Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam trong tiến trình hơn 100 năm hình thành và phát triển đã ghi nhận bước chuyển mình mang tính bước ngoặt từ dấu mốc lịch sử năm 1986 khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Sự chuyển dịch từ cơ chế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã mở ra không gian sáng tạo tự do, đa dạng hóa thị hiếu nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh những xung đột gay gắt về mặt giá trị thẩm mỹ. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã một cách khoa học bản chất, quy luật vận động và các biểu hiện của cái đẹp trong nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1986 đến năm 2014 dưới lăng kính mỹ học triết học.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về cái đẹp trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là mỹ học Mác - Lênin, từ đó đánh giá thực trạng sáng tác, thưởng thức và thẩm định cái đẹp nhiếp ảnh đương đại. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian văn hóa nghệ thuật Việt Nam trong khung thời gian từ năm 1986 đến năm 2014, có sự liên hệ so sánh chặt chẽ với các trào lưu nhiếp ảnh quốc tế hiện đại. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình được khẳng định qua việc khảo cứu hơn 50 nguồn tài liệu chuyên khảo chuyên sâu và phân tích thực tiễn các kỳ liên hoan ảnh toàn quốc, đóng góp khung lý luận sắc bén giúp định hướng thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn cho 100% hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam cũng như đông đảo công chúng yêu nghệ thuật thị giác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng mỹ học Mác - Lênin, kết hợp việc kế thừa có chọn lọc các thành tựu tư tưởng mỹ học kinh điển trước Mác qua 3 khuynh hướng tiếp cận chính:

  • Khuynh hướng mỹ học chủ quan của Immanuel Kant trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, phân tích 4 phương diện của phán đoán thị hiếu (chất lượng, số lượng, tương quan, hình thái) và phân biệt vẻ đẹp tự do với vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc.
  • Khuynh hướng duy tâm khách quan của G.W.F. Hegel coi cái đẹp là sự biểu hiện cảm tính của ý niệm tuyệt đối qua các hình thức nghệ thuật biểu trưng, cổ điển và lãng mạn.
  • Khuynh hướng duy vật nhân bản của N.G. Chernyshevsky với luận điểm nổi tiếng khẳng định cái đẹp là cuộc sống xuất phát từ hiện thực khách quan.

Trên cơ sở khắc phục các hạn chế duy tâm và duy vật siêu hình, luận văn vận dụng học thuyết của C. Mác từ tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và Ph. Ăng-ghen trong Biện chứng của tự nhiên để làm rõ các khái niệm then chốt:

  • Lao động sáng tạo là nguồn gốc trực tiếp sản sinh ra chủ thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ.
  • Cái đẹp thẩm mỹ là một phạm trù giá trị xã hội mang tính khách quan, nảy sinh từ thực tiễn sản xuất vật chất.
  • Thị hiếu thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ là năng lực đánh giá hài hòa giữa nhận thức lý tính và rung cảm cảm xúc mang tính lịch sử - giai cấp sâu sắc.
  • Tính chân thực lịch sử và tính thẩm mỹ cao quý trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với đạo đức và cái thiện.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ các công trình nghiên cứu lý luận nền tảng như tác phẩm của M. Kagan năm 1980, Becton Bailơ năm 1986 do Lê Phức biên dịch, các ấn phẩm lịch sử nhiếp ảnh của Lê Phức năm 1993 và năm 2002, cùng hệ thống các bài viết phê bình trên Tạp chí Nhiếp ảnh và Tạp chí Ánh sáng đẹp.

Quy trình khảo sát thực tế được thực hiện với các thông số khoa học chuẩn mực:

  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Khảo sát chuyên sâu 120 tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu đoạt giải thưởng cao tại các cuộc triển lãm quốc gia và quốc tế trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, Liên đoàn Nhiếp ảnh Nghệ thuật Quốc tế (FIAP) và các tác phẩm gây tranh luận học thuật về ranh giới thẩm mỹ.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phối hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic - lịch sử và so sánh đối chiếu. Sự kết hợp này là yêu cầu tất yếu giúp bóc tách bản chất bản thể luận và giá trị luận của hình tượng nhiếp ảnh, tránh sa vào việc miêu tả kỹ thuật chụp ảnh thuần túy hoặc đưa ra những nhận định cảm tính chủ quan.
  • Timeline nghiên cứu: Đề tài được triển khai liên tục và hoàn thiện trong chu kỳ 2 năm đào tạo thạc sĩ triết học (2012 - 2014) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng và lý luận đã đưa ra 4 phát hiện cốt lõi về diện mạo cái đẹp trong nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới:

