Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 2013

Khám phá nghệ thuật tạo hình các tác phẩm điêu khắc đạt giải trong triển lãm toàn quốc giai đoạn 1973-2013, tôn vinh giá trị văn hóa nghệ thuật.

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

253
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIỂN LÃM ĐIÊU KHẮC TOÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1973 - 2013

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.4. Khái quát chung về Triển lãm điêu khắc Toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013

1.5. Triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 1963 - 1973

1.6. Triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 1973 - 1983

1.7. Triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 1983 - 1993

1.8. Triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 1993 - 2003

1.9. Triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 2003 - 2013

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TẠO HÌNH CỦA CÁC TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI TRONG TRIỂN LÃM ĐIÊU KHẮC TOÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1973 - 2013

2.1. Đặc điểm đề tài sáng tác

2.2. Đề tài về Lãnh tụ, cách mạng

2.3. Đề tài về phụ nữ và thiếu nhi

2.4. Đề tài về môi trường và khai thác yếu tố văn hóa truyền thống

2.5. Đề tài trừu tượng và hình khối cách điệu

2.6. Đặc điểm tạo hình khối và không gian qua thể loại sáng tác

2.6.1. Khối và không gian trong tác phẩm tượng tròn, phù điêu

2.6.2. Khối và không gian trong tác phẩm tượng có tính trang trí

2.6.3. Khối và không gian trong tác phẩm tượng có tính hoành tráng

2.6.4. Khối và không gian trong tác phẩm điêu khắc có yếu tố sắp đặt

2.7. Đặc điểm tạo hình theo chất liệu và kỹ thuật thể hiện

3. CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN, NHẬN ĐỊNH VỀ THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ QUA XU HƯỚNG, ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC TỪ CÁC TÁC PHẨM ĐẠT GIẢI TRONG TRIỂN LÃM ĐIÊU KHẮC TOÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1973 - 2013

3.1. Bàn luận về thành công và hạn chế qua các tác phẩm đạt giải

3.2. Xu hướng hiện thực tả thực truyền thống

3.3. Xu hướng khai thác cội nguồn văn hóa và ước lệ dân gian

3.4. Xu hướng trừu tượng

3.5. Bàn luận về thành công, hạn chế qua đội ngũ sáng tác

3.5.1. Sự nối tiếp thế hệ tác giả nhìn từ hệ thống tác phẩm đạt giải

3.5.2. Sự góp mặt của đội ngũ tác giả được đào tạo từ nước ngoài góp phần mở rộng biên độ sáng tác

3.5.3. Vấn đề đào tạo ngành điêu khắc trong một số cơ sở đào tạo

3.6. Nhận định về tác phẩm đạt giải và những đóng góp của điêu khắc Việt Nam qua các kỳ triển lãm 1973 - 2013

3.6.1. Nhận định về sự đóng góp từ đề tài sáng tác

3.6.2. Nhận định sự đóng góp về ngôn ngữ tạo hình, chất liệu

3.6.3. Đóng góp của các tác phẩm đạt giải trong Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc 1973 - 2013 với nghệ thuật Điêu khắc Hiện đại Việt Nam

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Điêu Khắc Toàn Quốc 1973 2013 Giá Trị

Luận án tập trung vào nghiên cứu nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc giai đoạn 1973-2013. Mục tiêu là làm rõ đặc điểm nghệ thuật, xác định giá trị, và chứng minh sự chuyển biến trong sáng tạo. Luận án này xem xét các khía cạnh như chủ đề, ngôn ngữ, chất liệu, phong cách, và xu hướng sáng tác của các tác phẩm. Từ đó, luận án lý giải những thay đổi trong tìm tòi sáng tạo, ngôn ngữ và hình thức biểu đạt, cũng như vai trò, ý nghĩa và những đóng góp vào sự đa dạng của nền Điêu khắc Hiện đại Việt Nam. Luận án cũng xem xét vai trò của Hội đồng nghệ thuật trong việc đánh giá và lựa chọn các tác phẩm đạt giải.

1.1. Tình Hình Nghiên Cứu Điêu Khắc Trong Nước Tổng Quan

Nghiên cứu về điêu khắc Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên, việc tập trung phân tích các tác phẩm đạt giải trong các kỳ triển lãm toàn quốc vẫn còn hạn chế. Luận án này sẽ bổ sung vào khoảng trống đó bằng cách hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các tác phẩm tiêu biểu. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các giai đoạn lịch sử cụ thể hoặc các nghệ sĩ cá nhân, trong khi luận án này sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về sự phát triển của nghệ thuật tạo hình trong giai đoạn 1973-2013.

