CHƯƠNG 1 c 11 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA THỂ LOẠI KỊCH VÀ HIỆN TƯỢNG LƯU QUANG VŨ ĐỐI VỚI SÂN KHẤU KỊCH VIỆT NAM 1. Một số giới thuyết về thể loại kịch và sự xuất hiện, phát triển của kịch ở Việt Nam 1. Một số giới thuyết về thể loại kịch 1.1 Khái niệm về thể loại Theo Từ điển thuật ngữ văn học ở cấp độ loại hình thì kịch là một trong ba phương thức tồn tại cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học.
Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột mang tính nhân loại. Những xung đột ấy được thể hiện cụ thể qua hành động kịch và ngôn ngữ kịch trong một cốt truyện chặt chẽ giàu kịch tính trong những tình huống độc đáo. Căn cứ vào nội dung kịch, có thể chia thành các thể loại: hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch.
Cũng có thể căn cứ vào nội dung của các đề tài mà chia kịch thành: kịch cổ điển, kịch dân gian, kịch thần thoại, kịch hiện đại. Cũng có cách phân chia khác dựa theo chính thời gian biểu diễn chia thành: kịch ngắn, kịch dài. Không nên đồng nhất kịch và kịch bản văn học. Nói đến kịch là nói đến một loại hình của nghệ thuật sân khấu mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn, hóa trang, ánh sáng, âm thanh.
Kịch bản văn học chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch. Kịch bản văn học là tác phẩm văn học, có đầy đủ đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ. Còn sân khấu thuộc nghệ thuật biểu diễn. c 12 Kịch bản văn học viết ra là để biểu diễn nên cũng đậm chất sân khấu.
Vì thế khi xem xét kịch bản văn học một mặt phải xem nó như một tác phẩm nghệ thuật, mặt khác không thể tách rời nó khỏi nghệ thuật sân khấu mới thấy hết được những đặc trưng của nó. Nhìn dưới cấp độ như một thể loại, kịch ra đời vào khoảng nửa sau thế kỉ XVIII với các sáng tác của các nhà văn khai sáng ở Pháp và Đức như là G.Letsing, Boomacse, Didoro…. Một số đặc trưng của thể loại kịch - Xung đột kịch: Kịch bắt đầu từ xung đột. Pha đê ép cho rằng: "Xung đột là cơ sở của kịch".
Hiểu theo nghĩa hẹp, xung đột trong tác phẩm kịch là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch. Có thể có rất nhiều loại xung đột khác nhau. Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ để thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng.Do tính chất sân khấu quy định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác. Vì vậy, có thể nói xung đột là đặc điểm cơ bản của kịch.
Hégel cho rằng "tình thế giàu xung đột là đối tượng ưu tiên của nghệ thuật kịch". Xung đột kịch cần phải phản ánh những mâu thuẫn cơ bản của xã hội và thời đại, nói cách khác là luôn mang tính lịch sử cụ thể. Ở những thời đại khác nhau có những xung đột khác nhau. Ở thời cổ đại, đó là sự xung đột giữa thế giới quan thần linh, tư tưởng định mệnh với khát vọng làm chủ thiên nhiên, làm c 13 chủ bản thân của con người.
Trong xã hội nô lệ, đó là xung đột giữa những người nô lệ muốn đấu tranh giành lại tự do với bọn chủ nô. Trong xã hội phong kiến, đó là xung đột giữa một bên là uy quyền của vua chúa, quan lại với người dân bị áp bức và đòi được giải phóng. Trong thời kì hiện đại, các xung đột thường xoay quanh những vấn đề cách mạng và phản cách mạng, cái thiện, cái ác, cái mới, cái cũ, cái tốt, cái xấu. Xung đột kịch do tính chất sân khấu quy định đồng thời xung đột làm cho kịch có tính sân khấu.
Sức hấp dẫn của một vở kịch là ở chỗ nhà văn phải phát hiện, nêu ra và giải quyết các xung đột lớn nhỏ trong vở kịch. Các yếu tố khác của kịch phải góp phần tô đậm xung đột và dẫn đến một kết cục sâu sắc, gần gũi với những vấn đề của cuộc sống. Xét một vài đặc điểm về xung đột kịch như vậy, có thể nói xung đột là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong kịch. “Giá trị tư tưởng nghệ thuật của vở kịch phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng đắn xung đột kịch và xung đột kịch chỉ có thể trở thành cơ sở tốt đẹp của vở kịch khi nó nảy sinh ra như một sự phản ánh độc đáo những mâu thuẫn điển hình của cuộc sống” [16,tr.20] - Hành động kịch: Hành động kịch cũng là một đặc trưng nổi bật của kịch bởi kịch là một thể loại mang lại sự nhận thức thực tại thông qua yếu tố hành động.
