Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁI ĐẸP VÀ NGHỆ THUẬT NHIẾP ẢNH 1. Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử mỹ học 1. Quan niệm về cái đẹp trong tư tưởng các nhà mỹ học trước Mác Cái đẹp luôn là đề tài nghiên cứu muôn thuở của con người. Nhiều thế kỷ trước đây và có lẽ nhiều thế kỷ mai sau, cái mà con người yêu quý nhất, trân trọng nhất chính là cái đẹp.
Hạnh phúc lớn nhất của mỗi người là được sống với cái đẹp, được trở thành một người đẹp, được tôn vinh trong cộng đồng như một biểu tượng của cái đẹp. Bởi, từ cá nhân đến các cộng đồng và toàn nhân loại đều từng ngày từng giờ hướng tới cái đẹp. Cái đẹp đi vào mọi lĩnh vực của cuộc sống. Dù tiếp cận, nghiên cứu cái đẹp ở khía cạnh nào thì đây vẫn là một lĩnh vực quan trọng và vô cùng phong phú trong lĩnh vực thẩm mỹ của đời sống xã hội.
Lịch sử mỹ học nhân loại đã nghiên cứu cái đẹp theo nhiều trường phái, khuynh hướng khác nhau và đưa ra những quan niệm, cách tiếp cận về cái đẹp riêng. Trong lịch sử mỹ học trước Mác, đã có nhiều nhà mỹ học nghiên cứu về cái đẹp và khẳng định sự phong phú, vai trò của cái đẹp trong đời sống con người. Theo cách giải quyết vấn đề nguồn gốc, bản chất của cái đẹp khác nhau, có thể chia thành ba khuynh hướng chính. Một là, khuynh hướng nghiên cứu cái đẹp chủ quan.
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Imanuen Cantơ (Imanuel Kant). Các tư tưởng về cái đẹp chủ quan được Cantơ trình bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”. Ông đã xây dựng hệ thống lý luận đồ sộ về tiếp cận cái đẹp từ lĩnh vực chủ thể thẩm mỹ một cách đa dạng, phong phú.Cantơ, không có khoa học về cái đẹp, chỉ có phán đoán cá nhân về cái đẹp. Phán đoán về cái đẹp không phải là phán đoán nhận thức mà là phán đoán thị hiếu.
Đây là cơ sở lý luận mỹ học quan trọng giải quyết một vấn đề rất cơ bản của cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Cantơ, cái đẹp không gắn liền với tính chất thực tiễn. Dù cái đẹp có tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội nhưng nó chỉ tồn tại như các dạng vật chất mà không phải là cái đẹp. Chỉ có hiện tượng nào đem lại những khoái cảm và thỏa mãn những đòi hỏi tinh thần mang tính chất chủ quan của cá nhân mới có thể là hiện tượng đẹp.
Nguồn gốc của cái đẹp thực sự không do tác động của ngoại cảnh đem lại mà là do sự thích thú chủ quan của con người tạo nên. Cái gì tôi thích thì cái ấy đẹp, bản chất của cái đẹp nằm ở tình cảm chủ quan của con người. Khi nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, Cantơ đã chia cái đẹp thành bốn phương diện để phù hợp với triết học chủ quan của ông. Đó là cái đẹp về chất lượng, cái đẹp về số lượng, cái đẹp về tương quan và cái đẹp về hình thái.
Cái đẹp về chất lượng là những gì làm cho ta thấy hài lòng, vô tư. Về mặt số lượng, cái gì làm cho nhiều người thích thú mà không cần đến khái niệm thì là đẹp. Về mặt tương quan, cái hình thức mục đích mà không hình dung đó là mục đích thì đó là đẹp. Về hình thái thì cái gì được thừa nhận hài lòng mà không cần đến khái niệm thì đó là đẹp.
Tất cả bốn phương diện trên đều do chủ quan con người quyết định. Cantơ cho rằng, cái đẹp là một phán đoán thẩm mỹ. Phán đoán thẩm mỹ là phán đoán tình cảm, khác với phán đoán lôgic. Phán đoán thẩm mỹ là phán đoán không những không có đối tượng mà còn không vụ lợi ích trực tiếp.
Quan điểm này nhằm tránh rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm thẩm mỹ đơn thuần và tìm cách khắc phục những khuyết điểm của nó, khắc phục chủ nghĩa duy lý. Trước Cantơ, chủ nghĩa kinh nghiệm mỹ học đã có quan điểm cho rằng, bất cứ một sự tác động của ngoại cảnh nào vào con người làm nảy sinh tình cảm vui, buồn, hờn, giận, sung sướng hay căm ghét đều là tình cảm thẩm mỹ, đều có quan hệ đến cái đẹp. Theo Cantơ, các khoái cảm mà thủ tiêu đối tượng và nhờ đối tượng tác động vào hệ thần kinh thì không phải khoái cảm thẩm mỹ. Bản chất của khoái cảm thẩm mỹ là khoái cảm tự do.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khoái cảm thẩm mỹ là khoái cảm gắn với thị hiếu của cá nhân, vô tư, không đối tượng, không mục đích, không gắn với nhận thức. Cantơ phân biệt cái tốt và cái đẹp, nhận biết khoái cảm đạo đức và khoái cảm thẩm mỹ. Theo ông, tốt là cái gì nhờ vào lý tính làm hài lòng thông qua những khái niệm đơn thuần. Cantơ viết trong cuốn “Phê phán năng lực phán đoán”: “Để thấy cái gì là tốt, lúc nào tôi cũng phải biết đối tượng ấy phải là một sự vật như thế nào, tức là, có một khái niệm về nó.
