pháp quản lý được đề xuất có cơ sở khoa học vững chắc, tính ứng dụng thực tiễn cao và đã được chứng minh hiệu quả bước đầu qua khảo nghiệm, thử nghiệm. Công trình đóng góp tài liệu nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành đặc thù trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.