mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn (1802), nhạc cung đình ngày càng chú trọng và phát triển hơn. Cùng với công cuộc mở cõi phương Nam, làng xã được thành lập, hầu hết địa phương có đình làng thờ Thành hoàng được triều đình sắc phong, đồng thời có một hương nhạc phụ trách đội nhạc lễ trông coi, phục vụ cho các lễ hội, nghi lễ… Thời đó, hương nhạc là những nghệ nhân giỏi nhạc trong vùng, có thể do triều đình bổ nhiệm. Bên cạnh đó, nhiều nghệ nhân từ miền Trung vào Nam khẩn hoang lập ấp hoặc theo phong trào Cần Vương chống Pháp, đã mang theo vốn liếng nhạc cung đình và ca nhạc Huế. Các sỹ tử từ Nam ra kinh đô học hành thi cử cũng học được ít nhiều về dòng nhạc ngoài đó.
Các lính thú, tội đồ bị triều đình cưỡng bách vào Nam mở đất… có người 5 cũng mang theo chút ít âm nhạc đến với vùng đất mới. Khi nhạc cung đình Huế vào vùng đất mới Nam bộ thì được gọi là nhạc lễ Nam bộ. Các nghệ nhân nhạc lễ và hương nhạc, ngoaì việc phục vụ đình đám, lễ hội hằng năm còn rất nhiều thời gian nhàn rỗi. Từ đó họ lấy nhạc để làm vui, chơi đờn và truyền nghề cho những ai yêu thích.
Từ lao động, các nghệ nhân kết hợp các giai điệu ca dao, hò, lý trên cơ sở thang âm của nhạc lễ (ngũ cung), mà sáng chế thêm hoặc cải tiến từ các thể điệu của nhạc lễ, nhạc Huế rồi sáng tác lời ca mới thành một dòng nhạc mới, đó là dòng nhạc tài tử Nam bộ, mà hình thức diễn xướng của nó gọi là đờn ca tài tử Nam bộ. Là một dòng nhạc sinh ra từ vùng đất trù phú ở phương Nam , tính chất lãng mạn trữ tình, phóng khoáng như phong thái của người dân Nam bộ vậy. Bởi “Nhạc là nhân, văn cũng là nhân” là vậy. Nhạc lễ tính chất hùng tráng, trang nghiêm chỉ diễn tấu không có lời ca trong các thể điệu, nên gọi là khí nhạc.
Còn nhạc tài tử, bất cứ thể điệu – bài bản nào cũng có lời ca, do các nghệ nhân xuất thân từ nhạc lễ viết lời và hầu hết không lưu lại bút danh (khuyết danh). Như vậy, nhạc tài tử là dòng nhạc có nguồn gốc từ nền tảng của nhạc lễ Nam bộ, thêm một bước phát triển của loại hình âm nhạc ngũ cung, và có lời ca. Nói nôm na, nhạc tài tư là con đẻ của nhạc lễ Nam bộ, có mối quan hệ gắn bó với nhạc cung đình Huế, và là sự thể hiện đặc biệt của nhạc ngũ cung Việt Nam. Nghệ thuật ca cầm ngày xưa không được giới trí thức cũng như các sử gia quan tâm ghi chép lại, nên việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của dòng nhạc này không dễ, phải sưu tầm và góp nhặt, từ lời kể của những nhân vật sống là các nghệ sỹ lão thành như : NSND Phùng Há, NSND Bảy Nam, NSƯT Vuỹ Chỗ (lúc còn sống), NSƯT Công Thành… Có thể nói, nhạc tài tử đã có những mầm mống trước đó, nó còn chất phác và rời rạc, vì chưa được quan tâm và phổ biến trong cộng đồng.
Khi tương đối ổn định, khoảng cuối TK XVIII đầu TK XIX, hình thức ca nhạc tài tử được lan rộng thành phong trào đờn ca tài tử khắp Nam bộ. Số lượng bài bản, hơi điệu ngày càng gia tăng, do các nghệ nhân tiền bối bổ sung. Ngoài những nghệ nhân khuyết danh, còn có các nhạc sư, quan nhạc như : Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tòng Bá, Cao Hoài Sang, Cao Hoài Cư, Trần Quang Thọ (ông cố nội GS. Trần Văn Khê)… Đến cuối TK XIX, phong trào phát triển mạnh hơn, Nam bộ hình thành hai nhóm gọi là hai trường phái : Nhóm miền Đông và nhóm miền Tây Nam bộ.
