Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013" thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (Mã số: 9210101), bảo vệ tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, đặt trong bối cảnh nền mỹ thuật Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ qua nửa thế kỷ biến động lịch sử và xã hội. Dấu mốc Đổi mới năm 1986 đã mở đường cho sự đổi mới toàn diện tư duy lý luận, giải phóng năng lực sáng tạo và thúc đẩy hoạt động tạo hình hội nhập sâu rộng với thế giới. Hoạt động Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc (TLĐKTQ) định kỳ 10 năm một lần (1973, 1983, 1993, 2003, 2013) đóng vai trò chiến lược, phản ánh toàn cảnh tiến trình vận động của nghệ thuật điêu khắc hiện đại (ĐKHĐ) Việt Nam.

Khoảng trống học thuật (research gap) then chốt mà công trình nhận diện là sự thiếu vắng các nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ Mỹ thuật học đối với hệ thống tác phẩm đạt giải. Phần lớn các tài liệu trước đây chỉ dừng lại ở mức độ tổng thuật sự kiện, điểm báo, hoặc khảo tả đơn lẻ từng tác giả, tác phẩm mà chưa đặt chúng trong mối tương quan chỉnh thể giữa bối cảnh thời đại, sự chuyển dịch thị giác và tiêu chí thẩm định nghệ thuật.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác lập chặt chẽ:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013 biểu hiện như thế nào thông qua chủ đề, ngôn ngữ hình thức và chất liệu?
    • Giả thuyết 1 (H1): Các tác phẩm đạt giải phản ánh sự chuyển dịch từ khuynh hướng hiện thực cách mạng sang sự đa dạng hóa ngôn ngữ tạo hình khối, không gian và chất liệu, bộc lộ rõ nét cá tính sáng tạo cá nhân.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những chuyển biến về xu hướng tạo hình thông qua các tác phẩm đạt giải qua 5 kỳ triển lãm diễn ra theo quy luật nào?
    • Giả thuyết 2 (H2): Xu hướng tạo hình chuyển dịch từ tả thực truyền thống, tượng tròn khép kín sang các cấu trúc không gian mở, biểu hiện trừu tượng và tích hợp yếu tố nghệ thuật sắp đặt (installation).
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Thành công của các tác phẩm đạt giải đóng góp những giá trị nào cho nền mỹ thuật và đời sống xã hội Việt Nam?
    • Giả thuyết 3 (H3): Hệ thống tác phẩm đạt giải xác lập chuẩn mực thẩm mỹ mới, thay đổi thói quen thị giác công chúng và đặt nền tảng cho điêu khắc đô thị và không gian công cộng.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation) và Lý luận Mỹ thuật học. Phạm vi khảo sát bao quát 5 kỳ triển lãm qua 40 năm (1973 - 2013), phân tích trực tiếp hàng chục tác phẩm tiêu biểu đạt giải thưởng cao cùng khối dữ liệu thực chứng gồm hơn 1.500 tác phẩm tham dự, tạo nên đóng góp đột phá về mặt tư liệu và lý luận lịch sử mỹ thuật nước nhà.

Literature Review và Positioning

Tổng quan nghiên cứu trong nước cho thấy sự quan tâm đa chiều của giới chuyên môn qua từng thời kỳ:

  1. Nhóm công trình lịch sử và lý luận chung: Nguyễn Đỗ Cung (1993) trong Bàn về Mỹ thuật Việt Nam nhấn mạnh tính lạc quan chiến đấu và bản sắc dân tộc; Viện Mỹ thuật (1992, 2005) trong Nghiên cứu Mỹ thuậtMỹ thuật Việt Nam hiện đại phác thảo diện mạo mỹ thuật từ trường Mỹ thuật Đông Dương (1925) đến thời kỳ Đổi mới. Đinh Gia Lê (2016) trong Điêu khắc hiện đại Việt Nam phân tích các chặng đường phát triển và khẳng định: "nhà điêu khắc hiện đại nhận ra rằng, sự can thiệp này không cần thiết bởi sự tri giác về đối tượng của những cá nhân khác nhau sẽ không có một kết quả giống nhau".
  2. Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các kỳ triển lãm 10 năm: Lê Quốc Bảo (2003, 2014) định vị: "Mô hình vận động sáng tác triển lãm điêu khắc định kỳ 10 năm một lần, có tầm chiến lược, được coi như là một cuộc hội quân lớn của giới điêu khắc, một sân chơi nghệ thuật điêu khắc đích thực độc lập, độc quyền các tác phẩm điêu khắc trong một triển lãm". Nguyễn Hải Yến (2014) tổng kết 5 thập niên vận động; Trần Khánh Chương (2014) phân tích 5 bước đi của điêu khắc qua các đề tài chiến tranh và hiện thực; Đặng Thanh Vân (2003) và Phạm Quang Trung (2003) chỉ rõ sự mở rộng biên độ ngôn ngữ từ hiện thực sang biểu hiện và sắp đặt tại triển lãm lần thứ IV.
  3. Nhóm nghiên cứu chất liệu và khuynh hướng chuyên biệt: Đặng Thị Phong Lan (2014) khảo sát sự bùng nổ của chất liệu sắt hàn; Nguyễn Thu Nguyệt (2003) phân tích giá trị thẩm mỹ của đất nung; Nguyễn Nghĩa Phương (2014) nghiên cứu sự phát triển của nghệ thuật sắp đặt trong điêu khắc; Mai Thị Ngọc Oanh (2014) thống kê sự đóng góp của 26 nữ tác giả hội viên.

Tranh luận học thuật quốc tế và trong nước tập trung vào mâu thuẫn giữa chức năng tuyên truyền - hiện thực xã hội chủ nghĩa với nhu cầu giải phóng hình thức cá nhân. Về mặt quốc tế, ấn phẩm 100 Painters and Sculptors of the 20th Century (1996) phác thảo bức tranh tổng thể các gương mặt nghệ thuật tiêu biểu nhưng thiếu vắng phân tích định lượng về cơ chế triển lãm chuyên ngành.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế về điêu khắc hiện đại (như sự chuyển dịch từ hiện thực sang trừu tượng của Henry Moore, Constantin Brâncuși hoặc trào lưu điêu khắc cấu trúc kim loại hàn của Anthony Caro), công trình định vị rõ nét sự phát triển của ĐKHĐ Việt Nam: không đi theo con đường phát triển tuyến tính đơn thuần của phương Tây mà là quá trình tổng hợp biện chứng giữa điêu khắc truyền thống bản địa (tượng gỗ Tây Nguyên, phù điêu đình làng, tượng Phật giáo) với kỹ thuật hàn, đúc, ghép nối vật liệu công nghiệp hiện đại.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Tiếp biến Văn hóa của Claude Lévi-Strauss và các học giả Việt Nam như Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Kim trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác. Đúng như luận điểm của Trần Quốc Vượng: "giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hóa xã hội nhưng cũng gắn bó với sự phát triển của văn hóa, là sự vận động thường xuyên của văn hóa".

Mô hình lý thuyết của luận án chứng minh sự tương tác giữa yếu tố nội sinh (tính tượng trưng, ước lệ dân gian, văn hóa tâm linh) và yếu tố ngoại sinh (chủ nghĩa Lập thể, Biểu hiện, Tối giản và nghệ thuật Sắp đặt phương Tây). Sự tiếp biến này hình thành nên hệ thống mệnh đề lý luận:

  • Mệnh đề 1: Sự biến đổi hình thái điêu khắc tỷ lệ thuận với mức độ mở cửa tư tưởng và đa dạng hóa chất liệu công nghiệp.
  • Mệnh đề 2: Tác phẩm đạt giải thưởng là giao điểm giữa sự chuẩn mực của Hội đồng nghệ thuật và tính đột phá tiên phong của tác giả.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích tích hợp 3 chiều kích cơ bản:

  1. Chiều kích Ngôn ngữ Tạo hình: Phân tích hình khối (đặc, rỗng, chuyển khối), đường nét, tỷ lệ, nhịp điệu và xử lý không gian (tượng tròn, phù điêu, không gian sắp đặt).
  2. Chiều kích Chất liệu và Kỹ thuật: Đánh giá đặc tính vật liệu từ truyền thống (gỗ, đá, đồng, đất nung, thạch cao) đến vật liệu mới (sắt hàn, inox, thép lá, composite, kính, chất liệu tổng hợp).
  3. Chiều kích Nội dung và Biểu tượng: Giải mã cấu trúc đề tài từ anh hùng ca, chiến tranh, lãnh tụ sang đời sống sinh hoạt, tính nữ, môi trường sinh thái và tư duy triết học trừu tượng.

Điều kiện biên (boundary conditions) được xác định rõ: Khung phân tích tập trung vào các tác phẩm được trao giải thưởng chính thức tại 5 kỳ triển lãm toàn quốc trong giai đoạn 1973 - 2013, làm đại diện tiêu biểu cho đỉnh cao sáng tạo chuyên nghiệp của từng mười năm.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng thế giới quan Thực chứng diễn giải (Interpretivism) kết hợp Hiện thực phê phán (Critical Realism) trong mỹ thuật học. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp định tính kết hợp thống kê lịch sử nghệ thuật đa tầng:

  • Cấp độ vĩ mô: Bối cảnh chính sách văn hóa, lịch sử xã hội qua 5 thập kỷ.
  • Cấp độ trung mô: Thể chế triển lãm 10 năm và tiêu chí đánh giá của Hội đồng Nghệ thuật.
  • Cấp độ vi mô: Phân tích hình thức tạo hình chi tiết của từng tác phẩm đạt giải cụ thể.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý tư liệu được chuẩn hóa nghiêm ngặt:

  • Thu thập tư liệu: Khảo sát toàn bộ vựng tập gốc của các kỳ triển lãm: Vựng tập TLĐKTQ 10 năm 1983 - 1993, Vựng tập TLĐKTQ lần thứ IV (1993 - 2003), Vựng tập TLĐKTQ lần thứ 5 (2003 - 2013).
  • Phỏng vấn điền dã chuyên sâu: Phỏng vấn bán cấu trúc các nhà điêu khắc nhiều thế hệ, các thành viên Hội đồng nghệ thuật và các nhà phê bình mỹ thuật tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và các trại sáng tác điêu khắc quốc tế.
  • Phương pháp So sánh Nghệ thuật học: Đối chiếu đồng đại (các tác phẩm trong cùng một kỳ triển lãm) và lịch đại (sự tiến triển của cùng một chất liệu/đề tài qua 5 kỳ triển lãm từ 1973 đến 2013).
  • Tam giác đạc (Triangulation): Kết hợp chéo giữa tư liệu tác phẩm hiện vật, biên bản đánh giá của hội đồng chuyên môn và lý thuyết văn hóa nghệ thuật liên ngành (xã hội học, văn hóa học).

Data và phân tích

Hệ thống dữ liệu định lượng được tổng hợp chi tiết qua 5 kỳ triển lãm:

  • Triển lãm I (1973): Khởi đầu của ĐKHĐ cách mạng với sự tham gia của thế hệ nghệ sĩ tiên phong (Lê Công Thành, Nguyễn Hải, Trần Tía, Lê Thược) ở độ tuổi 40.
  • Triển lãm II (1983): Tiếp nối thế hệ chống Mỹ (Tạ Quang Bạo, Hứa Tử Hoài, Duy Độ, Trần Hùng).
  • Triển lãm III (1983 - 1993): Quy mô 504 tượng và phù điêu của 210 tác giả thuộc 21 tỉnh thành; xuất hiện thế hệ trẻ hóa ở độ tuổi 30 (Nguyễn Hải Nguyễn, Nguyễn Ngọc Thành).
  • Triển lãm IV (1993 - 2003): Tuyển chọn 332 tác phẩm của 235 tác giả; trao 23 giải thưởng (1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 5 giải Ba, 15 giải Khuyến khích). Ghi nhận các tác phẩm mang yếu tố sắp đặt và vật liệu mới như Âm dương (thép không gỉ - Bùi Hải Sơn, giải Ba), Nhà cây (kính, sắt - Nguyễn Ngọc Lâm, giải Ba).
  • Triển lãm V (2003 - 2013): Ban tổ chức nhận 675 tác phẩm của 352 tác giả, chọn lọc trưng bày 286 tác phẩm của 230 tác giả, trao 21 giải thưởng. Đột phá về chất liệu sắt hàn với xấp xỉ 40/286 tác phẩm; sự tham gia tích cực của 26 nữ điêu khắc gia hội viên (Mai Thu Vân, Phan Gia Hương, Lưu Thanh Lan, Trần Thị Hồng).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Phân tích thực chứng từ hệ thống tác phẩm đạt giải khẳng định 5 phát hiện mang tính đột phá:

  1. Sự chuyển dịch hệ hình đề tài từ Sử thi sang Đời sống và Sinh thái: Giai đoạn 1973 - 1983 tập trung tuyệt đối vào đề tài lãnh tụ, chiến tranh cách mạng (Hũ gạo kháng chiến - Đinh Rú; Vót chông - Phạm Mười). Đến giai đoạn 1993 - 2013, đề tài mở rộng sang thân phận con người, bảo vệ môi trường, văn hóa tâm linh và các triết lý trừu tượng.
  2. Sự giải phóng ngôn ngữ khối và không gian: Điêu khắc chuyển dần từ khối đặc (solid volume), tĩnh tại, đóng kín sang khối rỗng, tương tác không gian đa chiều, sử dụng khoảng trống (negative space) như một thành tố tạo hình độc lập.
  3. Cuộc cách mạng về chất liệu biểu đạt: Sự dịch chuyển từ các chất liệu cổ điển (thạch cao, gỗ, đồng, đá) sang sự áp đảo của kim loại hàn (sắt, thép không gỉ), composite, đất nung và chất liệu hỗn hợp (mixed media). Sắt hàn từ một thể nghiệm của Đào Châu Hải sau tu nghiệp tại Pháp đã trở thành ngôn ngữ đại diện của điêu khắc thập niên 2003 - 2013.
  4. Sự dung hợp giữa Điêu khắc và Nghệ thuật Sắp đặt: Ranh giới thể loại bị xóa nhòa tại triển lãm 2003 và 2013, khi tác phẩm không chỉ là vật thể trưng bày đơn lẻ mà trở thành một cấu trúc không gian thị giác gắn với bối cảnh kiến trúc và cảnh quan.
  5. Xu hướng trẻ hóa và đa dạng hóa chủ thể sáng tác: Tỷ lệ nghệ sĩ trẻ dưới 35 tuổi và nữ tác giả đạt giải tăng vọt qua từng thập kỷ, mang lại tư duy thị giác táo bạo, xóa bỏ định kiến về sự nhọc nhằn đơn thuần của nghề điêu khắc truyền thống.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Bổ sung khung phân tích mỹ thuật học bản địa cho tiến trình hiện đại hóa nghệ thuật tạo hình Việt Nam, bác bỏ quan điểm cho rằng ĐKHĐ Việt Nam chỉ sao chép thụ động các trường phái phương Tây.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp quy trình kết hợp phân tích mỹ thuật học hình thức với lý thuyết tiếp biến văn hóa, có thể áp dụng hiệu quả cho nghiên cứu hội họa, đồ họa và kiến trúc cận hiện đại.
  • Về mặt thực tiễn và đào tạo: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác phục vụ biên soạn giáo trình, bài giảng tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành như Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; định hướng sáng tác cho các thế hệ điêu khắc trẻ.
  • Về mặt chính sách quản lý nghệ thuật: Đề xuất cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý văn hóa (Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Hội Mỹ thuật Việt Nam) đổi mới quy chế chấm giải, nâng cao tính chuyên nghiệp của các trại sáng tác điêu khắc và quy hoạch không gian tượng đài, điêu khắc công cộng đô thị.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu:

