0 PHẦN I: KỸ THUẬT QUAY PHIM I. GIỚI THIỆU VỀ CAMERA TRUYỀN HÌNH 1. Khái niệm: Camera là một thiết bị quang điện có nhiệm vụ thu nhận những hình ảnh quang học có trong thực tế để chuyển đổi thành tín hiệu điện đưới dạng tín hiệu video màu hoặc đen trắng. Phân loại máy quay phim: a.
Máy quay phim dân dụng: Là loại máy quay phim có kích thước nhỏ, dễ sử dụng. Thường được cá nhân gia đình sử dụng trong các sự kiện gia đình, hay để mang đi du lịch. Máy quay HD cầm tay Sony b. Máy quay bán chuyên nghiệp: Là loại máy quay dành cho những người quay phim mới bước vào nghề, hoặc phục vụ cho việc học tập.
Nó thường sử dụng để sản xuất những chương trình đòi hỏi chất lượng bình thường, vì hình ảnh của dòng máy này chất lượng không cao. Dòng máy bán chuyên cũng được 1 thiết kế tương đối nhỏ gọn, một phần chức năng của máy điều chỉnh bằng tay, và một phần có thể điều chỉnh tự động. Máy quay Sony - Z7 Máy quay Panasonic P2 c. Máy quay chuyên nghiệp (chuyên dụng): Là dòng máy quay có kích thước lớn nhất cho chất lượng hình ảnh cao, tạo được nhiều hiệu quả nghệ thuật về 2 hình ảnh.
Sử dụng khá phức tạp, nên đòi hỏi những người quay phim chuyên nghiệp. Dòng máy này thường được sử dụng để sản xuất phim truyện, các chương trình truyền hình, TVC quảng cáo… Máy quay Sony 570 Máy quay chuyên dụng dành cho trường quay HXC-100-HD 3. Cấu tạo của máy quay phim: Thông thường máy quay phim có hai bộ phận cơ bản được ghép nối với nhau, đó là ống kính máy quay (còn gọi là lens) và phần thân máy ( gọi là body). Ống kính camera - khái niệm: 3 Là một hệ thống quang học có nhiệm vụ thu được hình ảnh quang học rõ nét để cung cấp cho phần tử biến đổi quang điện.
Ống kính máy quay - Cấu tạo: Ống kính camera là một hệ thống thấu kính đồng trục, nó gồm nhiều thấu kính được ghép lại với nhau tạo thành một hệ thấu kính tương đương với một hệ thấu kính hội tụ. Hệ thấu kính hội tụ này có nhiệm vụ thu được hình ảnh rõ nét rơi đúng vào bề mặt của bộ phận biến đổi quang điện. Cấu tạo ống kính - Vòng lấy nét (Focus ring): Có nhiệm vụ làm thay đổi được tiêu cự của toàn bộ hệ thống thấu kính, khi điều chỉnh thì ta chỉ việc xoay vòng chỉnh nét theo chiều ngược hoặc thuận theo chiều kim đồng hồ làm sao cho hình ảnh nét nhất là được. 4 Vòng chỉnh độ nét là hệ thống thấu kính đầu tiên tiếp xúc với môi trường nên nó chịu tác động rất nhiều của ngoại cảnh như: cơ học, nhiệt độ, độ ẩm.
Để tránh những tác động về mặt cơ học, thường người ta lắp vào ống kính một tấm kính bảo vệ, tấm kính bảo vệ này yêu cầu không được làm méo dạng quang học. Để tránh tác động về hơi ẩm, các thấu kính của vòng Focus được dán chặt bằng một lớp keo nhưng với điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao nhiều khi lớp keo này cũng bị phá hủy theo thời gian dẫn đến hơi nước có thể xâm nhập vào khoảng giữa các thấu kính gây ra hiện tượng mốc ống kính. Trong trường hợp này ta không thể lau ống kính, người quay phim phải biết được điều này để khi sử dụng tuyệt đối không cho ống kính làm việc trong điều kiện khắc nghiệt. Đối với những camera chuyên dụng thì việc điều chỉnh nét hoàn toàn thực hiện bằng tay.