  • Sự mở rộng đa dạng của không gian đề tài: Nếu như giai đoạn trước năm 1986 có hơn 80% tác phẩm tập trung vào chủ đề chiến tranh và hình tượng người anh hùng cứu quốc, thì thời kỳ đổi mới đã chứng kiến khoảng 70% dung lượng sáng tác hướng về đời sống thế sự, vẻ đẹp con người trong lao động thường nhật, văn hóa các dân tộc và cảnh quan quê hương đất nước.
  • Thực trạng lãng phí chất xám nghệ thuật: Thống kê khảo cứu chỉ ra rằng có khoảng 35% tác phẩm đoạt giải thưởng quốc tế lớn của các tác giả Việt Nam chỉ tồn tại trong bộ sưu tập cá nhân mà chưa được quảng bá, phổ biến rộng rãi vào đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, làm suy giảm giá trị thực tiễn xã hội của tác phẩm.
  • Hiện tượng suy thoái đạo đức và lệch chuẩn thị hiếu: Do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và tâm thức hậu hiện đại dung tục, ước tính có khoảng 15% tác phẩm tại các cuộc thi nhiếp ảnh phong trào biểu hiện xu hướng chụp ảnh khỏa thân thương mại hóa, lạm dụng khoái cảm thể xác tầm thường hoặc sao chép, đạo tác phẩm của người khác nhằm tìm kiếm danh vọng bất chính.
  • Bất cập trong công tác giám khảo: Khoảng 40% thành viên các hội đồng chấm thi tại các giải thưởng địa phương và chuyên ngành còn thiếu nền tảng lý luận mỹ học vững chắc, dẫn đến việc đánh giá thiên lệch về kỹ thuật ánh sáng, góc máy mà bỏ quên chiều sâu tư tưởng nhân văn của tác phẩm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự phân hóa nhận thức khi tiếp nhận các trào lưu nghệ thuật phương Tây thiếu chọn lọc, cùng sự thiếu vắng của một hệ thống lý luận phê bình nhiếp ảnh chuyên nghiệp từ sau giai đoạn 1980 - 1985 đến nay. Kết quả nghiên cứu khẳng định mạnh mẽ luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: khi nghệ thuật bị chi phối bởi lợi ích thương mại vị kỷ, cái đẹp sẽ bị tha hóa và tách rời khỏi cái thiện cũng như các giá trị nhân bản.

Dữ liệu khảo sát thực trạng sáng tác hoàn toàn có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng đối sánh cơ cấu đề tài giai đoạn trước và sau năm 1986, kết hợp biểu đồ cột phân tích tỷ lệ tác phẩm đạt chuẩn mực thẩm mỹ đích thực so với các tác phẩm lệch chuẩn theo đánh giá của các chuyên gia mỹ học hàng đầu.

So với các công trình nghiên cứu lịch sử nhiếp ảnh trước đây của các tác giả trong nước, luận văn đã tạo bước đột phá khi chỉ ra rằng cái đẹp đích thực của nhiếp ảnh thời kỳ đổi mới không nằm ở sự phô diễn kỹ thuật số hay sự cách tân hình thức cực đoan, mà nằm ở khả năng phản ánh chân thực bản chất lịch sử xã hội, giữ vững bản sắc dân tộc theo định hướng Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực sáng tạo, thẩm định và thưởng thức cái đẹp trong nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi:

  • Đổi mới và chuẩn hóa quy chế thẩm định nghệ thuật: Ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật toàn quốc trước năm 2015, quy định bắt buộc về thẩm định tính nguyên bản nhằm loại bỏ 100% các trường hợp vi phạm bản quyền và đạo tác phẩm, do Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam chủ trì ban hành.
  • Chuẩn hóa năng lực đội ngũ lý luận phê bình và giám khảo: Tổ chức tối thiểu 10 khóa bồi dưỡng chuyên sâu về mỹ học Mác - Lênin và nghệ thuật học hiện đại trong giai đoạn 2015 - 2018 cho 100% cán bộ chấm thi và biên tập viên nhiếp ảnh tại 2 trung tâm lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Tăng cường đầu tư các trại sáng tác gắn với đời sống thực tiễn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng các địa phương tổ chức ít nhất 20 trại sáng tác thực tế mỗi năm tại các công trình kinh tế trọng điểm, vùng biên giới, hải đảo nhằm định hướng hơn 80% tác phẩm mới bám sát hiện thực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Nâng cao giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng: Thiết lập chuyên mục định hướng thẩm mỹ định kỳ 2 tuần một lần trên các kênh truyền thông của Hội và mạng xã hội, đặt mục tiêu tiếp cận hơn 50.000 lượt công chúng trẻ mỗi tháng nhằm xây dựng thị hiếu lành mạnh, bài trừ các xu hướng nghệ thuật phản cảm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu triết học, mỹ học: Khai thác hệ thống luận điểm duy vật biện chứng mẫu mực để giảng dạy các học phần Mỹ học đại cương và Mỹ học nghệ thuật tại các trường đại học khối khoa học xã hội và nhân văn.
  • Nghệ sĩ nhiếp ảnh và các nhà sáng tạo nội dung thị giác: Tiếp cận cơ sở lý luận vững chắc để định hướng phong cách sáng tác cá nhân, cân bằng giữa kỹ thuật thị giác hiện đại và các giá trị nhân văn cao đẹp trong từng khoảnh khắc bấm máy.
  • Nhà quản lý văn hóa, giám khảo và nhà phê bình nghệ thuật: Sử dụng làm tài liệu tham chiếu tin cậy để xây dựng thang đo đánh giá tác phẩm, nâng cao chất lượng thẩm định tại các triển lãm ảnh cấp quốc gia và khu vực.
  • Học viên cao học và sinh viên các trường nghệ thuật: Tham khảo phương pháp tiếp cận liên ngành giữa triết học và nghệ thuật học, đồng thời ứng dụng nguồn tư liệu phong phú gồm 2 chương và 5 tiết nghiên cứu chuẩn mực cho các đề tài khóa luận liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận khái niệm cái đẹp trong nhiếp ảnh từ nền tảng triết học nào?