1.2. Khái Quát Triển Lãm Điêu Khắc Toàn Quốc Lịch Sử Phát Triển

Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc được tổ chức định kỳ 10 năm một lần, bắt đầu từ năm 1973, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành điêu khắc ở Việt Nam. Các kỳ triển lãm này là nơi hội tụ các tác phẩm tiêu biểu, phản ánh xu hướng sáng tác và trình độ nghệ thuật của các nghệ sĩ. Triển lãm cũng là cơ hội để các nghệ sĩ giao lưu, học hỏi và giới thiệu tác phẩm của mình đến công chúng. Sự kiện này đã góp phần quan trọng vào việc định hình và phát triển Điêu khắc Hiện đại Việt Nam.

II. Đặc Điểm Tạo Hình Tác Phẩm Điêu Khắc Đạt Giải 1973 2013

Các tác phẩm đạt giải trong Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc giai đoạn 1973-2013 thể hiện sự đa dạng về đề tài, phong cách và chất liệu. Đề tài thường xoay quanh các chủ đề như lãnh tụ, cách mạng, phụ nữ, thiếu nhi, môi trường, và văn hóa truyền thống. Phong cách sáng tác cũng rất đa dạng, từ hiện thực tả thực đến trừu tượng và biểu hiện. Chất liệu sử dụng cũng phong phú, bao gồm gỗ, đá, đồng, thạch cao, và các vật liệu mới như composite, sắt, thép. Sự đa dạng này phản ánh sự phát triển và hội nhập của nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

2.1. Đề Tài Sáng Tác Điêu Khắc Lãnh Tụ Cách Mạng Xã Hội

Trong giai đoạn 1973-2013, các tác phẩm điêu khắc thường tập trung vào các đề tài liên quan đến lãnh tụ, cách mạng và các vấn đề xã hội. Các tác phẩm này thường mang tính tuyên truyền và giáo dục, nhằm ca ngợi những giá trị tốt đẹp của xã hội và khích lệ tinh thần yêu nước. Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm thể hiện sự phê phán và phản ánh những mặt trái của xã hội. Các tác phẩm này thường sử dụng ngôn ngữ biểu tượng và ẩn dụ để truyền tải thông điệp.

2.2. Chất Liệu Điêu Khắc Gỗ Đá Đồng Vật Liệu Mới

Sự đa dạng về chất liệu là một đặc điểm nổi bật của các tác phẩm điêu khắc trong giai đoạn này. Bên cạnh các chất liệu truyền thống như gỗ, đá và đồng, các nghệ sĩ cũng sử dụng các vật liệu mới như composite, sắt, thép và các vật liệu tổng hợp. Việc sử dụng các vật liệu mới cho phép các nghệ sĩ tạo ra những tác phẩm có hình thức và kết cấu độc đáo, đồng thời mở ra những khả năng mới trong biểu đạt nghệ thuật. Sự kết hợp giữa chất liệu truyền thống và hiện đại tạo nên sự phong phú và đa dạng cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam.

2.3. Phong Cách Điêu Khắc Hiện Thực Trừu Tượng Biểu Hiện

Các tác phẩm điêu khắc trong giai đoạn này thể hiện sự đa dạng về phong cách sáng tác. Bên cạnh phong cách hiện thực tả thực truyền thống, các nghệ sĩ cũng thử nghiệm với các phong cách trừu tượng và biểu hiện. Phong cách trừu tượng tập trung vào việc biểu đạt ý tưởng và cảm xúc thông qua các hình khối và đường nét. Phong cách biểu hiện tập trung vào việc thể hiện cảm xúc mạnh mẽ và cá tính của nghệ sĩ. Sự đa dạng về phong cách phản ánh sự tự do sáng tạo và sự phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

III. Thành Công Hạn Chế Xu Hướng Điêu Khắc 1973 2013

Luận án bàn luận về những thành công và hạn chế của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam trong giai đoạn 1973-2013 thông qua việc phân tích các tác phẩm đạt giải. Thành công thể hiện ở sự đa dạng về đề tài, phong cách và chất liệu, cũng như sự xuất hiện của nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng. Hạn chế thể hiện ở sự thiếu vắng những tác phẩm có tính đột phá và tầm vóc lớn, cũng như sự chưa đồng đều về trình độ nghệ thuật giữa các nghệ sĩ. Luận án cũng xem xét vai trò của các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật điêu khắc.

