Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài “Yếu tố truyền thống trong nghệ thuật sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018” do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Đức thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Anh Vân, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật (mã số: 9210101), bảo vệ năm 2021.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Nghệ thuật Sắp đặt (Installation Art) – một hình thức nghệ thuật khởi nguồn từ phong trào Hậu hiện đại phương Tây vào những thập niên 1960 - 1970 – đã được tiếp nhận vào Việt Nam từ đầu thập niên 1990 trong bối cảnh công cuộc Đổi mới, giao lưu và hội nhập quốc tế. Trong tiến trình tiếp biến, các nghệ sĩ Việt Nam đã kết hợp linh hoạt giữa hình thức không gian ba chiều mới mẻ với các yếu tố truyền thống bản địa, hình thành một hiện tượng nghệ thuật nổi bật. Mặc dù Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định và giải thưởng trong nước cũng như quốc tế, song cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về sự hiện diện của các yếu tố truyền thống trong loại hình này. Thực tiễn sáng tác và tiếp nhận của công chúng phát triển nhanh, trong khi công tác lý luận mỹ thuật trong nước còn tụt hậu, thiếu vắng trong giáo trình đào tạo chuyên ngành. Việc nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết khoảng trống lý luận nêu trên, bổ sung cơ sở dữ liệu học thuật cho mỹ thuật học Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích yếu tố truyền thống trong các tác phẩm sắp đặt tiêu biểu, từ đó làm rõ biểu hiện, xác định đặc điểm, giá trị nghệ thuật và nhận định xu hướng tiếp cận truyền thống của Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Phân tích, tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan; xác lập cơ sở lý luận, bao gồm hệ thống khái niệm, thuật ngữ và các lý thuyết nghiên cứu chuyên ngành.
  2. Khảo sát, phân tích biểu hiện của yếu tố truyền thống qua hai phương diện: hình thức và chủ đề của tác phẩm Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018.
  3. Luận bàn kết quả nghiên cứu nhằm chỉ rõ các đặc điểm nghệ thuật, giá trị văn hóa nghệ thuật và xu hướng tiếp cận yếu tố truyền thống trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là yếu tố truyền thống biểu hiện qua hình thức và chủ đề của các tác phẩm sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018.

Về phạm vi không gian, luận án tiến hành khảo sát chọn lọc tổng số 69 tác phẩm sắp đặt có yếu tố truyền thống tiêu biểu của 30 nghệ sĩ Việt Nam trên cả ba miền đất nước:

Khu vực địa lý Số lượng tác phẩm Số lượng tác giả
Miền Bắc 48 tác phẩm 19 tác giả
Miền Trung 10 tác phẩm 05 tác giả
Miền Nam 11 tác phẩm 06 tác giả
Tổng cộng 69 tác phẩm 30 tác giả

Về phạm vi thời gian, giai đoạn 1995 - 2018 được lựa chọn dựa trên hai cột mốc thực tiễn:

  • Điểm xuất phát (1995): Gắn với dấu mốc triển lãm sắp đặt Đất qua lửa (1994, tại 29 Hàng Bài, Hà Nội) của nghệ sĩ Nguyễn Bảo Toàn. Đây là tác phẩm sắp đặt gây tiếng vang trong giới chuyên môn, sử dụng đa phương tiện (tượng gốm, gỗ, giấy bồi, âm thanh), mở đầu khuynh hướng khai thác văn hóa, nghi lễ và tâm linh dân gian.
  • Điểm kết thúc (2018): Gắn với sự kiện “Dự án nghệ thuật đương đại tại đường hầm nhà Quốc hội”. Dự án quy tụ nghệ sĩ cả ba miền với quy mô 1.500 m² tác phẩm sắp đặt trải dài suốt 500 m đường hầm, khai thác sâu sắc chủ đề di sản truyền thống, được thực hiện bằng nguồn kinh phí xã hội hóa nghệ thuật với sự chấp thuận của Văn phòng Chính phủ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:

  • Câu hỏi 1: Làm thế nào để nhận biết yếu tố truyền thống trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018 thông qua hình thức và chủ đề tác phẩm?
  • Câu hỏi 2: Việc sử dụng các yếu tố truyền thống trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam tạo ra các đặc điểm và giá trị nghệ thuật nào?
  • Câu hỏi 3: Xu hướng tiếp cận yếu tố truyền thống trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ như thế nào?

