Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ DẠY HỌC TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH NGHỆ THUẬT THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu về dạy học và quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực 1. Các công trình nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận năng lực Ở nước ngoài, ở Mỹ từ năm 1970 giáo dục dựa trên năng lực nổi lên.
Điển hình là các nghiên cứu của Miller GE (1990), Hall, Robert E. and Jamieson (2005), Guskey (2005), Chang, C.,(2006), [83], [75], [67], [71], [76], [74], [68] cho rằng: “Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục dựa vào nội dung, kiến thức (content-based education) vào việc tích lũy kiến thức, thực hành kĩ năng chứ không hướng tới việc chứng minh khả năng đạt được, và đánh giá của giáo dục truyền thống cũng tập trung vào đo lường kiến thức thông qua các bài thi viết và nói” thì giáo dục dựa theo năng lực tập trung vào PT các NL cần thiết để người học có thể thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống. Theo Chyung, Stepich & Cox (2006) các năng lực cần PT ở người học bao gồm năng lực giải quyết vấn đề, xử lí thông tin, NL phản biện và NL học tập suốt đời. Bên cạnh đó, TCNL trong giáo dục cũng đòi hỏi đánh giá kết quả hướng tới việc đánh giá NL vận dụng kiến thức một cách hệ thống và các NL đạt được cần phải đánh giá thông qua nhiều công cụ và hình thức, mô hình, phân tích, mục tiêu để đo lường được NL trong dạy học.
Ở một góc nhìn khác, tác giả S. Việc tiêu chuẩn đo lường chú trọng vào kết quả đầu ra với kết quả này là điểm tạo ra khách quan của những NL cần thiết bới các nhà hoạch định chính sách GD& ĐT, phát triển nguồn nhân lực quan tâm nhấn mạnh. Ở Việt Nam, dạy học theo TCNL sớm được đưa vào giáo dục trong nhà trường với phương châm, lí luận phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành và GD phải gắn với LĐ sản xuất, GD nhà trường phải gắn vớí GD gia đình và XH, nhưng thực tế từ trước đến nay GD nói chung và ND, CT, SGK đến PPDH, KT ĐG vẫn nặng về tiếp cận nội dung. Những năm gần đây, vấn đề này đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn sau khi có Nghị quyết TW 2 khóa VIII, các chủ trương của Ðảng, Nhà nước chiến lược phát triển GD& ĐT về đổi mới căn bản và toàn diện GD& ĐT đã phần nào đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
Trong đó, việc đổi mới DH theo hướng PT phẩm chất, năng lực người học được chú trọng để nâng chất lượng nguồn nhân lực. Cũng từ đây, có nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đổi mới GD& ĐT theo TCNL được thực hiện. Điển hình là các tác giả Đặng Thành Hưng (2012) [28] ; Nguyễn Công Khanh (2013) [33]; Nguyễn Thị Kim Dung (2015) [13], Lê Đình Trung (2016) [52]… Ngoài ra, cũng có khá nhiều các luận án tiến sỹ nghiên cứu về vấn đề này như: Vũ Xuân Hùng (2012) [27]; Cao Văn Chính (2012) [8]; Trần Xuân Phú (2012) [42]; Nguyễn Quang Việt (2006) [58]; Nguyễn Thanh Hà (2009) [14], Hà Thanh Hương (2016) [29]… Các nghiên cứu tập trung vào làm rõ các vấn đề cơ bản sau: - Thiết kế CT DH theo hướng PTNL người học là hệ thống các NL cần hình thành trong CĐR; - Sự cần thiết chuyển từ DH theo tiếp cận nội dung sang DH theo hướng PTNL người học; - Tổ chức HĐDH theo hướng PTNL người học; - Đánh giá kết quả DH theo hướng PTNL người học; - Các biện pháp đổi mới DH, đổi mới CT ĐT… theo TCNL phù hợp với từng cơ sở giáo dục cụ thể. Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực Ở nước ngoài, từ góc độ quản lý, tổng quan tư liệu trên bình diện quốc tế cho thấy GD dựa vào NL là các chuẩn năng lực đã được xem như một quan điểm có tính toàn cầu (Argüelles & Gonczi 2000), một tiến trình để QL nâng cao chất lượng GD (Anema & McCoy, 2010), bản hướng dẫn cho việc đạt kết quả xuất sắc của người học, (Bradley, Seidman, & Painchaud - 2012) và hơn thế nữa, là cách cứu nền GD ĐH [63]; [62]; [66].
van der Velden, R. Tác giả Pimentel Bótas, P. (2008a), Van der Velden, G. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quản lý dạy học theo TCNL và những nội dung có liên quan cũng được một số tác giả nghiên cứu và thể hiện qua các bài báo, các sách chuyên khảo, các luận án tiến sỹ….
Điển hình là các nghiên cứu của tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015), Nguyễn Xuân Thức (2015), Trần Kiểm (2016)…. Các nội dung chính được các tác giả đề cập đến bao gồm: - Mô hình NL, khung NL trong giáo dục - Quản lý phát triển chương trình nhà trường theo TCNL - Quản lý HĐ DH của GV theo TCNL [18], [34], [50]. Ta ̣i Hội thảo khoa học về “Quản lý DH chuyển từ tiếp cận nội dung sang TCNL, vấn đề và giải pháp” diễn ra tại Hà Nội, các chuyên gia, nhà khoa học, QLGD cho rằng, cần phải thay đổi ngay PP, KT ĐG người học theo hướng chú trọng PTNL luan an 10 người học, nhất là NL tư duy sáng tạo, vận dụng giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Việc dạy học theo hướng TCNL người học chính là chìa khóa để đổi mới giáo dục.