3.1. Xu Hướng Hiện Thực Tả Thực Truyền Thống Trong Điêu Khắc

Xu hướng hiện thực tả thực vẫn tiếp tục được duy trì trong giai đoạn này, đặc biệt trong các tác phẩm về đề tài lịch sử và cách mạng. Các nghệ sĩ theo đuổi xu hướng này thường tập trung vào việc tái hiện chân thực hình ảnh và sự kiện, nhằm truyền tải thông điệp một cách rõ ràng và dễ hiểu. Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm hiện thực tả thực mang tính khuôn mẫu và thiếu sáng tạo.

3.2. Khai Thác Văn Hóa Dân Gian Cội Nguồn Trong Điêu Khắc

Nhiều nghệ sĩ đã khai thác các yếu tố văn hóa dân gian và truyền thống trong tác phẩm của mình. Các yếu tố này có thể là các hình tượng, biểu tượng, hoặc kỹ thuật truyền thống. Việc khai thác văn hóa dân gian giúp các tác phẩm mang đậm bản sắc Việt Nam và tạo được sự gần gũi với công chúng. Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm khai thác văn hóa dân gian một cách hời hợt và thiếu chiều sâu.

3.3. Xu Hướng Trừu Tượng Thể Nghiệm Trong Điêu Khắc

Xu hướng trừu tượng ngày càng trở nên phổ biến trong giai đoạn này. Các nghệ sĩ theo đuổi xu hướng này thường tập trung vào việc biểu đạt ý tưởng và cảm xúc thông qua các hình khối và đường nét. Các tác phẩm trừu tượng thường mang tính cá nhân và thể hiện sự sáng tạo của nghệ sĩ. Tuy nhiên, cũng có những tác phẩm trừu tượng khó hiểu và thiếu tính thẩm mỹ.

IV. Đóng Góp Của Điêu Khắc Giá Trị Mỹ Thuật Việt Nam 1973 2013

Các tác phẩm đạt giải trong Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc giai đoạn 1973-2013 đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam. Các tác phẩm này không chỉ thể hiện trình độ nghệ thuật cao của các nghệ sĩ, mà còn phản ánh những biến đổi của xã hội và văn hóa Việt Nam trong giai đoạn này. Các tác phẩm này cũng góp phần nâng cao nhận thức của công chúng về nghệ thuật điêu khắc và khuyến khích sự sáng tạo trong lĩnh vực này.

4.1. Đóng Góp Về Đề Tài Sáng Tác Phản Ánh Xã Hội

Các tác phẩm điêu khắc đã phản ánh một cách chân thực và sinh động những vấn đề của xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1973-2013. Các tác phẩm này đã đề cập đến các vấn đề như chiến tranh, hòa bình, lao động, sản xuất, văn hóa, và môi trường. Việc phản ánh các vấn đề xã hội giúp các tác phẩm trở nên gần gũi và có ý nghĩa đối với công chúng.

4.2. Đóng Góp Về Ngôn Ngữ Tạo Hình Đa Dạng Biểu Cảm

Các tác phẩm điêu khắc đã thể hiện sự đa dạng và phong phú trong ngôn ngữ tạo hình. Các nghệ sĩ đã sử dụng nhiều kỹ thuật và phương pháp khác nhau để tạo ra những tác phẩm có hình thức và kết cấu độc đáo. Sự đa dạng trong ngôn ngữ tạo hình giúp các tác phẩm trở nên hấp dẫn và thu hút sự chú ý của công chúng.