Tương ứng với đó là 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018 biểu hiện rõ yếu tố truyền thống của người Việt qua hình thức (tạo hình, không gian, chất liệu bản địa) và chủ đề (tín ngưỡng, ký ức, phản biện xã hội).
  • Giả thuyết 2: Yếu tố truyền thống tạo ra các đặc điểm nghệ thuật mang tính tượng trưng, ước lệ, tính biểu cảm dân gian và tính xung đột giữa truyền thống với hiện đại; đồng thời kiến tạo các giá trị nghệ thuật về đa dạng hóa biểu đạt, mở rộng ranh giới thẩm mỹ và định vị Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam.
  • Giả thuyết 3: Trở về khai thác truyền thống để tìm kiếm sự khác biệt và bản sắc là xu hướng tất yếu mang tính toàn cầu của Nghệ thuật Sắp đặt trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài, chia thành hai nhóm chính:

Tình hình nghiên cứu trong nước:

  • Tác giả Kraevskaia Natalia (2005) với tham luận “Tiềm năng của một hình thức nghệ thuật mới - Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam” tại Hội thảo khoa học Vấn đề hình thức và chất liệu trong nghệ thuật đương đại (do Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Viện Mỹ thuật tổ chức). Bài viết đánh giá Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam thời kỳ đầu gây hiệu quả thị giác mạnh nhưng còn nặng tính mô phỏng, tham chiếu, thiếu tính tượng trưng sâu sắc, thiếu yếu tố sân khấu và tính tương tác, đồng thời “chú ý quá nhiều đến tính Việt Nam”.
  • Tác giả Bùi Như Hương và Trần Hậu Tuấn (trong các công trình mỹ thuật) nhận định đa số tác phẩm sắp đặt Việt Nam hướng về tình cảm nông thôn, không gian văn hóa, tín ngưỡng truyền thống với thái độ trân trọng và duy mỹ.
  • Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Viện Mỹ thuật (2008) xuất bản kỷ yếu hội thảo Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, tập hợp 17 tham luận và 6 ý kiến thảo luận về nghệ thuật mới và bản sắc văn hóa nhưng chưa đi sâu vào thành tố truyền thống trong sắp đặt.
  • Tác giả Đỗ Kỳ Huy (2011) với chuyên đề Khái quát về tình hình các hoạt động mỹ thuật mang tính chất cộng đồng tại Huế (2000 - 2010), cung cấp dữ liệu về các triển lãm, festival mỹ thuật tại miền Trung.
  • Tác giả Vũ Huy Thông (2012) với đề tài cấp cơ sở Sắp đặt Việt Nam trong mối liên hệ với một số yếu tố thẩm mỹ truyền thống, xác định mỹ thuật truyền thống gắn liền với tính tượng trưng, ước lệ và tính hài hòa, dung dị, tuy nhiên chưa phân loại cụ thể các thành tố tác động đến hình thức và nội dung.
  • Tác giả Lê Văn Sửu chủ biên (2013) cuốn Kết nối nghệ thuật với di sản, nổi bật có bài viết của nhà nghiên cứu Iola Lenzi (Singapore) phân tích việc nghệ sĩ Đông Nam Á và Việt Nam (Vũ Dân Tân, Trương Tân, Nguyễn Minh Thành, Nguyễn Văn Cường, Bùi Công Khánh) tìm lại giá trị trong di sản bản địa với tinh thần phê phán.
  • Tác giả Bùi Như Hương và Phạm Trung (2013) trong cuốn Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990 - 2010 điểm lại các mốc sự kiện, phân tích bối cảnh xã hội tác động đến nghệ thuật, song việc phân loại sắp đặt thành “trong nhà” và “ngoài trời” còn bộc lộ hạn chế về mặt lý luận.
  • Tác giả Bùi Thị Thanh Mai (2014) với đề tài Mỹ thuật hậu đổi mới trong mối liên hệ với những vấn đề xã hội Việt Nam đương đại tập trung vào chủ đề phản ánh xã hội (đô thị hóa, môi trường, giới tính).
  • Tác giả Trần Hoàng Ngân (2018) với đề tài Khuynh hướng tiếp cận di sản truyền thống qua một số dự án nghệ thuật tại Việt Nam từ 2010 đến 2016, khẳng định xu hướng tôn vinh di sản qua nghệ thuật đương đại mang tính toàn cầu.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