Luận văn dựa trên cơ sở mỹ học Mác - Lênin và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khẳng định cái đẹp nảy sinh từ quá trình lao động sản xuất thực tiễn của con người. Nghiên cứu bác bỏ quan điểm duy tâm tuyệt đối hóa ý niệm của Hegel cũng như quan điểm chủ quan thuần túy của Immanuel Kant, đặt cái đẹp trong sự thống nhất biện chứng giữa khách thể và chủ thể xã hội.

Đâu là bước chuyển biến lớn nhất của nhiếp ảnh Việt Nam trong thời kỳ đổi mới?

Bước chuyển biến quan trọng nhất là sự giải phóng tư duy nghệ thuật và đa dạng hóa đề tài sáng tác sau dấu mốc năm 1986. Nhiếp ảnh chuyển từ việc phục vụ tuyên truyền thời chiến sang phản ánh muôn mặt đời sống hòa bình, khám phá chiều sâu nội tâm con người và giá trị nhân bản, chiếm hơn 70% tổng số tác phẩm sáng tác mới.

Luận văn nhận diện những biểu hiện lệch chuẩn thẩm mỹ nào trong nhiếp ảnh hiện nay?

Nghiên cứu chỉ ra 3 biểu hiện tiêu cực gồm: lạm dụng việc khai thác thân xác dung tục núp bóng nghệ thuật, tình trạng đạo tác phẩm đoạt giải do suy thoái đạo đức chiếm khoảng 15%, và hiện tượng chạy theo giải thưởng quốc tế của các tổ chức tư nhân khiến hơn 30% tác phẩm thiếu tính ứng dụng thực tiễn cho cộng đồng.

Cơ sở dữ liệu và cỡ mẫu của luận văn được xây dựng dựa trên tiêu chí nào?

Tác giả đã thu thập và phân tích cỡ mẫu gồm 120 tác phẩm đoạt giải cao tại các cuộc thi chính thống từ năm 1986 đến năm 2014. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp với hơn 50 đầu sách báo chuyên khảo giúp đảm bảo tính đại diện khoa học cao nhất cho bức tranh nhiếp ảnh thời kỳ đổi mới.

Công trình này có đóng góp gì mới cho công tác phê bình nhiếp ảnh tại Việt Nam?

Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên tại Việt Nam giải quyết một cách toàn diện vấn đề cái đẹp nhiếp ảnh thời kỳ đổi mới dưới góc độ triết học mỹ học. Công trình đã luận giải sâu sắc mối liên hệ giữa cái đẹp và cái thiện, cung cấp hệ giải pháp cụ thể giúp nâng cao năng lực cho các hội đồng thẩm định nghệ thuật.

Kết luận

  • Công trình đã khẳng định vững chắc bản chất xã hội và nguồn gốc lao động của cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh theo quan điểm mỹ học Mác - Lênin.
  • Đánh giá toàn diện thành tựu chuyển mình của nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam sau cột mốc lịch sử năm 1986 trên các phương diện nội dung và hình thức biểu đạt.
  • Thẳng thắn nhận diện và phê phán các biểu hiện lệch chuẩn thị hiếu, tình trạng thương mại hóa và sự lãng phí chất xám với hơn 30% tác phẩm đoạt giải chưa đi vào đời sống.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa đường lối văn hóa của Đảng, công tác đào tạo lý luận và nâng cao thị hiếu công chúng.
  • Xác lập khung lý thuyết nền tảng phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và phê bình nhiếp ảnh học thuật trong tương lai.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã đặt nền móng lý luận mỹ học khoa học cho việc đánh giá nghệ thuật thị giác đương đại. Để các giá trị nghiên cứu tiếp tục phát huy hiệu quả, lộ trình đổi mới công tác phê bình cần được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2015 đến năm 2020. Các cơ quan quản lý văn hóa, hội nghệ sĩ và giới nghiên cứu hãy tích cực tham khảo toàn văn luận văn để cùng chung tay xây dựng nền nhiếp ảnh Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và giàu tính nhân văn.