phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 c ương và 6 tiết. 13 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÝ TƢỞNG THẨM MỸ VÀ HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 1. Lý tƣởng thẩm mỹ 1. Một số quan điểm về lý tưởng thẩm mỹ trong lịch sử mỹ học Mỹ học là khoa học nghiên cứu đời sống thẩm mỹ của con người, của xã hội loài người.
Ngay từ thời xã hội nô lệ cổ đại đã có n ng mầm mống của việc nghiên cứu mỹ học. Nh ng n à tư tưởng cổ đại nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm t ẩm mỹ thực tiễn tạo ra nh ng cơ sở đầu tiên trong lĩn vực này. Ngay trong chính cuộc sống sinh hoạt của xã hội loài người cũng xuất hiện vấn đề mỹ học, nó phản ánh tính chủ quan của con người vào sự vật hiện tượng hay còn gọi là mỹ cảm thẩm mỹ. Từ đó dần dần phát triển lên thành ý thức thẩm mỹ, nghệ thuật… Mỹ học là khoa học nghiên cứu các quan hệ thẩm mỹ và hoạt động thẩm mỹ của con người, nhằm khám phá, phát hiện ra nh ng giá trị thẩm mỹ trên cơ sở quy luật của cái đẹp, trong đó có ng ệ thuật là giá trị cao nhất.
Mỹ học nghiên cứu ý thức thẩm mỹ của con người, nh ng cấp độ hoạt động của ý thức thẩm mỹ của con người với tư các là c ủ thể thẩm mỹ bao gồm: đặc điểm của ý thức thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ. Mỹ học nghiên cứu các phạm trù mỹ học n ư nh ng công cụ tư duy n ằm nhận thức, đán giá các hiện tượng thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật. N ư vậy, mỹ học là khoa học gắn với đời sống hiện thực của con người. Nhiệm vụ của mỹ học không chỉ k ái quát c o con người biết đâu là cái đẹp, cái đẹp là gì mà còn đưa ra một hình mẫu, một địn ướng hay nói cách khác là ướng chúng ta đến một lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp.
Chính lý 14 z tưởng thẩm mỹ đó đã góp p ần quan trọng vào việc địn ướng t ẩm mỹ cho đông đảo quần c úng n ân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nghiên cứu mỹ học không phải hoạt động mới mẻ mà đã có cả một lịch sử lâu dài từ thời Hy Lạp cổ đại đến nay. Ngay cả vấn đề về lý tưởng thẩm mỹ cũng được nh ng nhà triết học cổ đại Hy Lạp nghiên cứu từ khá sớm. Ngay từ thời cổ đại, các triết gia nổi tiếng Hy Lạp đã bắt đầu hình thành nh ng tư tưởng có giá trị về lý tưởng.
Người đầu tiên có nh ng tư tưởng về vấn đề này là Platôn (427 - 347 TCN). Ông là nhà triết học và mỹ học duy tâm Hy Lạp cổ đại, là học trò của Xôcrát. Platôn cũng là một trong nh ng nhà triết học có tư tưởng đối địch sâu sắc nhất đối với Đêmôcrít và chủ ng ĩa duy vật. Lênin đán giá ông là một trong số các nhà triết học quan trọng đã tạo ra hẳn một đường ướng xuyên suốt trong lịch sử triết học.
Triết học của ông là triết học duy tâm, đường ướng triết học duy tâm điển hìn này tương p ản với đường ướng triết học duy vật điển hình của Đêmôcrít. Platôn được biết đến không chỉ với vai trò của một nhà triết học, một nhà chính trị mà còn là một nhà mỹ học với nh ng tư tưởng tiến bộ và có ý ng ĩa. Ông có n iều tác phẩm, trong các tác phẩm đều ít nhiều đề cập đến mỹ học và nghệ thuật n ưng lại mang đậm mầu sắc của siêu hình học. Các tác phẩm mỹ học chủ yếu của ông n ư: Hippiat Anh, Bữa tiệc, Timê, Ion, Đối thoại, hà nước lý tưởng,.
Do ản ưởng của chế độ xã hội lúc bấy giờ Platôn đã đưa nhà triết học lên vị trí àng đầu, còn nh ng người dân lao động k ông được ông đề cao, họ nằm ở hàng cuối cùng trong bậc thang xã hội. Điều này do hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ quy định, c ưa có sự t ay đổi nào mang tính tổng thể. Chính bởi thế, khi nh ng nghệ sĩ có tâm ồn nhạy cảm, xót t ương cảnh ngộ của nhân dân mà đưa ra n ng bức tranh lột tả hiện thực xã hội đều bị ông kịch liệt phản đối và đòi đưa ọ ra khỏi n à nước lý tưởng của ông. Lý tưởng thẩm mỹ 15 z về con người đẹp mà Platon xây dựng đó là ìn ảnh một thầy tu uyên bác phát ngôn cho lý trí của thần t án.
Lúc đó yếu tố thần quyền được đề cao ơn n iều các yếu tố hiện thực xã hội. Cũng do ản ưởng của chế độ xã hội lúc bấy giờ mà mặc dù Platon coi t ường nghệ thuật phản ánh cuộc sống, “ng ệ sĩ k ông có tri t ức thật trước sự vật được miêu tả, sáng tạo nghệ thuật chủ yếu dựa vào linh cảm”[22, tr. Platon một mặt cho rằng nghệ thuật có hại với tôn giáo do nó đả kích thần, khêu gợi tình dục, một mặt ông phản đối tính dân chủ trong nghệ thuật Hy Lạp cổ đại. Trong n à nước này, nghệ thuật phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ, n à nước chỉ cho phép một số loại hình nghệ thuật tồn tại, đó là n ng loại hình góp phần tạo ra tín dũng cảm và chân thực của người công dân biết phục tùng.