  • Jean-François Lyotard (1979, bản dịch tiếng Việt của Ngân Xuyên năm 2008) với công trình Hoàn cảnh hậu hiện đại, chỉ ra sự khủng hoảng của các “đại tự sự”, sự hoài nghi mang tính bản chất và việc xóa nhòa ranh giới giữa nghệ thuật với đời sống thường nhật.
  • Caroline Turner chủ biên (1994) cuốn Truyền thống và thay đổi (Bùi Như Hương dịch), phản ánh cách tiếp cận truyền thống của nghệ thuật đương đại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nổi bật với bài viết của Apinan Poshyananda về nghệ thuật Thái Lan (“shock of the old”), Geeta Kapur về Ấn Độ và triển lãm của Nhật Bản “Lối đi Nhật, phương tiện Tây” (1989).
  • Caroline Turner chủ biên (2001) cuốn Art and Social Change, trong đó tác giả Jen Webb trích dẫn quan điểm của nghệ sĩ Đặng Thị Khuê về việc sàng lọc ảnh hưởng phương Tây để lưu giữ cốt cách, tinh thần truyền thống bản địa qua tác phẩm Một tâm hồn.
  • Xu Gan (2002) với cuốn Nghệ thuật Sắp đặt (nhóm dịch Trần Hậu Yên Thế, Hà Thị Tường Thu, Phạm Trung Nghĩa), phân tích 9 đặc trưng cơ bản của nghệ thuật sắp đặt, khẳng định tính cởi mở, tự do, mơ hồ và việc biến vật thể bình thường thành nghệ thuật.
  • Gill Perry và Paul Wood (2004) với Themes in Contemporary Art, đặc biệt là chương 5 của Kristine Stiles đã định nghĩa và phân biệt rõ hai loại hình: Nghệ thuật Sắp đặt định trường (Site Specific Installation) và Nghệ thuật Sắp đặt phi định trường (Non Site Specific Installation).
  • Richard Appignanesi và Chris Garratt (1995/2006) với Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại; Wang Shaoqiang (2010) với chuyên khảo hình ảnh Installation Art; cùng các nghiên cứu của Queensland Art Gallery (1999), Melissa Chiu và Benjamin Genocchio (2010), Jean Robertson và Craig McDaniel (2010), Jonathan Harris (2011).

Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình đi trước phần lớn chỉ khảo sát nghệ thuật đương đại nói chung, tiếp cận đơn lẻ theo từng tác giả hoặc dừng lại ở mức độ tổng thuật sự kiện. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về các biểu hiện cụ thể của yếu tố truyền thống (tạo hình, không gian di sản, chất liệu bản địa, tín ngưỡng, ký ức, phản biện xã hội) trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018. Luận án xác lập khung lý thuyết liên ngành nhằm lấp đầy khoảng trống này, làm rõ đặc điểm và giá trị nghệ thuật của hiện tượng tiếp biến nói trên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng hệ thống khái niệm, lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chuyên biệt như sau:

1. Khái niệm và thuật ngữ nền tảng:

  • Yếu tố truyền thống (YTTT): Được xác định là những thành tố vật chất và tinh thần do người Việt sáng tạo, tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong Nghệ thuật Sắp đặt, YTTT biểu hiện qua tạo hình, trang trí dân gian, không gian di sản, chất liệu bản địa, cũng như các chủ đề về tín ngưỡng, ký ức và phản biện xã hội, góp phần chuyển tải thông điệp văn hóa trong hình thức biểu đạt mới.
  • Nghệ thuật Sắp đặt (Installation Art): Là loại hình nghệ thuật thị giác hóa cảm nhận nội tâm con người, tổ hợp hiện vật trong không gian và thời gian thực nhằm biểu đạt ý niệm; người tương tác là một bộ phận cấu thành tác phẩm.
  • Phân loại theo không gian:
    • Nghệ thuật Sắp đặt định trường (Site Specific Installation Art): Tác phẩm gắn chặt với không gian di sản - bối cảnh tạo nghĩa cốt lõi (văn hóa, lịch sử, kiến trúc cổ). Khi di dời khỏi không gian này, ý nghĩa của tác phẩm sẽ biến đổi.
    • Nghệ thuật Sắp đặt phi định trường (Non Site Specific Installation Art): Tác phẩm không phụ thuộc vào không gian di sản, chỉ đặt trong không gian trưng bày thông thường; khi thay đổi địa điểm trưng bày, ý nghĩa nội dung cơ bản không thay đổi.
  • Hệ thống thuật ngữ mỹ thuật học: Luận án chuẩn hóa cách hiểu đối với các thuật ngữ: Tạo hình (Plastic), Bố cục (Composition), Khối (Volume), Họa tiết (Motif), Trang trí (Decorative), Cách điệu (Stylization), Tượng trưng (Symbolized), Ước lệ (Represented), Dân gian (Folk).

2. Lý thuyết nghiên cứu:

  • Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation): Vận dụng luận điểm của Melville Jean Herskovits (1938), Claude Lévi-Strauss về tính đa dạng văn hóa, cùng nghiên cứu của Nguyễn Thừa Hỷ (2014) và Nguyễn Văn Kim (2018). Luận án xem Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam là kết quả tiếp biến giữa yếu tố ngoại sinh (hình thức nghệ thuật hậu hiện đại quốc tế) và yếu tố nội sinh (văn hóa, mỹ cảm truyền thống bản địa) qua các dạng thức: phản tiếp biến, đề kháng văn hóa, tiếp biến mềm dẻo, hỗn dung văn hóa và lai tạo văn hóa.
  • Luận điểm Ký hiệu học (Semiotic): Tiếp thu lý thuyết của Charles Sanders Peirce, lý thuyết ký hiệu học văn hóa của Iury Lotman (tiếp cận tác phẩm nghệ thuật như một văn bản mang cấu trúc hai lần mã hóa giữa cái biểu đạt - signifiant và cái được biểu đạt - signifié), ký hiệu học sân khấu của Erika Fischer-Lichte và khung phân tích cấu trúc tinh thần nghệ thuật của Vũ Hiệp (trường thị giác, trường văn hóa, trường nơi chốn, trường biểu tượng). Phương pháp này giúp giải mã các lớp ký hiệu “nén” từ đồ vật đời thường và hiện vật cổ truyền trong tác phẩm sắp đặt.

3. Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Hệ thống hóa các nguồn sử liệu mỹ thuật, tư liệu lý luận để phân tích các thành tố truyền thống, đối chiếu và quy nạp các nhận định khoa học.
  • Phương pháp điền dã: Tác giả trực tiếp tham dự, khảo sát thực tế, đo đạc kích thước, chụp ảnh tư liệu tại các Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, Festival Mỹ thuật trẻ, Triển lãm điêu khắc toàn quốc, các gallery tư nhân và trung tâm văn hóa nước ngoài tại Hà Nội (chứng kiến quá trình thực hiện các triển lãm như “Quá khứ trong hiện tại”, “Nhận diện và kết nối”, “Đối thoại với đình làng”). Năm 2017, tác giả tiến hành điền dã khảo sát các hoạt động nghệ thuật đương đại tại Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê 69 tác phẩm; so sánh mối quan hệ giữa yếu tố truyền thống với tổ hợp đồ vật, giữa đồ vật với không gian trưng bày, và đối chiếu sự xung đột giữa truyền thống với hiện đại.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn sâu các nhà nghiên cứu nghệ thuật hàng đầu và trao đổi trực tiếp với các nghệ sĩ thực hành sắp đặt thông qua bộ câu hỏi chuyên biệt (toàn văn ghi nhận tại phần phụ lục).
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức giữa Mỹ thuật học với Văn hóa học, Lịch sử, Tâm lý học, Văn học, Sân khấu và Âm nhạc để xem xét đa chiều đối tượng nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT SẮP ĐẶT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2018

Chương 1 (41 trang) tập trung giải quyết ba nội dung cốt lõi: tổng quan tài liệu trong và ngoài nước, xây dựng khung cơ sở lý thuyết, và phác thảo tiến trình du nhập, vận động của Nghệ thuật Sắp đặt tại Việt Nam.