Đối với những máy quay dân dụng thường có thêm chế độ “Auto” trong chế độ này người sử dụng không cần quan tâm đến việc lấy nét bởi vì máy đã làm việc này. Nhược điểm: Camera phải phát hiện ra vị trí nào là tương ứng với điểm nét nhất của hình ảnh nên phải mất một khoảng thời gian đầu cho máy phát hiện ra điểm dừng. Khi có sự thay đổi vị trí của vật cần quay thì ống kính sẽ phải di chuyển theo khi đó hình ảnh thu được sẽ không tốt, đồng thời điểm nét của vòng focus nằm ngoài ý muốn của người sử dụng nên ý đồ nghệ thuật không thực hiện được. - Vòng điều chỉnh zoom Để thay đổi độ lớn của hình ảnh, người ta dùng đến hệ thống zoom, tất cả các ống kính đều có hai chế độ zoom tay và zoom servo (zoom máy) + Trong chế độ zoom tay, người ta dùng tay để xoay cần zoom, có hai vị trí là zoom max và zoom min.
+ Trong chế độ zoom servo thì người quay phim chỉ việc ấn nút zoom để điều chỉnh khuôn hình, hoặc thực hiện động tác máy. Khi ta ấn vào chữ T (tele) trên nút zoom thì hình ảnh được phóng to dần và đồng thời phạm vi thu hình bị hẹp lại. 5 Khi ta ấn vào chữ W (wide) trên nút zoom thì hình ảnh được thu nhỏ lại và đồng thời phạm vi thu hình được mở rộng ra. - KHẨU ĐỘ (IRIS) Khẩu độ trong ống kính Camera phải đảm bảo được nhiệm vụ điều tiết ánh sáng nghĩa là cho ánh sáng vào kích thích bộ biến đổi quang điện phải vừa đủ.
Nếu ánh sáng đi vào kích thích bộ biến đổi quang điện là quá lớn thì kết quả cuối cùng là sẽ thu được một hình ảnh quá sáng (lóa, lốp) lúc đó các chi tiết hình ảnh sẽ không thể phân biệt được. Ngược lại nếu ống kính cho lượng ánh sáng đi vào quá nhỏ thì bộ phận biến đổi quang điện bị kích hoạt quá ít kết quả thu được là hình ảnh bị thiếu sáng, tối. Các camera chuyên dụng đều được thiết kế có một mạch điện tự động điều chỉnh IRIS. Mạch này làm việc trên nguyên tắc đo mức tín hiệu trung bình của Video thu được rồi so sánh với mức chuẩn sau đó đưa ra điện áp điều chỉnh sự đóng mở của IRIS.
Nếu mức tín hiệu trung bình nhỏ hơn so với mức chuẩn, mạch điện sẽ đưa ra một điện áp để mở IRIS và ngược lại. Như vậy, nếu IRIS làm việc ở chế độ tự động (Auto) thì sự đóng mở này ngoài sự điều khiển của người sử dụng Camera. Vì vậy để có thể điều chỉnh IRIS theo ý muốn của người sử dụng Camera, người ta phải chế tạo ra một chế độ gọi là Manual. 6 + Cấu tạo của khẩu độ.
IRIS được cấu tạo bằng cách ghép nhiều thanh kim loại mỏng lại với nhau. Bình thường những thanh kim loại này được bố trí sao cho góc mở của IRIS là bằng 0 (tức là ống kính được đóng hoàn toàn close). Khi chỉ số khẩu độ càng bé thì độ mở ống kính càng lớn, lượng ánh sáng vào càng nhiều. Và khi chỉ số khẩu độ càng lớn thì độ mở ống kính càng bé lượng ánh sáng vào càng ít Hình ảnh cấu tạo của khẩu độ Ở chế độ tự động (Auto), những thanh kim loại của IRIS được phối ghép với một motor (theo hai chiều) được điều khiển bằng cảm biến, và nó sẽ tự động điều chỉnh lượng sáng đi vào ống kính Ở chế độ bằng tay (Manual), các thanh kim loại này được tách ra khỏi sự tác động của motor, lúc đó việc đóng mở phụ thuộc vào ý muốn của người sử dụng.