4.3. Đóng Góp Cho Điêu Khắc Hiện Đại Hội Nhập Quốc Tế

Các tác phẩm điêu khắc đã góp phần vào sự phát triển của Điêu khắc Hiện đại Việt Nam và giúp ngành này hội nhập với thế giới. Các nghệ sĩ đã học hỏi và tiếp thu những xu hướng mới của nghệ thuật điêu khắc thế giới, đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam. Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại giúp nghệ thuật điêu khắc Việt Nam trở nên độc đáo và có giá trị.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIỂN LÃM ĐIÊU KHẮC TOÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1973 - 2013 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lịch sử nghiên cứu vấn đề đặt ra yêu cầu xác định tính mới của đề tài, theo đó, hệ thống tri thức trong các công trình nghiên cứu trước đây có vai trò nền tảng quan trọng trong việc tiếp cận nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013. Bên cạnh việc xác lập tính mới trong nghiên cứu, đề tài cũng xác định kế thừa và phát triển một số gợi ý tiềm ẩn ở những nghiên cứu trước đây. Tình hình nghiên cứu trong nước Trước một đối tượng nghiên cứu khá chuyên biệt, NCS đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về vấn đề và xác định qua một số nhóm tài liệu sau: 1.

Nhóm công trình nghiên cứu có nội dung về nghệ thuật điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013 Nguyễn Đỗ Cung (1993), Bàn về Mỹ thuật Việt Nam [37] được Viện Mỹ thuật xuất bản với ba phần nội dung chính. Phần một là nguồn tài liệu tập hợp các bài viết trên sách báo và tạp chí; Phần hai bao gồm những bài phỏng vấn, tọa đàm nói chuyện; Phần ba gồm các phụ lục bảng tra cứu, chú giải và những bài viết của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung. Nội dung cuốn sách tuy không tập trung nhiều về nghệ thuật ĐKHĐ, nhưng những vấn đề được đề cập đến như: Tính lạc quan trong chiến đấu của một loại điêu khắc; Góp phần tìm hiểu tính dân tộc trong nghệ thuật tạo hình nước ta cũng được NCS quan tâm khi đưa ra những lập luận về sự hình thành của ĐKHĐ bắt nguồn từ truyền thống. Viện Nghệ thuật (1992), Nghiên cứu Mỹ thuật [115], tuyển chọn một số bài viết nhân dịp 30 năm ngày thành lập Viện Mỹ thuật.

Nội dung của nguồn tài liệu này bao gồm: Những vấn đề về mỹ thuật truyền thống, vấn đề 13 về mỹ thuật gốm - dân gian, vấn đề về mỹ thuật cận hiện đại - thế giới. Trong đó bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án đó là: “Điêu khắc hiện đại Việt Nam tiếp thu truyền thống như thế nào”, “Nét bình dị của Hứa Tử Hoài và niềm trăn trở của Tạ Quang Bạo”. Đây là những bài viết ghi dấu những vấn đề của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam là loại hình nghệ thuật lâu đời bậc nhất trong bốn ngàn năm lịch sử dân tộc. Từ đó lý giải điêu khắc hiện đại Việt Nam đã tiếp thu truyền thống góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà đầy sáng tạo.

Dấu mốc tiếp thu đó là những cuộc triển lãm điêu khắc toàn quốc bắt đầu từ năm 1973, với kết quả được đánh dấu cứ 10 năm một lần. NCS sẽ tiếp cận nguồn tài liệu này như những minh chứng về nhận định đánh giá các cuộc triển lãm điêu khắc của những người trong cuộc, đóng góp cho sự hình thành phát triển của ĐKHĐ Việt Nam. Trần Thị Biển (2003), “Cảm nhận từ các tác phẩm điêu khắc qua triển lãm Mỹ thuật thủ đô 2003”, Nghiên cứu Mỹ thuật [15]. Với nội dung triển lãm mỹ thuật thủ đô là hoạt động nghệ thuật thường niên được tổ chức vào dịp 10 - 10 (ngày giải phóng thủ đô).

Nhìn từ các tác phẩm điêu khắc tại triển lãm này mang nhiều phong cách và chất liệu sống động. Nhiều tác phẩm có cách xử lý khối và không gian theo cách tư duy mới mặc dù vẫn theo chủ đề về lịch sử hào hùng của thủ đô Hà Nội. Các tác phẩm điêu khắc ở triển lãm này đã phác họa hình ảnh của Hà Nội xưa và nay với triết lý chứa đựng lối sống riêng. Các tác phẩm điêu khắc được giải ở triển lãm này thể hiện tính trữ tình, nghệ thuật tạo khối có hướng mở về nội dung.