Tác giả khái lược lịch sử Nghệ thuật Sắp đặt quốc tế khởi nguồn từ những thể nghiệm đồ vật làm sẵn (ready-made) của Marcel Duchamp (Giá đựng chai - 1914, Bồn tiểu ký tên R. Mutt - 1917), qua trào lưu Dada, trào lưu Fluxus của George Maciunas, Nam June Paik, John Cage, đến việc Dan Flavin chính thức dùng thuật ngữ Installation năm 1967 và Jean-François Lyotard công bố lý thuyết Hoàn cảnh hậu hiện đại năm 1979.

Về tiến trình du nhập vào Việt Nam từ thập niên 1990, tác giả chỉ ra các tiền đề lịch sử - xã hội: chính sách Đổi mới từ Đại hội Đảng VI (1986), việc dỡ bỏ cấm vận (1994), sự kiện kết nối mạng internet quốc tế (1997), cùng sự tài trợ ban đầu của các quỹ văn hóa quốc tế như Quỹ Sida (Thụy Điển), Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ CDF (Đan Mạch) và các không gian như Viện Goethe, Hội đồng Anh, Trung tâm Văn hóa Pháp (L'Espace), Nhà Sàn Đức, Mai Bùi Gallery, Blue Art Space. Nhà nước từng bước thừa nhận loại hình này qua các kỳ Festival Mỹ thuật trẻ toàn quốc (từ lần thứ nhất năm 2007 đến các lần tiếp theo năm 2011, 2014, 2017, 2020).

Luận án phân chia lực lượng sáng tác giai đoạn 1995 - 2018 thành hai thế hệ nghệ sĩ:

  • Thế hệ thứ nhất (trước năm 2000): Các nghệ sĩ khởi xướng, thể nghiệm tự phát như Vũ Dân Tân, Đặng Thị Khuê, Trần Trung Tín, Nguyễn Minh Thành, Trương Tân, Nguyễn Bảo Toàn, Trần Lương, Trần Anh Quân, Nguyễn Văn Tiến, Trần Hậu Yên Thế, Nguyễn Văn Cường.
  • Thế hệ thứ hai (từ sau năm 2000 đến 2018): Được đào tạo bài bản, tiếp cận lý thuyết bài bản qua các chuyên gia quốc tế, gồm: Lê Trần Hậu Anh, Lưu Chí Hiếu, Nguyễn Minh Phước, Nguyễn Phương Linh, Oanh Phi Phi, Vương Văn Thạo, Nguyễn Trí Mạnh, Trần Trọng Vũ, Đinh Công Đạt, Vũ Đức Toàn, Nguyễn Ngọc Lâm, Khổng Đỗ Tuyền, Lê Ngọc Thanh - Lê Đức Hải, Đinh Khắc Thịnh, Phan Lê Chung, Phan Thảo Nguyên, Trương Công Tùng, Bùi Công Khánh, Nguyễn Minh Phương.

Chương 2: BIỂU HIỆN YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG TRONG NGHỆ THUẬT SẮP ĐẶT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2018

Chương 2 (52 trang) phân tích thực chứng 69 tác phẩm được lựa chọn, làm rõ phương thức hiện diện của yếu tố truyền thống trên hai trục chính:

1. Biểu hiện qua hình thức tác phẩm:

  • Tạo hình và trang trí dân gian: Nghệ sĩ đưa vào tác phẩm các đường nét, mảng khối chắt lọc từ nghệ thuật dân gian truyền thống như hoa văn trống đồng Đông Sơn, chạm khắc đình làng, họa tiết gốm cổ, tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, hình tượng con rối nước, mặt nạ tuồng, chèo, hoặc kết cấu kiến trúc rường, xà cổ truyền.
  • Không gian di sản (bối cảnh tạo nghĩa): Luận án phân tích việc đưa tác phẩm sắp đặt tương tác trực tiếp với các di tích lịch sử, không gian kiến trúc cổ như đình làng, đền chùa, miếu mạo, thành quách hoặc các phế tích kiến trúc (sắp đặt định trường). Không gian di sản không đơn thuần là nơi đặt để hiện vật mà đóng vai trò là thành phần tạo nghĩa trung tâm, kích hoạt không gian ký ức và chiều sâu tâm linh của tác phẩm.
  • Chất liệu bản địa: Nghệ sĩ ưu tiên khai thác các chất liệu gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp truyền thống của người Việt như tre, nứa, mây, rơm rạ, đất sét, gốm, gỗ mộc, vải đũi, lụa, giấy dó, giấy bồi, và vàng mã. Các chất liệu này tự thân mang tải cảm giác thẩm mỹ mộc mạc, gần gũi và khơi gợi căn tính văn hóa bản địa.

2. Biểu hiện qua chủ đề tác phẩm:

  • Chủ đề văn hóa, tín ngưỡng: Thể hiện các quan niệm tâm linh, tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ nông nghiệp, hội làng, cũng như triết lý nhân sinh phương Đông về luân hồi, âm dương ngũ hành.
  • Chủ đề ký ức: Tái hiện ký ức cá nhân và ký ức tập thể về chiến tranh, thời kỳ bao cấp, nếp sống làng quê thanh bình đang dần biến đổi trước làn sóng hiện đại hóa.
  • Chủ đề phản biện xã hội: Khai thác yếu tố truyền thống để đối thoại, chất vấn những biến đổi tiêu cực trong đời sống đương đại như sự mai một bản sắc văn hóa, tốc độ đô thị hóa ồ ạt, sự xâm lấn của văn hóa tiêu thụ, vấn đề ô nhiễm môi trường và sự đảo lộn giá trị đạo đức truyền thống.

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM SẮP ĐẶT VIỆT NAM CÓ YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG GIAI ĐOẠN 1995 - 2018

Chương 3 (41 trang) khái quát hóa kết quả khảo sát thực tiễn để định vị các đặc trưng thẩm mỹ và giá trị văn hóa:

1. Đặc điểm nghệ thuật:

  • Tính tượng trưng, ước lệ: Tiếp nối đặc trưng thẩm mỹ truyền thống dân tộc, sắp đặt Việt Nam không nhằm miêu tả hiện thực một cách trần trụi mà sử dụng biểu tượng, ẩn dụ nghệ thuật (như hình tượng hạt lúa, cái nón, chiếc guốc, cánh buồm, bát hương) để diễn đạt những ý niệm trừu tượng về nhân sinh, vũ trụ và cội nguồn.
  • Tính biểu cảm dân gian: Tác phẩm toát lên mỹ cảm mộc mạc, hồn hậu, hóm hỉnh nhưng thâm thúy của tâm thức dân gian; các khối hình, màu sắc bản địa gợi cảm giác thân thuộc, kéo gần khoảng cách tiếp nhận giữa nghệ thuật đương đại và công chúng thưởng thức.
  • Tính xung đột giữa truyền thống với hiện đại: Thể hiện qua sự tương phản gay gắt giữa các cặp phạm trù: chất liệu tự nhiên bản địa đặt cạnh vật liệu công nghiệp phế thải; không gian kiến trúc di sản cổ kính đối diện với nhịp sống đô thị gấp gáp; tinh thần hoài niệm đối kháng với văn hóa thị trường xô bồ.

