Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài LA được NC phát triển trên cơ sở lý luận của Mỹ thuật học, quan điểm Mỹ học của M. Cagan về cái đẹp và giá trị nghệ thuật là nét đẹp vĩnh hằng theo thời gian, phụ thuộc vào yếu tố nhân sinh quan của thời đại. Thông qua việc tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các công trình NC đi trước kết hợp sử dụng PP tiếp cận liên ngành Mỹ thuật học với Văn hóa học, Lịch sử học, Dân tộc học, Thẩm mỹ học và Xã hội học nghệ thuật để phân tích sự kế thừa, tiếp biến văn hóa trong qua quá trình cộng cư có giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên cơ sở phân kỳ mỹ thuật giai đoạn di dân Việt khai hoang, mở cõi và quần tụ cư nơi vùng đất mới. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống tư liệu tập hợp được, có liên quan đến đề tài LA từ năm 1973 đến nay, LA chia nhóm các công trình NC như sau: Mỹ thuật học, Văn hóa học, Lịch sử học.
Mỹ thuật học NNC Trần Lâm Biền, tác giả của nhiều công trình NC chuyên sâu từ năm 2017 cho đến nay về lĩnh vực Văn hóa, Xã hội và Mỹ thuật trang trí đình làng đặc biệt là đình làng tại Bắc Bộ. NNC có cái nhìn tổng quan về hình tượng trang trí truyền thống, giá trị biểu tượng trong trang trí đồ thờ, giá trị điêu khắc trang trí, giá trị phù điêu trang trí trên di sản Văn hóa… qua các công trình NC như: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt (Vùng châu thổ sông Hồng)[14], Đồ thờ trong di tích đình làng của người Việt [15], Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [16], Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa [17], Đình làng Việt (Châu Thổ Bắc Bộ) [18], Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ [19]… NNC đã khái quát về sự hình thành và phát triển của đình làng Việt theo phân kỳ lịch sử. Từ thời Trần, đình là nhà nghỉ chân công cộng, đình phát triển hưng thịnh vào thế kỷ XVI thời Mạc tại Bắc Bộ. Kiến trúc đình làng tại Bắc Bộ là kiến trúc gỗ, có những nét đặc trưng về màu sắc kiến trúc, kết cấu mái cong, thân đình thấp… NNC có khá nhiều nhận định, phân tích về giá trị và ý nghĩa 9 các hình tượng, biểu tượng trang trí truyền thống như: Tứ linh, Tứ thời, Mặt Trời, Nhật nguyệt, Bát bửu… Những hình tượng trang trí này biến đổi theo thời gian và dòng chảy phát triển của đình làng, đồng thời là những công trình kiến trúc truyền thống.
Hình tượng trang trí truyền thống, biểu tượng Phát sáng… được nghệ nhân khắc họa, thể hiện qua hình thức chạm khắc. Mỗi hình thức chạm khắc gắn liền với tư duy sáng tạo dân gian và đặc trưng vùng miền nơi đó thông qua các yếu tố tạo hình và chất liệu trang trí. Những công trình NC của ông đã phân tích rất nhiều về hình thức chạm khắc dạng bong kênh, phong cách tế kiểu với những hình tượng trang trí Rồng, không gian đồng hiện trên các cấu kiện trang trí đình làng, khám thờ, cửa võng… là đặc trưng phong cách chạm khắc trang trí đình làng tại Bắc Bộ. Chuỗi các công trình NC của NNC Trầm Lâm Biền là tài liệu rất quý giá, đáng tin cậy mà LA có thể xem đó là những cơ sở lý luận nòng cốt để NC đề tài LA này.