  1. Dữ liệu lưu trữ lịch sử: Các kỳ triển lãm đầu (1973, 1983) do hoàn cảnh chiến tranh và bao cấp nên tư liệu ảnh, biên bản chấm giải và kích thước kỹ thuật của một số tác phẩm chưa đạt độ chuẩn hóa kỹ thuật số cao như giai đoạn 2003 - 2013.
  2. Phạm vi thể chế: Công trình tập trung vào các triển lãm toàn quốc chính thống định kỳ 10 năm, chưa thể bao quát toàn bộ các triển lãm nhóm độc lập hoặc không gian nghệ thuật ngầm (underground) diễn ra song song.
  3. Phạm vi địa lý khảo sát: Dữ liệu tập trung chủ yếu tại hai trung tâm mỹ thuật lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, độ phủ đối với các vùng sâu, vùng xa còn phụ thuộc vào tỷ lệ gửi tác phẩm về triển lãm trung ương.

Chương trình nghiên cứu tương lai định hướng:

  • Mở rộng khảo sát giai đoạn từ 2013 đến nay với sự bùng nổ của nghệ thuật thị giác số, điêu khắc ánh sáng và vật liệu tái chế.
  • Ứng dụng công nghệ quét 3D (3D scanning) và thực tế ảo (VR) để số hóa di sản điêu khắc đạt giải, phục vụ bảo tồn và trưng bày bảo tàng số.
  • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về điêu khắc công cộng Đông Nam Á (ASEAN Sculpture Symposiums).

Tác động và ảnh hưởng

Công trình tạo ra tác động học thuật sâu sắc:

  • Giá trị trích dẫn học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo nền tảng cho các học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng và Quản lý Văn hóa.
  • Chuyển đổi thực hành sáng tác: Tác động trực tiếp đến định hướng của các nhà điêu khắc trẻ, thúc đẩy việc khai thác chất liệu mới gắn với trách nhiệm xã hội và môi trường.
  • Tác động chính sách đô thị: Hỗ trợ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở Quy hoạch - Kiến trúc tại các đô thị lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) xây dựng tiêu chuẩn thẩm mỹ cho công viên tượng, vườn tượng và công trình kiến trúc công cộng.
  • Vị thế quốc tế: Khẳng định bản sắc độc đáo của ĐKHĐ Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật khu vực, làm tiền đề cho việc giới thiệu tác phẩm điêu khắc Việt Nam ra các triển lãm và bảo tàng quốc tế.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên mỹ thuật: Tiếp cận nguồn dữ liệu hệ thống, bảng biểu thống kê chuẩn xác và khung lý thuyết tiếp biến văn hóa chuẩn mực.
  • Nghệ sĩ và Nhà điêu khắc thực hành: Rút ra các bài học kinh nghiệm về xử lý chất liệu, hình khối không gian và phương thức chuyển tải thông điệp thời đại qua tác phẩm.
  • Các nhà phê bình nghệ thuật và Giám tuyển (Curators): Nắm bắt quy luật vận động thẩm mỹ của Hội đồng nghệ thuật qua 5 thập kỷ để xây dựng các triển lãm chuyên đề chất lượng cao.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Có cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển mỹ thuật công cộng, đầu tư đúng trọng điểm cho các trại sáng tác và bảo tồn di sản tác phẩm đạt giải.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng thành công Lý thuyết Tiếp biến Văn hóa vào việc giải mã tiến trình chuyển dịch hình thái điêu khắc Việt Nam giai đoạn 1973 - 2013. Luận án chứng minh rằng ĐKHĐ Việt Nam không thuần túy tiếp thu hình thức phương Tây mà thực hiện một quá trình chọn lọc, dung hợp giữa mỹ học dân gian (tượng nhà mồ, điêu khắc đình làng) với ngôn ngữ hình khối hiện đại (lập thể, trừu tượng, sắp đặt).

