Chương I đến Chương TV tập trung trình bày sâu về vấn đề thiết bị nhiếp ảnh; Chương V cung cấp những kiến thức tổng quát về tạo hình nhiếp ảnh, tạo tiền đề cơ bản cho quá trình sáng tác về sau, đặc biệt là đối với những sinh viên theo học ngành báo chí và những ai yêu thích nhiếp ảnh. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc! Thang 7 ndm 2010 NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - THÔNG TIN Chuong | PHUONG TIEN CHUP ANH - CAU TAO MAY ANH I. KIEN THUC CAN BIET KHI SU DUNG MAY ANH 1. Một số khái niệm về các đại lượng của ánh sáng a.
Năng lượng pbát xạ Khi một vật nung càng nóng, nhiệt độ càng cao thì ánh sáng sẽ chuyển dần từ đỏ sang vàng tới trắng. Năng lượng phát xạ của nguồn ánh sáng càng cao, ánh sáng càng trắng ra. Bước sóng các mầu ngắn, nhiệt độ mầu cao. Do vậy: - Năng lượng phát xạ ánh của ánh sáng được biểu thị bằng độ đài bước sóng.
- Màu sắc của ánh sáng được biểu thị bằng nhiệt độ màu. Nhiệt độ màu của ánh sáng tính bằng độ kelvin viết tắt là: ĐK, OK = TĐC + 273 °C = 273°K b. Cường độ ánh sáng Cường độ ánh sáng có quan hệ trực tiếp đến lộ sáng khi chụp ảnh. Cường độ ánh sáng do các nguồn sáng 6 Đỗ Phan Ái sinh ra.
Nguồn sáng là ánh sáng tự nhiên (mặt trời và ánh sáng nhân tạo (đèn, nền, flash, bếp lửa. Cường độ ánh sáng được biểu thị bằng sự phát nhiệt của nến, ký hiệu Cd, nến được tính bằng 1/60 cường độ sáng do 1 cm2 của một vật đen tuyệt đối phát ra ở nhiệt độ nóng chảy của platin theo phương vuông góc với mặt bức xạ. Quang thông Lượng ánh sáng do nguồn sáng phát ra đi qua một khoảng nhất định, trên một diện tích nhất định được gọi là lượng quang thông. Đơn vị chỉ lượng quang thông là Lumen, viết tắt là Lm.
Độ roi Là cường độ chiếu sáng của nguồn ánh sáng chiếu tới mặt vật thể. Độ rọi phụ thuộc vào cường độ nguồn. sáng và khoảng cách, vị trí đặt vật thể. Cường độ nguồn sáng càng cao thì độ rọi càng cao.
Khi tia sáng chiếu vuông góc tới mặt vật thể, độ rọi lớn nhất. Độ rọi tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ nguồn sáng tới mặt vật thể. Độ tọi tính theo lux, viết tắt là Lx. Lux 1a dé roi cla mét mặt có diện tích 1 m2 với quang thông 1 Lumen được chiếu vuông góc, 1 Lx = 1 Lm/m#, e.
Độ cbói Là tỷ số giữa lượng ánh sáng chiếu tới và lượng ánh sáng phần xạ lại từ bể mặt một vật, gọi là hệ số phản xạ của vật đó. Tích của hệ số phản xạ với độ rọi ánh sáng chiếu tới là độ chói của vật đó. Ví đụ: Nguồn sáng có độ sáng là 10 lux, chiếu vào - Kỹ thuật và tạo hình nhiếp ảnh 7 tờ giấy có lượng phản xạ là 80 lux, hệ số phần xạ của tờ giấy là: 80/10 = 8. Độ chói sáng của tờ giấy sẽ là: 10 x 8 = 80 lux.
Luong 16 sang Khi chụp ảnh một vật thể nào đó chính là cho lượng ánh sáng phản xạ từ vật thể đó qua ống kính tác động vào bể mặt cảm quang của phim. Lượng ánh sáng đó cần vừa đủ để tạo nên phản ứng quang hoá theo độ nhạy cảm của từng loại phim. Ta gọi đó là lượng lộ sáng. Lượng lộ sáng là lượng ánh sáng mà lớp nhũ tương muối bạc nhận được phải đủ để thắng được quán tính nhũ tương nhạy sáng (lam cho phần bắt sáng tạo thành hình ẩn).