Để thực hiện được điều này, việc đầu tiên là cần phải xác định được năng lực thực tế phù hợp với từng người học, hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đủ sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế [41]. Có một số luận án tiến sỹ nghiên cứu về QLDH theo TCNL như Nguyễn Ngọc Hùng (2006) “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo TCNL thực hiện cho SV sư phạm kỹ thuật” [23]; Mai Công Khanh (2009) “Quản lý dạy học ở trường dự bị đại học dân tộc theo yêu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ cho miền núi hiện nay” [32]; Hà Thanh Hương (2016) “Quản lý đào tạo giáo viên nghệ thuật trình độ đại học theo tiếp cận năng lực thực hiện trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay” [29]; Phạm Thị Thúy Hồng (2016) “Quản lý đào tạo nghề tại các trường cao đẳng nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện” [22]; Phạm Xuân Hùng (2016) “Phát triển đội ngũ GV quản lý giáo dục theo tiếp cận năng lực” [26] Các nội dung chính được đề cập và giải quyết trong các luận án tiến sỹ bao gồm: - Làm rõ khung lí thuyết liên quan đến quản lý đào tạo, QLDH theo các cách tiếp cận khác nhau như TCNL, tiếp cận TQM… ở các trường đại học; - Phân tích thực trạng quản lý đào tạo, quản lý DH ở các trường, cơ sở đào tạo; - Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo, QLDH theo TCNL, tiếp cận TQM ở các trường ĐH 1. Các công trình nghiên cứu về DH môn tiếng Anh và QLDH môn tiếng Anh theo TCNL. Nghiên cứu về DH môn tiếng Anh theo TCNL Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế và trở thành môn học ở nhiều trường đại học của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Chính vì thế, cũng có khá nhiều các nghiên cứu có liên quan. Đó là các nghiên cứu của Lindsay, C & Knight, D. (2006) Learning and Teaching English đã luan an 11 nhấn mạnh đến mức độ quan trọng của việc giúp học sinh nói và sử dụng tiếng Anh. Nhóm tác giả cũng giải mã chi tiết các nguyên nhân học sinh không sử dụng tiếng Anh trong lớp và đó là tiền đề để các tác giả đề xuất biện pháp phù hợp giúp học sinh phát huy khả năng nói tiếng Anh trong lớp học [79].
Nghiên cứu của Emily L. Laura-Mihaela Muresa (2013) của Viện hàn lâm Bucharest trong bài báo Làm thế nào để thúc đẩy khả năng đa ngôn ngữ chất lượng cao trong một thế giới nghiên cứu do tiếng Anh thống trị? Thách thức và cơ hội đã làm rõ những vấn đề trong GD đại học tập trung vào việc nâng cao chất lượng viết luận văn của SV và năng lực học tập của họ nói chung có sự thống trị rõ ràng của tiếng Anh, vì nguồn tài liệu trong các tạp chí nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất, cũng như trong các bối cảnh giao tiếp quốc tế khác nhau trong giới học thuật, sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ chính. Tác giả cũng đưa ra những ví dụ minh họa, tham khảo từ những bối cảnh học thuật khác nhau đối với hệ thống đảm bảo chất lượng trong giáo dục ngôn ngữ và đối với Hội đồng các dự án của Châu Âu [84]. Ở Việt Nam, tiếng Anh cũng sớm là một trong những ngoại ngữ chính được giảng dạy ở các cơ sở giáo dục vì thế có khá nhiều nghiên cứu có liên quan.
Đó là các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (1997; 2020); Lê Văn Canh (1998); Thanh Tùng (2005); Vũ Thị Phương Anh (2006); Hoàng Văn Vân (2010); Đỗ Thị Xuân Dung và Cái Ngọc Duy Anh (2010); Dương Thu Mai, Phạm Thị Thu Hà, và Thái Hà Lâm Thủy (2012); Phạm Hoài Anh và Tạ Thanh Bình (2016); Đinh Thị Phương Hoa (2017); ….Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề cơ bản sau: (i) Vai trò của tiếng Anh đối với người học Việt Nam nói chung và HS, SV nói riêng: Các nghiên cứu đều khẳng định trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập, tiếng Anh luôn là ngôn ngữ quốc tế quan trọng cần với trang bị cho người học.Với bài viết “Ngoại ngữ - một thành tố của chiến lược phát triển nền giáo dục quốc gia”, tác giả Ngô Văn Quyết đã khẳng định vai trò quan trọng của ngoại ngữ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước. Ngoại ngữ phải được xem là một thành tố trong chiến luan an 12 lược phát triển giáo dục quốc gia. Tác giả cũng khẳng định việc cần thiết phải hoàn thiện chương trình ngoại ngữ trong các trường đại học [43]. Trịnh Văn Minh “Dạy - học ngoại ngữ trong cơ chế thị trường”, khẳng định ngoại ngữ phương tiện nâng cao dân trí, mở rộng vốn văn hóa, điều kiện cần cho giao lưu về các mặt và cho quá trình hội nhập quốc tế [39].
Thanh Tùng trong bài viết “Cần xem lại việc đào tạo ngoại ngữ trong hơn 40 năm nay” đã nêu ra vai trò, vị trí của môn ngoại ngữ trong suốt chặng đường dài từ 1945 đến nay.