Trong giai đoạn này, các nhạc sỹ thi đua nhau khai thác chỉnh lý các bài bản từ nhạc lễ và sáng tác bổ sung hơi điệu mới. Đó cũng là điều kiện giúp ca từ cải lương hình thành và không ngừng phát triển. Đứng đầu trường phái miền Đông là nhạc sư Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), vốn là một quan nhạc triều Nguyễn. Giữa TK XIX ông vào Nam dạy 6 nhạc lễ và nhạc tài tử.
Ông có công chỉnh lý, sáng tạo 4 bản Bắc : Lưu Thuỷ Trường, Phú Lục Chấn, Bình Bán Chấn và Cổ bản vắn của ca nhạc Huế thành hơi điệu theo phong cách nhạc tài tử Nam bộ. Ông còn sáng tác thêm bộ Ngũ Châu gồm các bản : Kim Tiền Bản – Ngự Gía – Hồ Lan – Vạn Liên – Song Phi Hồ Điệp và 8 bản Ngự : Đường Thái Tông – Vọng Phu – Chiêu Quân – Ái Tử Kê – Bát (Bắc) Man Tấn Cống – Tương Tư – Qủa Phụ Hàm Oan – Duyên Kỳ Ngộ. Ông đào tạo nhiều môn đệ như : Sáu Thới, Tám Hạnh, Cao Quỳnh Diêu, Bảy Nhỏ, Sáu Thoàng, Chín Chiêu, Năm Tịnh, Năm Khiết, Ba Đồng, Tư Bường, Nguyễn Văn Thinh (còn gọi là giáo Thinh)… Giáo Thinh là một trong những môn đệ tiêu biểu của trường phái này, vì đã có những sáng tác mới đóng góp vào kho tàng của nhạc tài tử Nam bộ như : Ngũ Đối Ai, Thập Bát Thủ, Thanh Dạ Đề Quyên, Chinh Phụ Ly Tình, Nam Am Ngũ Khúc, Ngũ Cung Luân Oán… Giáo Thinh sinh năm 1907 tại Sài Gòn, có một thời ông là giảng viên Trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn trước 1975 và sau 1975 ông tham gia giảng dạy ở Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh cho đến cuối đời (1991). Nhạc sư Nguyễn Quang Đại truyền bá nhạc lễ và nhạc tài tử nhiều nơi.
Từ năm 1996, tỉnh Long An rước linh vị ông về thờ tại đình Vạn Phước, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước – Long An và hằng năm tổ chức lễ giỗ kết hợp với cúng đình rất long trọng trong ba ngày 15, 16, 17 tháng giêng âm lịch. Theo một số tư liệu, vì nhạc sư Nguyễn Quang Đại có một thời dừng chân dạy nhạc lễ và nhạc tài tử ở Cần Đước – Long An, nên ngành VHTT – DL và giới nhạc đề nghị đưa linh vị ông về đây thờ để tỏ lòng tri ân tri ngộ. Đứng đầu trường phái miền Tây là nhạc sư Trần Quang Quờn (ký Quờn), là người tài hoa “cầm – kỳ – thi – hoạ”. Ông soạn lời ca “Bá Lý Hề” theo điệu Văn Thiên Tường và Tứ Đại Oán vào khoảng những năm đầu 1900.
Các thành viên trong nhóm này phần đông là trí thức Nho học hay các sỹ phu yêu nước từ miền Trung bị Pháp lưu đày vào Nam như : Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tòng Bá, Phạm Đăng Đàn, cụ Thập, cụ Thủ… Trường phái này cho ra đời 10 bản Khách, còn gọi là Thập Thủ Liên Hườn gồm : Phẩm Tuyết – Nguyên Tiêu – Liên Hườn – Tây Mai – Kim Tiền – Hồ Quảng – Xuân Phong – Long Hổ – Tẩu Mã – Bình Nguyên. Nhóm còn có bộ Tứ Bửu do nhạc sư Lê Tài Khị sáng tác để đáp lại bộ Ngũ Châu của nhóm miền Đông, gồm các bản : Minh Hoàng Thưởng Nguyệt – Ngự Gía Đăng Lâu – Phò Mã Giao Duyên – Ai Tử Kê (khác với Ai Tử Kê trong 8 Ngự – theo sách của Nguyễn Tấn Hưng). Nhạc sư Lê Tài Khị (Hai Khị) còn gọi là nhạc Khị, người Việt gốc Hoa sinh 1870 và mất 1948 tại Bạc Liêu. Sau này giới tài tử miền Tây tôn ông là hậu Tổ.