Lượng lộ sáng phụ thuộc vào hai yếu tố: Độ rọi và thời gian. - Máy ảnh nhận lượng ánh sáng đi qua ống kính thông qua hai bộ phận chính: + Độ mở rộng hay hẹp của chế quang. + Tốc độ cửa chập (thời gian nhanh hay chậm). Nhiệt độ màu của ánh sáng tự nhiên Nguồn sáng: Nhiệt độ màu (9K) - Nắng sớm: 3.
- Nắng trong khoảng 8h hoặc 15h: 5.800°K - Trời xanh buổi trưa: 6.000 °K - Trời không nắng, có mây che: 6. Nhiệt độ trầu của ánh sáng nbân tạo - Ánh sáng nến: 1.900 ĐK - Đèn chụp điện tử: Khoảng 6.400 °K - Đèn sợi đốt thông thường: 2. Kiến thức phổ thông khi sử dụng máy ảnh a. Dong tic cam may dnb Trên hâu hết các loại máy ảnh, bộ phận lên phim và nút bấm chụp thường đặt bên phía tay phải.
Vì Vậy tay cầm thân máy ảnh phải là tay phải. Cầm máy ảnh tay phải làm cho những thao tác khi chụp nhanh hơn, nhất là đối với những người làm công tác báo chí, thường phải vừa đi chuyển vừa chụp. Các ngón của bàn tay phải có nhiệm vụ như sau: Ba ngón, từ ngón giữa đến ngón út cầm chắc phía trước thân máy. Ngón cái giữ phía sau lâm cho máy luôn được giữ chắc chắn nhưng ngón cái đồng thời làm nhiệm vụ quay cần lên phim, ngón trổ luôn luôn đặt vào vị trí nút bấm chụp.
Tay trái giữ đầu ống kính có nhiệm vụ: - Giữ cho ống kính vững chắc khi bấm chụp. - Xoay vòng điêu chỉnh chế quang để xác định lượng sáng vào phim. - Xoay vòng điều chỉnh khoảng cách bấm chụp (lấy nét). - Điều chỉnh khuôn hình (Véi may ảnh có zoom).
Kỹ thuật và tạo hình nhiếp ảnh 9 b. Lắp pbim Sau khi bật nắp phía sau thân máy, trên những mấy cơ thông thường cần chú ý một số thao tác lắp phim như sau: - Mặt thuốc bắt sáng quay về phía ống kính, mặt bóng của đế phim quay về phía lưng máy ảnh, - Tay trái cảm chắc thân máy đã bật nắp, dùng hai ngón: ngón trỏ và ngón cái của tay phải cài đoạn đầu phim bị cắt vát vào rãnh giữa trục cuộn phim, sao cho ràng kéo phim nằm trong khuông chữ nhật bên rìa phim. Lựa dân đưa vỏ đựng cuộn phim vào trục giữ phía bên trái. Tay trái đặt nhẹ trên mặt phim, tay phải cuộn nhẹ phim lại theo chiều kim đồng hồ, tới khi chặt tay thì thôi.
Đậy nắp vỏ máy, lên thử lần thứ nhất nếu thấy vòng cuộn ngược phim quay khoảng trên dưới 1802 có nghĩa là phim đã chuyển động trong máy ảnh. Bấm bổ đi một kiểu đầu tiên. Lần lên phim thứ hai là phim có thể bấm chụp. Luu f Mẫu sắc, độ sắc nét bức ảnh đẹp hay xấu phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng ống kính, vì vậy phải giữ ống kính máy ảnh luôn luôn sạch.
Khi bấm chụp xong nên đậy nắp ống kính ngay. Không được đưa tay vào lau thấu kính. Nếu thấu kính bị bẩn, không được tự ý lau bằng vải hoặc lau bằng tay. Nếu không có kinh nghiệm lau ống kính nên đưa tới thợ sửa chữa vì họ có giấy lau ống kính và dầu lau ống kính riêng dành cho máy ảnh.