Bộ tư liệu có giá trị mỹ thuật cao với hình ảnh Kiến trúc đình làng Việt qua tư liệu bảo tồn di tích đình làng tập 1, 2 và 3 của NNC Hoàng Đạo Cương là nguồn tài liệu ảnh chất lượng cao, sắc sảo về hình ảnh kiến trúc và hình tượng trang trí của 39 ngôi đình làng có kiến trúc lâu đời tại Bắc Bộ. Hình ảnh tư liệu qua công trình NC miêu tả rõ nét hình thức chạm khắc tỉ mỉ, màu gỗ sáng tự nhiên, không gian đồng hiện, ước lệ hóa với các hình tượng trang trí Tứ linh. Đó là những biểu hiện đặc trưng nghệ thuật chạm khắc gỗ mà đình làng tại Bắc Bộ và đình làng tại Nam Bộ cũng như Bình Dương cần được đối chiếu và so sánh để làm rõ đặc trưng, đối tượng NC của LA. Hình tượng trang trí cổ trong công trình giai đoạn Triều Nguyễn kết hợp với tư liệu hình ảnh trong quyển Hoa văn cung đình Huế của NNC Ưng Tiếu [96] được vận dụng cho NC hình tượng trang trí trong nội dung của LA.
Tác giả đã phân tích sâu và chi tiết từng loại hình tượng trang trí như: Tứ linh, Tứ thời, Tứ hựu, Phát sáng… và ý nghĩa của chúng. Khảo sát thực địa ở các đình làng tại Bình Dương, những hình tượng trang trí này thường xuyên hiện hữu ở các bao lam, đường viền chạm nổi trên các khám thờ, nhang án, đồ thờ… Kết hợp với các văn tự Hán Nôm được NNC Ưng Tiếu [96] giới thiệu trên các chạm khắc thềm bậc cửa, khám thờ là 10 hình tượng trang trí của mỹ thuật thời Nguyễn, LA đã so sánh và đối chiếu với các văn tự Hán Nôm trên các đồ thờ, hoành phi liễn đối tại các đình Tân An, đình Dĩ An, đình Nhựt Thạnh… cho thấy nghệ nhân Bình Dương đã tiếp thu và thể hiện lại hình tượng trang trí văn tự Hán Nôm với nhiều hình thức và chất liệu khác nhau như: Khắc gỗ, đắp nổi bê tông và sơn son thếp vàng. Điều này làm căn cứ để LA phân tích và kết luận nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương có sự tiếp biến văn hóa trong tư duy sáng tạo dân gian thông qua hình tượng trang trí ở các đình làng tại Bình Dương. NNC Huỳnh Lứa đã nhận định “nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt ở Nam Bộ không phong phú và đa dạng như nghệ thuật tạo hình dân gian ở miền Bắc, nơi có vốn bề dày lịch sử phát triển qua hàng chục thế kỷ.
Tuy nhiên, nó cũng có những đặc điểm đặc sắc riêng đáng chú ý” [70, tr. Từ đó, NNC có những phân tích sâu sắc về nghệ thuật chạm khắc gỗ của người Việt ở Nam Bộ có nhiều thể loại khác nhau như: Tượng tròn, chạm lộng và phù điêu. Tượng tròn thường tạc các tượng cầm thú, chim muông, ít chú ý chạm khắc nhân tượng. Chạm lộng là thể loại đặc sắc nhất trong nghệ thuật chạm khắc gỗ của nghệ nhân Nam Bộ.
Chạm lộng thường sử dụng trong quá trình tạo tác các bao lam, rìa nhang án, nhang án… Tác phẩm thường tập trung vào hình tượng trang trí truyền thống của nghệ thuật dân gian, tôn giáo, cung đình. Mặc dù với hình tượng trang trí truyền thống, nghệ nhân đã thể hiện đường nét con bướm, con chim, hoa quả với nhiều khác biệt so với hình tượng trang trí cùng loại vùng miền khác. NNC đã trình bày cụ thể hai khái niệm về nghệ thuật chạm lộng phong cách tế kiểu và phong cách mảng khối. Với phong cách tế kiểu, người nghệ nhân phải có tay nghề tinh xảo, bởi tác phẩm được chạm, đục bằng những nét rất thanh mảnh, nhiều đoạn, nhiều nét chỉ nhỏ như cọng tăm, que nhang.