2. Giá trị nghệ thuật:

  • Đa dạng hóa biểu đạt qua hình thức và chủ đề: Phá vỡ thế độc tôn của hội họa giá vẽ và điêu khắc tượng khối cổ điển, tạo nên phương thức tạo hình không gian đa chiều, liên kết nhiều phương tiện biểu đạt (âm thanh, ánh sáng, hình ảnh chuyển động).
  • Mở rộng ranh giới thẩm mỹ: Đưa những vật liệu đời thường, phế liệu, đồ thủ công dân dã trở thành đối tượng thẩm mỹ; thay đổi phương thức tiếp nhận từ việc ngắm nhìn thụ động sang tương tác, trải nghiệm đa giác quan.
  • Định vị Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam: Yếu tố truyền thống chính là căn cước giúp nghệ thuật sắp đặt Việt Nam khẳng định bản sắc riêng biệt, tránh bị hòa lẫn vào dòng chảy nghệ thuật đương đại quốc tế, tạo lập tiếng nói độc lập tại các triển lãm khu vực và toàn cầu.
  • Luận bàn về vai trò, giá trị và xu hướng tiếp cận truyền thống: Khẳng định xu hướng quay về với di sản văn hóa dân tộc không phải là sự sao chép thụ động mà là quá trình tái sinh di sản trong bối cảnh mới, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận: Xác lập khái niệm khoa học và giới thuyết nội hàm của “Yếu tố truyền thống trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam”. Luận án xây dựng khung phân tích kết hợp lý thuyết Tiếp biến văn hóa và Ký hiệu học văn hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách tụt hậu giữa lý luận mỹ thuật và thực tiễn sáng tác đương đại tại Việt Nam.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Khảo sát, thống kê và phân tích có hệ thống 69 tác phẩm sắp đặt tiêu biểu của 30 tác giả trên cả ba miền đất nước giai đoạn 1995 - 2018.
    • Làm sáng tỏ các biểu hiện cụ thể của yếu tố truyền thống qua hai kênh hình thức (tạo hình, không gian di sản, chất liệu bản địa) và chủ đề (văn hóa tín ngưỡng, ký ức, phản biện xã hội).
    • Đúc kết ba đặc điểm nghệ thuật nổi bật: tính tượng trưng, ước lệ; tính biểu cảm dân gian; tính xung đột giữa truyền thống với hiện đại.
    • Khẳng định ba giá trị cốt lõi: đa dạng biểu đạt hình thức/chủ đề; mở rộng ranh giới thẩm mỹ; định vị bản sắc Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
  3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Đưa kiến thức lý thuyết và thực hành nghệ thuật đương đại, bao gồm Nghệ thuật Sắp đặt, vào hệ thống chương trình giảng dạy chính khóa tại các cơ sở đào tạo mỹ thuật chuyên nghiệp trong nước.
    • Khuyến khích nghệ sĩ tiếp tục nghiên cứu, khai thác di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc với tư duy phản biện, tránh khai thác bề mặt, minh họa nông cạn hoặc lạm dụng chất liệu bản địa một cách khiên cưỡng.
    • Cơ quan quản lý văn hóa nhà nước cần cởi mở hơn trong việc cấp phép, tạo cơ chế hỗ trợ không gian trưng bày và nguồn lực xã hội hóa cho các dự án nghệ thuật đương đại tiếp cận di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu được công bố trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng phát triển đề tài được ghi nhận:

  • Về phạm vi khảo sát: Mẫu nghiên cứu thực tế tập trung vào 69 tác phẩm của 30 nghệ sĩ Việt Nam; trong đó địa bàn miền Bắc chiếm tỷ trọng lớn (48 tác phẩm của 19 tác giả), khu vực miền Trung (10 tác phẩm/5 tác giả) và miền Nam (11 tác phẩm/6 tác giả) số lượng khảo sát còn hạn chế.
  • Về đối tượng tiếp cận: Luận án chỉ tập trung vào các nghệ sĩ quốc tịch Việt Nam hoạt động trong nước có tác phẩm biểu hiện rõ nét yếu tố truyền thống, chưa thể bao quát toàn bộ các nghệ sĩ Việt kiều hoặc nghệ sĩ quốc tế có thực hành nghệ thuật sắp đặt tại Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu các tác phẩm sắp đặt giai đoạn sau năm 2018; đi sâu phân tích sự giao thoa giữa yếu tố truyền thống với công nghệ số, truyền thông đa phương tiện mới (Digital Installation, Interactive Art); thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn đối với:

  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu nghệ thuật: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Sư phạm mỹ thuật, Hội họa, Điêu khắc tại các trường đại học mỹ thuật và viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trên cả nước.
  • Giới nghệ sĩ thực hành: Cung cấp cơ sở lý luận, hệ thống phân loại và bài học kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước trong việc kết hợp chất liệu bản địa và biểu tượng truyền thống vào tác phẩm đương đại.
  • Nhà quản lý văn hóa và giám tuyển (curator): Hỗ trợ công tác thẩm định, tổ chức triển lãm, xây dựng chính sách bảo tồn di sản gắn với hoạt động nghệ thuật công cộng và không gian kiến trúc lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu tác phẩm và phân bổ theo các vùng miền như thế nào?
Luận án khảo sát tổng số 69 tác phẩm sắp đặt tiêu biểu của 30 tác giả Việt Nam. Trong đó, khu vực miền Bắc gồm 48 tác phẩm của 19 tác giả; khu vực miền Trung gồm 10 tác phẩm của 5 tác giả; khu vực miền Nam gồm 11 tác phẩm của 6 tác giả.

2. Hai mốc thời gian 1995 và 2018 được luận án xác lập dựa trên cơ sở sự kiện nghệ thuật nào?
Năm 1995 được chọn làm điểm khởi đầu vì gắn với tiếng vang của triển lãm sắp đặt Đất qua lửa (1994, 29 Hàng Bài, Hà Nội) của nghệ sĩ Nguyễn Bảo Toàn, tác phẩm mở đầu cho xu hướng khai thác nghi lễ dân gian, tâm linh và văn hóa truyền thống. Năm 2018 được chọn làm điểm kết thúc vì gắn với “Dự án nghệ thuật đương đại tại đường hầm nhà Quốc hội” có quy mô 1.500 m² tác phẩm sắp đặt suốt 500 m đường hầm, hội tụ nghệ sĩ ba miền với chủ đề di sản.

3. Luận án phân loại Nghệ thuật Sắp đặt thành những hình thức nào dựa trên không gian?
Dựa trên đặc trưng không gian di sản - bối cảnh tạo nghĩa, luận án phân chia Nghệ thuật Sắp đặt thành hai loại: Nghệ thuật Sắp đặt định trường (Site Specific Installation Art - không gian di sản là thành phần tạo nghĩa cốt lõi, di dời sẽ đổi nghĩa) và Nghệ thuật Sắp đặt phi định trường (Non Site Specific Installation Art - tác phẩm độc lập, không phụ thuộc vào không gian di sản, trưng bày ở không gian thông thường).

4. Ba đặc điểm nghệ thuật nổi bật của tác phẩm sắp đặt Việt Nam có yếu tố truyền thống được luận án chỉ ra là gì?
Ba đặc điểm nghệ thuật nổi bật gồm: Tính tượng trưng, ước lệ (sử dụng ẩn dụ, quy ước biểu đạt thay vì mô tả trần trụi); Tính biểu cảm dân gian (mang mỹ cảm mộc mạc, gần gũi, hồn hậu của văn hóa dân gian); và Tính xung đột giữa truyền thống với hiện đại (đối kháng giữa chất liệu tự nhiên với công nghiệp, giữa hoài niệm ký ức với văn hóa thị trường).

5. Luận án sử dụng những khung lý thuyết và luận điểm nền tảng nào để phân tích đối tượng nghiên cứu?
Luận án kết hợp hai hệ thống lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) để phân tích sự tương tác giữa yếu tố nội sinh (truyền thống) và ngoại sinh (hình thức nghệ thuật hậu hiện đại phương Tây); và Luận điểm Ký hiệu học văn hóa (Semiotic - Lotman, Fischer-Lichte, Vũ Hiệp) nhằm giải mã văn bản tác phẩm thông qua mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của các đồ vật, hiện vật truyền thống.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Đức là công trình khoa học chuyên khảo, nghiên cứu hệ thống và toàn diện về sự hiện diện của các yếu tố truyền thống trong Nghệ thuật Sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995 - 2018. Bằng việc kết hợp liên ngành giữa lý thuyết Tiếp biến văn hóa và Ký hiệu học, luận án đã làm rõ các biểu hiện của truyền thống qua hình thức và chủ đề, xác lập các đặc điểm thẩm mỹ và khẳng định giá trị định vị bản sắc của loại hình nghệ thuật này trong tiến trình hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung khoảng trống lý luận mỹ thuật trong nước mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị ứng dụng cho công tác đào tạo, nghiên cứu và thực hành nghệ thuật đương đại tại Việt Nam.