Còn để thấy cái gì là đẹp, tôi không cần điều ấy. Đóa hoa, tranh vẽ tự do, những đường nét đan nhau vô tình, với tên gọi là hoa văn chẳng có ý nghĩa gì, không phụ thuộc vào một khái niệm nhất định nào, nhưng vẫn làm hài lòng”[33, tr. Từ những quan điểm về mặt chất lượng của phán đoán thẩm mỹ trên, Cantơ đã nghiên cứu cái đẹp về mặt số lượng, dựa trên cơ sở tính vô tư, không mục đích, không đối tượng, không khái niệm của cái đẹp về mặt chất lượng. Nếu phán đoán lôgic cần quan tâm tới đối tượng, cần có tri thức về đối tượng, cần hiểu tính chất của đối tượng thì phán đoán thẩm mỹ chỉ quan tâm đến cảm giác chủ quan, khoái cảm của chủ quan về đối tượng.
Đó là một hoạt động khoái cảm về cái đẹp. Theo Cantơ, “Cái đẹp là cái gì được hình dung như đối tượng của một sự hài lòng phổ biến, độc lập với mọi khái niệm”[33, tr. Tức là, khoái cảm về cái đẹp vừa có tính chất cá thể, lại phải mang tính phổ biến. Phán đoán thẩm mỹ là phán đoán chủ quan nên cái có thể mang tính phổ biến không phải là tri thức về đối tượng mà là trạng thái xúc động tự do.
Khi phân tích phán đoán thẩm mỹ xét về mặt tương quan, Cantơ đã gắn liền lôgic, đạo đức, thẩm mỹ trong “vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc”. Đó là cái đẹp gắn liền mỹ cảm với nhận thức và đạo đức. Theo Cantơ, có hai vẻ đẹp là “vẻ đẹp tự do” và “vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc”. Vẻ đẹp tự do không lấy khái niệm phải như thế nào để làm tiền đề, gọi là những vẻ đẹp tự tồn cho mình của sự vật này hay sự vật kia; vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc lấy khái niệm và tính hoàn hảo 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của đối tượng tương ứng với khái niệm ấy làm điều kiện tiên quyết, dành cho những đối tượng phục tùng khái niệm về một mục đích nhất định.
Đẹp không mục đích nhưng vẫn phải phù hợp mục đích, đẹp không khái niệm nhưng vẫn phải có khái niệm, đẹp không vụ lợi nhưng vẫn phải gắn với lợi ích,… đó là cách giải quyết và khắc phục những thiếu sót của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm trong lịch sử mỹ học cận đại. Khi nghiên cứu mặt thứ tư của phán đoán thẩm mỹ - hình thái của phán đoán thẩm mỹ, Cantơ đã giả định rằng mọi nhân thức đều có nguồn gốc tiên nghiệm, phán đoán thẩm mỹ là một hình thức phán đoán được giả định có “năng lực cảm giác chung”. Năng lực cảm giác chung là hình thái của phán đoán thẩm mỹ. Nghiên cứu hình thái của phán đoán thẩm mỹ là ngiên cứu mặt tự nhiên, của năng lực cảm giác chung.
“Đẹp là cái gì được nhận thức như là đối tượng của một sự hài lòng tất yếu, nhưng độc lập với khái niệm”[33, tr. Cantơ đã chia cái đẹp của nghệ thuật làm ba hình thái. Hình thái tự nhiên là cái đẹp thấp nhất, ít mang ý nghĩa sáng tạo. Hình thái lao động là cái đẹp có tính chất thủ công, gắn liền với vụ lợi ích kiếm tiền, đó là cái đẹp loại hai.
Cái đẹp của tự do, cái đẹp trời cho, tức là cái đẹp trò chơi là cái đẹp cao nhất, gắn với tài năng và thiên tài. Trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, Cantơ cho rằng, nghệ thuật thủ công được coi là nghệ thuật làm thuê đã tạo nên sự khó chịu, còn nghệ thuật trò chơi tạo ra sự bận rộn dễ chịu. Cái đẹp của nghệ thuật trò chơi là khả năng tưởng tượng tự do của các thiên tài. Cách tiếp cận cái đẹp của Cantơ đi sâu vào thế giới chủ quan, phân tích tình cảm chủ quan về phương diện đẹp.
Ông chỉ tìm hiểu nguồn gốc chủ quan của cái đẹp, bản chất vô tư, không khái niệm của cái đẹp. Mỹ học Cantơ khi đi tìm nguồn gốc và bản chất của cái đẹp đã tạo cầu nối giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp. Hai là, khuynh hướng nghiên cứu cái đẹp từ linh cảm, trực giác, đại diện là Ph.Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel) trong tác phẩm “Mỹ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ông đã nghiên cứu cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp trong nghệ thuật từ sự vận động của ý niệm vào những quan hệ cụ thể trong đời sống.
Ông đã nghiên cứu sự vận động của ý niệm về cái đẹp trong các loại hình nghệ thuật từ kiến trúc, điêu khắc đến âm nhạc, hội họa và thi ca. Tìm hiểu khuynh hướng này sẽ làm sáng tỏ cái riêng và cái chung của cái đẹp trong các loại hình nghệ thuật. Hêghen đã xuất phát từ những quan điểm trong hiện tượng luận tinh thần để nghiên cứu về cái đẹp. Cái đẹp có nguồn gốc tinh thần và bản chất của cái đẹp là thể hiện của ý niệm tuyệt đối.
Ông thừa nhận có cái đẹp vật lý, cái đẹp sinh học và cái đẹp tinh thần. Cái đẹp vật lý là cái đẹp đơn nhất và nhất thời, cái đẹp sinh học là cái đẹp đang quá độ. Các cái đẹp này đều do tinh thần sản sinh ra. Hêghen trình bày về cái đẹp như sau: “Đời sống của vũ trụ là quá trình thực hiện của ý niệm tuyệt đối.