Ông có công chấn chỉnh, hiệu đính và hệ thống hoá 20 bản Tổ nhạc tài tử và đào tạo nhiều thế hệ đệ tử tài hoa, danh cầm nổi tiếng, trong đó có 7 nhạc sỹ Cao Văn Lầu (1892 – 1976), tác giả của bản Dạ Cổ Hoài Lang. Các môn đệ lừng danh như : Cai Đệ, Mười Khó, Ba Chột, Tư Bình, Hai Lúa, Hai Tài, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Thiện Thành, Tư Quận, Hai Tố, Năm Phát, Hai Thơm, Chín Khánh, Sáu Gáo, Mộc Thái… Đầu những năm 1900, phong trào đờn ca tài tử phát triển rất mạnh và lan rộng khắp Nam bộ, từ các tiệc tùng đình đám trong quý tộc, ngoài dân dã, quan chức đến thường dân, nam phụ – lão ấu đều tham gia mà không phân biệt tầng lớp, vị trí xã hội. Đờn ca tài tử có thể xuất hiện mọi lúc mọi nơi, thích là chơi, không có thể chế. Đây cũng là một trong những nét đặc trưng tiêu biểu của dòng nhạc đầy tính trữ tình và lãng mạn.
Mặc dù sinh ra và phổ biến trong dân gian, nhưng những người bị nó chinh phục ban đầu hầu hết là các quan chức và trí thức như Thầy phó Mười Hai, Ký Quờn, Thầy André Thận, Tống Hữu Định, Nguyễn Tống Triều, Trần Văn Triều (Bảy Chiều – thân phụ của GSTS Trần Văn Khê), Pìerre Châu Văn Tú (Thầy Năm Tú)… 1. Hình thức ca ra bộ và tiến trình hình thành cải lương Theo nhiều tài liệu để lại, ví dụ như hồi kí của Vương Hồng Sển, hồi kí của Hoài Linh tức soạn giả Trương Bỉnh Tòng, bước đầu tìm hiểu cải lương của Sỹ Tiến… lúc hình thức ca ra bộ ra đời có thể xem là thời kỳ quá độ của phong trào nhạc tài tử. Vì đờn ca tài tử trước đó là ngồi trên chiếu hoặc trên ván, mạnh đờn mạnh ca là chính, không có điệu bộ minh hoạ, giờ đây thêm điệu bộ minh hoạ theo nội dung lời ca. Đó cũng là quy luật tất yếu của hình thức ca ngâm, từ thính phòng (nghe) đến thời kỳ quá độ thay đổi hình thức pha diễn, tiến đến nghệ thuật biểu diễn, là bản chất của loại hình diễn xướng dân gian đã vốn có lâu đời của dân tộc ta từ thời Đinh – Lê.
Khoảng năm 1910, ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) ở Mỹ Tho được mời đi trình diễn ở Paris (Pháp) trong một cuộc Hội chợ triển lãm thuộc địa. Ban này gồm có Tư Triều (đờn kìm), Chín Hoán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), Mười Lý (thổi tiêu), cô Hai Nhiễu (đờn tranh) và cô Ba Đắc ca. Họ được bên đó mời ngồi trên sân khấu đờn ca, vừa ca vừa ra bộ minh hoạ lớp Tứ Đại Oán Bùi Kiệm đi thi. Đó là lớp ca ra bộ đầu tiên do cụ Trương Duy Toản sáng tác trước đó.
Khi về nước, ban tài tử của ông Tư Triều đựơc thầy Năm Tú mời cộng tác tại rạp casino (nay là rạp hát Tiền Giang). Trước khi rạp này chiếu phim thì ban tài tử ca trước để câu khách, cũng ngồi đờn ca trên sân khấu như bên Pháp, sân khấu được trang trí như bên ấy và ngồi ca có ra điệu bộ.