Không để ống kính bị ẩm ướt và không được phơi ống kính đưới nắng mặt trời. CẤU TẠO MÁY ẢNH Máy ảnh làm nhiệm vụ ghi lại hình ảnh của con người và các sự vật hiện tượng tổn tại trong xã hội và thiên nhiên. Muốn có hình ảnh để lưu giữ lại, người sử dụng cần hiểu tường tận chức năng, tác dụng của các bộ phận trên máy. Hầu hết các máy ảnh đều có những bộ phận chính như sau: 1.
Can lên pbim-: làm nhiệm vụ chuyển dịch một khuôn phim mới thay chỗ khuôn phim cũ đã chụp. Nút bấm cbụp: giữ lại hình ảnh mới chụp trên phim. Vòng cbỉ tốc độ: Xác định thời gian đưa ánh sáng vào phim. Móc gài đền /lasb: Dùng để chụp trong điều kiện ánh sáng yếu hoặc không có ánh sáng.
Cần cuộn lại pbữm: Cuốn lại phim đã chụp vào cuộn bảo quản (bocbine) trước khi tráng phim. Nút tháo ống bính ra khỏi thân máy. Vòng điều cbỉnh chế quang: Điều chỉnh độ mở rộng hẹp của chế quang để đưa ánh sáng vào phim. Vòng ngắm néi: Xác định khoảng cách từ phim tới đối tượng chụp ảnh.
Kbu uực đặt chế quang (nằm trong thân ống binh). Tên bãng sẵn xuấi máy. Cbủng loại máy do bãng qui dink. Kỹ thuật và tạo hình nhiếp ảnh | 11 12.
Độ mở tối ấa của ống kínb (phụ thuộc ào đường hính chế quang). Tiêu cự ống bính: (Trong máy ảnh tiêu cự liên quan đến góc mở ống kính). Các lớp thấu kính. Hộp may anb.
Nút lên giây cót chụp tự động. Nút biểm tra chế độ đóng, mô chế quang. Hai bộ phận đưa ánh sáng vào phim Khi nói tới nghệ thuật nhiếp ảnh chính là nói tới nghệ thuật vẽ bằng ánh sáng. Ánh sáng chính là ngôn ngữ của ảnh.
Cần đưa đủ lượng ánh sáng vào phim là yêu cầu đầu tiên đối với những người làm ảnh báo chí, dịch vụ và ảnh nghệ thuật. Tuy vậy, hiện nay hầu hết mọi người đều có thể chụp ảnh bằng những máy ảnh tự động, máy kỹ thuật số nhằm ghi lại những hình ảnh lưu niệm, sáng tác, báo chí mà không cần điều chỉnh hai bộ phận đưa đủ lượng ánh sáng vào bể mặt cảm quang của phim. Nhưng dù là máy ảnh tự động, máy ảnh kỹ thuật số, hay máy của những người làm ảnh chuyên nghiệp, cũng đều có hai bộ phận liên quan đến việc đưa ánh sáng phản chiếu từ vật thể được chụp tới phim. Sự khác nhau là ở chỗ, máy ảnh tự động tự điều chỉnh nguồn sáng còn mẩy cơ chuyên dùng thì người cầm máy cần tự điều chỉnh hai yếu tố chính: - Độ mở chế quang.
- Tốc độ cửa chập. 12 | Đỗ Phan Ái Cấu tạo và tác dụng của các bộ phận đó như sau: a. Nói tới chế quang người ta thường gắn nó với cụm từ độ mỗ chế quang hoặc có người gọi độ mở chế quang là độ zmở ống kín. Chế quang là bộ phận nằm trong ống kính máy ảnh, xác định lượng ánh sáng cân thiết để ghi lại hình ảnh lên bể mặt cảm quang của phim, thông qua độ mở rộäg hay hẹp của nó.
Khi trời nắng to chế quang được đóng nhỏ lại. Khi thiếu sáng hoặc ánh sáng yếu chế quang cần mở rộng ra. Chế quang thường được làm bằng những tấm kim loại mỏng, đẹt, cái nọ xếp trượt lên cái kia. Các tấm kim loại này được đính vào một vòng nằm ngoài.
vỏ ống kính giúp ta điều chỉnh chế quang, mở rộng hoặc đóng nhỏ lại. Vòng này gọi là øòng cbỉnb độ mở chế quang. Vòng điều chỉnh độ mở chế quang thường nằm ở phía trong cùng của ống kính, giáp thân máy ảnh (máy ảnh phần quang một kính).