Với quan điểm bảo thủ, Platon đòi gạt tất cả các n à t ơ ra k ỏi n à nước lý tưởng của ông vì t ơ ca có ại cho sự nghiệp giáo dục của ông. Sự ra đời của các quan niệm về lý tưởng thẩm mỹ ở giai đoạn Hy Lạp cổ đại đã đặt nền móng c o sự p át triển của các quan niệm về lý tưởng t ẩm mỹ ở các giai đoạn sau. Đến giai đoạn cổ điển Đức, mỹ học đã có sự phát triển ơn với đại diện là I. Kant (1724 - 1804) là nhà triết học Đức có nhiều đóng góp lớn trong nền triết học nhân loại.
Ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp triết học. Ba tác phẩm thể hiện toàn bộ hệ thống triết học của Kant là Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788) và Phê phán năng lực phán đoán (1790). Trong ba tác phẩm đó Phê phán năng lực phán đoán là tác phẩm thể hiện nh ng quan điểm của Kant về mỹ học. Đây cũng được đán giá là tác phẩm hoàn thiện về hệ thống triết học Kant, là “viên đá đỉn vòm” của toà nhà triết học Kant.
Là một n à mỹ ọc duy tâm c ủ quan, Kant cho rằng, lý tưởng thẩm mỹ chỉ có ở cá nhân: “mẫu điển ìn cao n ất, cái ìn mẫu nguyên t ủy của 16 z sở t íc là một niệm đơn t uần mà mỗi người p ải tạo ra trong c ín mìn và dựa t eo đó mà p ải ìn t àn p án đoán của mìn về tất cả n ng gì dù đó là đối tượng của sở t íc , một điển ìn của sự p ê p án về sở t íc ay cả bản t ân sở t íc p ổ biến của mọi người… Lý tưởng là biểu tượng về một cá t ể n ư là u t ể tương ứng trọn vẹn với một niệm… Lý tưởng của cái đẹp, một lý tưởng dù ta k ông sở u được song ta luôn nỗ lực để tạo nó trong ta” [25, tr. Kant khẳng định, lý tưởng thẩm mỹ không tồn tại n ư một lý tưởng chung của xã hội mà mỗi người sẽ có một lý tưởng riêng mà theo họ là đúng. Lý tưởng thẩm mỹ mang tính cộng đồng, dân tộc đối với Kant là không hề có. Lý tưởng thẩm mỹ cá n ân được Kant chú trọng và quan tâm.
Điều đó xuất phát từ nền tảng “vật tự nó” của ông. Khái niệm “vật tự nó” của Kant về p ương diện nhận thức là bản chất của sự vật khách quan. Nó tồn tại không phụ thuộc vào nh ng hình thức nhận thức logic của con người. Con người không bao giờ nhận thức được “vật tự nó”.
N ư vậy, lý tưởng thẩm mỹ là cái con người chỉ dám đưa ra n ng p án đoán, n ng suy luận về nó chứ không có một “k oa ọc” ay nói các k ác là k ông đưa ra tín c ín xác tuyệt đối về nó. Quá trìn con người đưa ra n ng lý tưởng thẩm mỹ là quá trình nhận thức về “vật tự nó”. Tiếp theo sự phát triển của mỹ học Kant, Hegel cũng có n ng tư tưởng xuất sắc về lý tưởng thẩm mỹ. Hegel (1770 - 1831) là nhà triết học cổ điển Đức nổi tiếng, mỹ học của ông là đỉnh cao của mỹ học duy tâm cổ điển Đức và là đỉnh cao của mỹ học duy tâm trước Mác.
Hegel đã có n ưng tư tưởng về xã hội mang ý ng ĩa rộng ơn, đã c ú ý ơn đến mặt xã hội, lịch sử của lý tưởng thẩm mỹ, tuy nhiên ông lại tuyệt đối hóa vai trò của lý tưởng thẩm mỹ. Ông đi tìm lý tưởng thẩm mỹ ở “ý niệm tuyệt đối”, t eo ông, lý tưởng thẩm mỹ chính là sự hoàn thiện hoàn mỹ của 17 z tinh thần trong triết học chứ không phải tín đến mối tương quan xã ội. Tư tưởng mỹ học của ông vừa mang yếu tố duy tâm vừa mang yếu tố biện chứng. Ông thấy được sự thống nhất gi a lý trí và tình cảm, nội dung và hình thức.
Phạm trù lý tưởng của Hegel là cái hoàn thiện, cái đáng mong muốn thể hiện khát vọng vươn tới chân lý của con người. Lý tưởng n ư vậy luôn mang hình thức cái đẹp đặc thù, mặc dù nó đã là sự k ái quát có tín vượt trước. Hegel k ông xét lý tưởng n ư một phạm trù độc lập mà xét lý tưởng trong quan hệ với cái đẹp hoàn mỹ của nghệ thuật. Có thể thấy rằng ông c ú ý đến nghệ thuật lý tưởng.
Tsernysevski (1828 - 1889) là nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga. Thời đại của ông là thời đại phát triển cao của lý luận nghệ thuật duy vật trước Mác. Nhiều quan niệm của các nhà dân chủ cách mạng Nga về đối tượng, chức năng của nghệ thuật đã có sự tiếp cận với mỹ học mácxít.