Đây là nội dung được NCS tham khảo khi nhận xét về những tác phẩm được giải trong các triển lãm ĐKTQ cũng là nội dung nghiên cứu của luận án. Thanh Cao (2014), “Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của nhà điêu khắc Đinh Rú”, Nghiên cứu Mỹ thuật, số 1, tr. Nội dung bài viết có phân tích và bàn về các tác phẩm của nhà điêu khắc Đinh Rú, trong đó có những tác phẩm được trưng bày trong triển lãm điêu khắc toàn quốc. Tác 14 phẩm Hũ gạo kháng chiến được kết hợp hình ảnh của cô gái Chăm đội nước trong trang phục cô gái Tây Nguyên.

Nhà điêu khắc Đinh Rú đã sáng tác nhiều tác phẩm gắn với chủ đề phụ nữ nhưng mỗi tác phẩm có cách tạo hình và toát lên sự đồng điệu về sự mộc mạc. NCS tiếp cận nội dung này khi vận dụng phân tích về những tác phẩm điêu khắc được giải những năm đầu của triển lãm điêu khắc toàn quốc. Từ đó, những triển lãm sau tiếp nối, kế thừa, phát huy để duy trì hoạt động có ý nghĩa này. Thái Hanh (2003), “Sự trưởng thành vượt bậc của nghệ thuật điêu khắc hiện đại Việt Nam”, Nghiên cứu Mỹ thuật [48], tác giả hệ thống khái quát về các cuộc triển lãm điêu khắc toàn quốc từ năm 1973 đánh dấu lần thứ nhất được hình thành do sự thúc bách khách quan của thành tựu đang lớn mạnh của nền nghệ thuật điêu khắc hiện đại cách mạng Việt Nam.

Với xuất phát điểm của triển lãm lần đầu 5 - 7 tác giả đến nay đã có đội ngũ điêu khắc hùng hậu được tiếp nối từ các thế hệ. Mặc dù lúc đầu còn hạn chế về số lượng tác giả tham gia nhưng được gọi là cuộc “ra quân” đầu tiên của ngành điêu khắc hiện đại dù đã được hình thành từ điêu khắc truyền thống. Qua thời gian, các cuộc triển lãm điêu khắc định kỳ vẫn được duy trì, phát triển với nhiều tác phẩm và các tác giả nổi bật. Những triển lãm định kỳ các lần 2, 3, 4 đã mở rộng đề tài phản ánh hiện thực xã hội, đánh dấu sự chuyển hóa ngôn ngữ nghệ thuật hình khối, đẩy lùi sự đơn điệu nghèo nàn để tạo sự phong phú, đa dạng mang lại cho người xem những khoái cảm, hấp dẫn và lạ mắt.

NCS tham khảo nội dung này trong quá trình thực hiện luận án của mình về các tác phẩm được giải trong các triển lãm ĐKTQ. Lê Quốc Bảo (2003), “Trước thềm triển lãm điêu khắc toàn quốc 10 năm (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [9]. Nội dung bài viết đánh giá triển lãm điêu khắc toàn quốc chính là cái “gạch nối” giữa nghệ thuật điêu khắc truyền thống và nghệ thuật điêu khắc hiện đại. Triển lãm điêu khắc toàn quốc 10 năm được coi như “cuộc hội quân lớn” của giới điêu khắc Việt Nam, 15 đây cũng là một sân chơi độc lập, chuyên biệt.

Cơ hội cho các nhà điêu khắc tự khẳng định mình và biết tự điều chỉnh mình, nhận biết nền điêu khắc nước nhà với khu vực và thế giới. Những thập niên 1993 - 2003 đã xuất hiện thế hệ nhà điêu khắc trẻ tự tin, say nghề dám khẳng định mình trên con đường tìm kiếm cái đẹp trong lĩnh vực điêu khắc. Ngoài tượng đài, tượng tròn, phù điêu đã sớm đi vào không gian của mọi nhà, mọi không gian công sở, cơ quan. Đây cũng là vấn đề cùng nhìn nhận để khuyến khích sự phát triển của nghệ thuật ĐKHĐ.

Bên cạnh đó, cần bàn đến những giải pháp khuyến khích đường lối, chính sách cho loại hình nghệ thuật này phát triển tích cực hơn. Tài liệu này được NCS tham khảo khi thực hiện nội dung nghiên cứu của luận án. Phạm Quang Trung (2003), “Một số cảm nghĩ về triển lãm điêu khắc toàn quốc lần thứ IV (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [105]. Bài viết nhắc đến các triển lãm điêu khắc định kỳ những lần đầu thường sáng tác với phong cách hiện thực, những tác phẩm được giải mang phong cách sáng tác mới được xem như sự nhận định sự đổi mới được công nhận từ phía Hội đồng nghệ thuật.