- Phân loại ống kính + Ống kính góc rộng Còn gọi là ống kính tiêu cự ngắn đấy là các ống kính có tiêu cự bé hơn 50mm. Và thường gồm các ống kính có tiêu cự thông dụng như 35mm (góc độ rộng 63 độ) và ngắn hơn như 28mm (góc độ rộng 75 độ), 24mm (góc độ rộng 84 độ), 14mm (góc độ rộng 135 độ). 7 Ống kính càng ngắn thì góc độ thu hình càng rộng. Dùng ống kính góc rộng khi muốn quay cảnh rộng hoặc đông người, cũng như quay trong nhà khi phạm vi di chuyển bị hạn chế.
Thích hợp chụp phong cảnh trải dài, hội nghị, các lễ hội. Ống góc rộng thường cho vùng ảnh rõ sâu, tuy nhiên hình ảnh thường bị biến dạng và có chất lượng kém hơn ở rìa ảnh. + Ống kính trung bình Là loại có tiêu cự 50 mm (góc độ rộng 46 độ), tương đương với góc nhìn của mắt con người. Ống kính này để quay những vật nó không quá rộng mà cũng không quá xa.
Loại ống kính này thường cho hình ảnh thật nhất, đúng tỷ lệ và không bị biến dạng. + Ống kính góc hẹp hay còn gọi là têlê Là ống có tiêu cự từ 50 mm trở lên. Có thể tạm phân biệt các loại tele ngắn (thường từ 50 mm tới 105 mm), tele tầm trung (có tiêu cự tới khoảng 250 mm) và dài (trên 300 mm). Thường được dùng để quay những vật ở xa, nó mang tính phóng đại cao.
Loại ống kính này rất thích hợp cho quay phỏng vấn, quay chân dung, phóng sự điều tra. Chú ý khi quay loại ống kính này nên dùng chân máy để tránh hình ảnh bị rung II. GIỚI THIỆU VỀ MÁY QUAY PANASONIC MD10000 8 1. Các tiêu chí kỹ thuật + Nguồn pin: 7.9v + Công suất tiêu thụ: Khi ghi hình 3W, ghi hình sử dụng màn hình LCD 3.3W + Hệ tiêu màu chuẩn: PAL + Thời gian ghi: 60 phút với tốc độ chuẩn SP, 90 phút với tốc độ chuẩn LP + Độ zoom 10x + Kích thước LCD 2.5-inch + Loại băng sử dụng: Mini DV60 SONY, PANASONIC + Nhiệt độ hoạt động: 0˚C - 40˚C + Độ ẩm hoạt động: 10% - 80% + Kích thước máy quay: 70 mm (W) x 45mm (H) x 116 mm (D) + Khối lượng máy: 165g 2.
Các phím chức năng 9 (1) Vòng chỉnh nét (Focus ring) Là bộ phận dùng để điều chỉnh độ nét cho hình ảnh (xoay theo chiều thuận hoặc theo chiều ngược kim đồng hồ sao cho hình ảnh rõ nét nhất. - Cách chỉnh nét bằng tay hoặc nét tự động: 10 B1 (bước 1): Đặt công tắc chuyển mạch số (9) về vị trí MANUAL (như ở hình vẽ). B2 (bước 2): Gạt công tắc vị trí số (9) xuống vị trí FOCUS 1 lần sẽ xuất hiện trên góc phải màn hình chữ MF ( MANUAL FOCUS), khi đó người quay phim phải điều chỉnh nét bằng tay. Hoặc khi để công tắc số (9) ở vị trí AUTO thì khi đó máy quay cũng sẽ tự động điều chỉnh độ nét.
11 - Để tạo ra hình ảnh có độ nét nhất B1: Chuyển máy quay về chế độ chỉnh nét bằng tay. B2: Zoom vào nhân vật một cách tối đa. B3: Dùng tay điều chỉnh vòng FOCUS sao cho hình ảnh nét nhất. B4: Zoom ra và điều chỉnh khuôn hình mà mình cần lấy.
Chú ý: - Chế độ nét tự động cho hình ảnh có độ nét không cao và bị mờ khi có vật thể chuyển động qua phía trước ống kính.