  2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây được thể hiện như thế nào? Khác với các nghiên cứu khảo tả trước đây của Nguyễn Đỗ Cung hay Lê Quốc Bảo mang tính tản văn, bình luận, công trình này thiết lập phương pháp tiếp cận Mỹ thuật học liên ngành kết hợp thống kê định lượng toàn bộ 5 kỳ triển lãm (mẫu khảo sát hơn 1.500 tác phẩm, chi tiết hóa 504 tác phẩm năm 1993, 332 tác phẩm năm 2003, 286 tác phẩm năm 2013), phân tích trực tiếp vựng tập gốc và phỏng vấn hồi cố các thế hệ giám khảo, tác giả.

  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tế là gì? Đó là sự bùng nổ mang tính đột biến của chất liệu sắt hàn tại triển lãm lần thứ 5 (2003 - 2013) với gần 40 tác phẩm tham dự, cùng sự chuyển hóa từ một chất liệu công nghiệp khô cứng thành ngôn ngữ biểu cảm không gian bay bổng, chiếm lĩnh các giải thưởng lớn, vượt qua định kiến truyền thống về chất liệu điêu khắc quý như đồng, đá, gỗ.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication protocol) không? Có. Quy trình phân tích hình thái tạo hình (Form-Material-Context Triad) được chuẩn hóa với các tiêu chí định lượng về tỷ lệ, cấu trúc khối, xử lý bề mặt và ma trận đối chiếu lịch đại giữa các kỳ triển lãm, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng chính xác quy trình này cho các cuộc Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 5 năm một lần.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào? Chương trình tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống tác phẩm điêu khắc ngoài trời, vườn tượng quốc tế tại Việt Nam (Huế, Đà Nẵng, An Giang, Hạ Long) và sự tương tác giữa điêu khắc với nghệ thuật công cộng số (Digital Public Art) trong kỷ nguyên Đô thị thông minh.

Kết luận

  1. Công trình là nghiên cứu mỹ thuật học đầu tiên khảo sát toàn diện, hệ thống nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm đạt giải qua trọn vẹn 5 kỳ Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc (1973, 1983, 1993, 2003, 2013).
  2. Xác lập cơ sở khoa học chứng minh sự chuyển dịch có tính quy luật của ĐKHĐ Việt Nam từ hiện thực tả thực sang biểu hiện, trừu tượng và không gian sắp đặt.
  3. Làm sáng tỏ sự chuyển biến mang tính cách mạng về chất liệu: giải phóng điêu khắc khỏi sự phụ thuộc vào thạch cao, đá, gỗ để làm chủ sắt hàn, thép không gỉ, composite và chất liệu tổng hợp.
  4. Đánh giá khách quan vai trò định hướng thẩm mỹ của Hội đồng Nghệ thuật và khẳng định sự đóng góp mang tính tiên phong của các thế hệ nghệ sĩ trẻ và nữ điêu khắc gia.
  5. Vận dụng và hoàn thiện khung lý thuyết tiếp biến văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình thị giác tại Việt Nam.
  6. Mở ra 3 hướng nghiên cứu mới: Điêu khắc công cộng đô thị, Điêu khắc sắp đặt đương đại và Số hóa di sản mỹ thuật hiện đại phục vụ công chúng trong kỷ nguyên mới.