Ngoài những đề tài chiến tranh là những đề tài mang theo ước mong hạnh phúc đời thường, có lẽ đó cũng là những đề tài thường trực trong mỗi nghệ sĩ. Việc xuất hiện những tác phẩm sắp đặt installation trong triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 2003 (lần IV) được xem như là sự nỗ lực thể hiện quan niệm đổi mới của Hội đồng nghệ thuật/Ban tổ chức. Thông qua các tác phẩm điêu khắc và cả những tượng đài được thực hiện trong những năm qua, tác giả bài viết cho rằng tiềm năng đội ngũ làm điêu khắc Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. NCS tham khảo nội dung này dưới góc nhìn được đánh giá, nhận xét từ những tác phẩm, tác giả được giải.

Đặng Thanh Vân (2003), “Sự phát triển của điêu khắc Việt Nam qua triển lãm 10 năm (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [112], bài viết điểm lại các tác phẩm tham gia triển lãm những năm đầu 1973, 1983, 1993, 2003 mỗi đợt triển lãm là sự thực hiện chấm giải theo tiêu chí của Ban tổ chức. Ví dụ 16 năm 1993 - 2003, Ban tổ chức đã đưa ra tiêu chí với mong muốn tác phẩm điêu khắc phải đạt chất lượng nghệ thuật tốt, có tính nghề nghiệp vững vàng, có tìm tòi sáng tạo. Tác phẩm phải thể hiện được tính dân tộc và thời đại. Trên cơ sở đó cần chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ điêu khắc ngày càng được cách tân, hiện đại, đề tài phong phú đa dạng.

Triển lãm điêu khắc lần 4 khẳng định sự chín chắn và sự phát triển vượt trội về nghề của các tác giả trẻ. Nhiều tác phẩm có bố cục đẹp, chất liệu phong phú với các xu hướng hiện thực, xu hướng trở về cội nguồn, xu hướng biểu hiện cùng ngôn ngữ của nghệ thuật sắp đặt. Tác giả đưa ra nhận định điêu khắc là một ngành nghệ thuật kén chọn người thưởng thức, phải được giáo dục về mỹ thuật mới hiểu được. NCS sử dụng tài liệu này làm tham khảo về các số liệu và thông tin về các tác giả, tác phẩm có liên quan đến nội dung luận án.

Tác giả bài viết cho rằng 2 lần triển lãm đầu còn đơn điệu và hạn chế về tác giả, tác phẩm cùng nội dung về hình tượng người lính, cuộc chiến tranh cách mạng, thiếu vắng những tác phẩm phản ánh tình yêu lao động, sinh hoạt những ước mơ, tâm linh. Đến triển lãm lần ba là sự xuất hiện phong phú, đa dạng, cách khai thác đề tài rộng mở hơn với nhiều phong cách nghệ thuật. Bằng nhiều thể loại tượng tròn, gò đồng, chạm nổi theo hướng lập thể, ước lệ… cùng nhiều chất liệu mới như nhôm, inox, thép, gốm, sành, đá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Nghệ Thuật Tạo Hình: Tác Phẩm Đạt Giải Triển Lãm Điêu Khắc Toàn Quốc 1973 - 2013" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và biến đổi của nghệ thuật điêu khắc tại Việt Nam trong khoảng thời gian 40 năm. Tác phẩm không chỉ nêu bật những tác phẩm xuất sắc đạt giải mà còn phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến nghệ thuật tạo hình trong giai đoạn này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các nghệ sĩ, phong cách nghệ thuật và xu hướng sáng tạo, từ đó nâng cao hiểu biết về nghệ thuật điêu khắc Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ yếu tố lãng mạn trong tác phẩm hội họa việt nam giai đoạn 1945 1975 về đề tài chiến tranh cách mạng, nơi khám phá yếu tố lãng mạn trong nghệ thuật hội họa, hay Luận án tiến sĩ yếu tố truyền thống trong nghệ thuật sắp đặt việt nam giai đoạn 1995 2018, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật. Cuối cùng, Luận văn cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh việt nam thời kỳ đổi mới sẽ mang đến cái nhìn mới mẻ về nghệ thuật nhiếp ảnh trong bối cảnh đổi mới, mở rộng thêm góc nhìn về nghệ thuật Việt Nam.