Xung đột kịch được triển khai thông qua các hành động. Hành động là cơ sở cơ bản của một tác phẩm kịch. Tuy nhiên không thể hiểu đơn giản hành động kịch chỉ là lời nói cử chỉ, dáng điệu (ngôn ngữ cơ thể) của diễn viên. Hành động kịch chính là sự thể hiện trực tiếp nội dung của xung động kịch.
Hành động kịch chính là cốt truyện được tổ chức một cách thống nhất và chặt chẽ trong một khuôn khổ hoàn chỉnh của một tác phẩm nghệ thuật. Kịch có cốt truyện chặt chẽ vừa đủ không có chỗ cho những vụn vặt, trữ tình ngoại c 14 đề,…. Vì vậy, hành động kịch thường được tổ chức theo quan hệ nhân quả chặt chẽ. Hành động này là kết quả của hành động trước và là nguyên nhân của hành động sau.
Hành động kịch gắn chặt với nhân vật kịch, là trục chính để thể hiện tính cách nhân vật. Hành động kịch thể hiện ý thức cũng như cảm xúc của nhân vật qua đó thể hiên xung đột kịch. Hành động kịch có thể được chia thành hành động bên trong và hành động bên ngoài. Hành động bên trong là những diễn biến tâm lí, những suy nghĩ, tâm trạng thể hiện rõ nét đời sống nội tâm của nhân vật.
Hành động bên ngoài là những điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười… của nhân vật kịch (do các diễn viên thể hiện trên sân khấu). - Nhân vật kịch Một vở kịch được diễn trên sân khấu, chỉ có nhân vật đi lại, nói năng, hoạt động. Trong kịch bản văn học, ngoài nhân vật, còn có những lời chỉ dẫn về cảnh vật, con người thường được in nghiêng được tác giả viết nhằm gợi ý cho sự dàn dựng của nhà đạo diễn chứ không phải cho người xem. Vì vậy, có thể nói trên sân khấu chỉ có nhân vật hành động.
Tất cả mọi sự việc trong vở kịch đều được bộc lộ thông qua nhân vật kịch. Ðiểm khác nhau cơ bản giữa tác phẩm kịch với tác phẩm tự sự và kí là kịch không có nhân vật người kể chuyện. Maxim Gorki cho rằng: "Kịch, bi kịch, hài kịch là thể loại khó nhất trong văn học, khó là vì một vở kịch đòi hỏi mỗi nhân vật trong vở kịch phải thể hiện tính cách bằng lời nói và hành động không có lời mách bảo, gợi ý của tác giả. Các nhân vật kịch được hình thành là do lời lẽ của họ và tuyệt đối chỉ do những lời lẽ ấy mà thôi nghĩa là tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không phải bằng ngôn ngữ miêu tả".
c 15 Tác phẩm kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm tự sự và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều mặt. Do đó, trong kịch tính cách nhân vật được tạo ấn tượng nổi bật và xác định nhằm gây ấn tượng mãnh liệt và sâu sắc cho khán giả. Hiển nhiên sự nổi bật, tập trung đó không có nghĩa là đơn giản, một chiều. Xoay quanh một nét tính cách khác, vừa liên đới, vừa biến thái làm cho gương mặt của nhân vật sinh động và đa dạng hơn.
Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắt buộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt. Đặc trưng này cũng được thể hiện trong các loại văn học khác nhưng rõ ràng được thể hiện tập trung và phổ biến nhất trong kịch. Chính từ đặc điểm này, nhiều tác giả kịch đã dùng biện pháp lưỡng hóa nhân vật nhằm biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm của chính nhân vật đó.
- Ngôn ngữ kịch: Một phương tiện rất quan trọng để bộc lộ hành động kịch là ngôn ngữ. Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện nên không có ngôn ngữ người kể chuyện. Vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có ngôn ngữ nhân vật. Có thể nói đến 3 dạng ngôn ngữ nhân vật trong kịch: đối thoại, độc thoại và bàng thoại.
Ðối thoại là lời các nhân vật nói với nhau, là lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật. Ðây là dạng ngôn ngữ phổ biến nhất trong kịch. “Đối thoại là thể chất và linh hồn kịch. Kịch là văn bản đối thoại, hoặc bản viết thành lời, hoặc lời nói viết thành vă bản” [13,tr.
Các lời đối thoại trong kịch phải sắc sảo, sinh động và có tác dụng hỗ trợ tương với nhau nhằm thể hiện kịch tính, “thúc đẩy hành động, là những chuyển động, gặp gỡ nhau, bị cản trở, va chạm nhau, tạo thành xung đột kịch” [13,tr.323] c 16 Ðộc thoại là lời nhân vật tự nói với chính mình, tự giãi bày tâm tư tình cảm của mình. Ðây là biện pháp quan trọng nhất nhằm biểu hiện nội tâm nhân vật nhưng không phải là biện pháp duy nhất. Ðể biểu hiện nội tâm, bên cạnh độc thoại, người ta có thể thay thế bằng những phút yên lặng, những tiếng đế.