Những nét thanh, nhỏ đó lại được chạm chồng lên nhau thành nhiều lớp, nhiều chùm đan xen nhau. Với phong cách mảng khối, hình tượng trang trí sự vật được thể hiện bằng những nét chạm vạm vỡ, chắc khỏe. Đó là những mảng lớn, thọat nhìn có vẻ thô sơ. Người ta thường chạm rất ít lớp, hoặc chỉ chạm một lớp, tất cả các chi tiết đều được 11 phô bày trên một mặt phẳng với nét đục tự do, phóng khoáng, bố cục tạo nhiều khoảng và không gian tác phẩm thường rộng lớn, bao la.
Phù điêu (chạm nổi) buổi đầu không phát triển mạnh bằng chạm lộng. Đến đầu thế kỷ XX, chạm trổ được phát triển mạnh mẽ hơn. Nét chạm cũng sáng tạo và điêu luyện hơn. Nét đặc sắc của thời kỳ này là nhiều nghệ nhân đã sử dụng một cách thành thạo luật phối cảnh của mỹ thuật hiện đại phương Tây đưa vào trong tác phẩm chạm khắc với hình tượng những thắng cảnh của đất nước.
Mặc dù, hình thức chạm nổi hình tượng trang trí phong cảnh đất nước, thiên nhiên bằng chất liệu gỗ có vận dụng luật phối cảnh trong tạo hình sáng tác mà nghệ nhân Nam Bộ đã làm được nhưng với hình thức này, nghệ nhân Bình Dương đã sử dụng hình thức đắp nổi, chất liệu bê tông sơn màu vào trang trí các tác phẩm tại đình làng Bình Dương. Về vấn đề nghệ thuật tạo hình dân gian đã được NNC đưa ra những kết luận khoa học then chốt giúp LA có cơ sở NC, phân tích và chứng minh nhận định những đặc trưng của nghệ thuật trang trí đình làng tại Bình Dương, là một phần mục đích NC của LA như sau: “Biểu hiện rõ nhất… là xu hướng phá vỡ các hình tượng trang trí cặp đôi cổ điển và đưa vào tác phẩm các hình nét hồn hậu của chim muông, cây trái địa phương, làm thoả mãn tâm cảm của người dân vùng đất mới” [70. Công trình Địa chí Bình Dương tập 04 [122] do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phát hành năm 2010, là công trình NC lớn của tỉnh có hàm lượng khoa học cao, vừa mang tính tuyên truyền văn hóa và tài liệu nghiên cứu, giáo dục. Công trình cung cấp thông tin về loại hình cư trú, nếp ở, đặc trưng văn hóa của người dân Bình Dương xưa, phân loại cấu trúc nhà cổ Nam Bộ… Trang 240 đến 243, chương 6, NNC Trương Phi Đức có bàn luận về Mỹ thuật trang trí truyền thống tại đình làng.
Tác giả phân tích chức năng hành chính và văn hóa của đình, hướng xây dựng đình “tả thanh long, hữu bạch hổ”, kiểu thức tạo hình của thời Hậu Lê và triều Nguyễn nên thường có dạng mặt bằng hình chữ nhật dạng tự Nhất hoặc chữ Đinh, giới thiệu các khu vực chính trong đình được thờ tự quy định chặt chẽ gồm các đối tượng thờ tự. Tiền đình thường có bức bình phong hình tượng trang trí chúa sơn lâm, trên bàn thờ thường có chữ Thần được lộng trong khung gỗ và đôi Hạc đứng trên mai Rùa, nhang án được 12 chạm trổ và sơn son thếp vàng, các hoành phi liễn đối… Tác giả miêu tả sơ lược các đối tượng trang trí như: Lưỡng long tranh châu, Bát Tiên, Cá hóa long, Chim Phụng ngậm cuốn thư… chất liệu sành tráng men, gỗ, đúc đồng, bê tông với các hình thức chạm trổ, sơn son thếp vàng, vẽ màu.