phần mở đầu ( 7 trang), nội dung ( 54 trang), kết luận ( 2 trang). Phần nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung để nghiên cứu đề tài ( 12 trang) Chƣơng 2: Nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc gỗ đình Hàng Kênh. Hải Phòng ( 31 trang) Chƣơng 3: Giá trị và vai trò nghệ thuật chạm khắc gỗ đình Hàng Kênh, Hải Phòng ( 11 trang) Ngoài ra luận văn còn có tài liệu tham khảo, phụ lục ảnh minh họa 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm “ Nghệ thuật chạm khắc gỗ” Theo Từ điển Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, “điêu hắc là loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc thù nhƣ: hình, khối, không gian, thể hiện những tác phẩm có không gian ba chiều (tƣợng tròn), hoặc hai chiều nhƣ (phù điêu, chạm khắc) bằng cách đắp, gọt, đẽo, cƣa, hoan, mài, hàn, gắn… từ những chất liệu dễ đông cứng nhƣ thạch cao, xi măng, nhựa, đất sét hoặc từ những khối thuần chất nhƣ gỗ, đá, im loại…Điêu hắc còn là nghệ thuật nặn tƣợng hoặc tạc tƣợng, đƣợc cảm nhận qua kênhthị giác hay xúc giác” [12, tr.
Chạm là kỹ thuật đục xuống mặt vật liệu (gỗ, đá,.) làm nổi bật các hình tƣợng nghệ thuật muốn diễn tả. Các kỹ thuật chủ yếu là chạm nổi, chạm lộng, chạm kênh bong. Chạm khắc gỗ đã đƣợc phát triển qua nhiều thời đại đặc biệt là từ đời nhà Lý đến nay còn lƣu tru ền lại nhiều tác phẩm chạm khắc có giá trị. Nhiều đình chùa, miếu cổ đƣợc chạm trổ rất tinh vi.Những hoa văn trang trí, những con rồng, phƣợng đƣợc chạm khắc tỉ mỉ, tự nhiên, sống động.
Nhiều pho tƣợng phật bằng gỗ đƣợc bàn tay tài hoa của nghệ nhân sáng tạo rất độc đáo có giá trị lịch sử và thẩm mỹ cao. Có thể nói những sản phẩm chạm khắc gỗ ở Việt Nam có nét tƣơng đồng với các sản phẩm chạm khắc gỗ của Trung Quốc do sự giao lƣu văn hóa giữa hai dân tộc. Từ xƣa đến nay, chúng ta đã tiếp thu từ Trung Quốc về mẫu mã bằng nhiều cách, sau đó phát triển thành những sản phẩm có nét độc đáo riêng, sinh động và phong phú, phù hợp với đặc tính của ngƣời Việt. Tác giả Thái Bá Vân (1997),Tiếp xúc với nghệ thuật, phần nghiên cứu “Điêu hắc đình làng”, đã trình bày một cách sâu sắc về nghệ thuật điêu hắc đình làng.
Qua đó, ông nhận định:“Loại hình nghệ thuật nà dƣới góc độ văn 10 hóa là sự nối tiếp nền mỹ thuật truyền thống của dân tộc” và khẳng định, “nghệ thuật điêu hắc đình làng mang tính tru ền thống, có sự kế thừa và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử”. 303 - 304] Tác giả Trƣơng Du Bích trong “Điêu hắc đình làng”, thì khẳng định, “Nghệ thuật điêu hắc đình làng hông chỉ đơn thuần mang tính chất trang trí mà còn tác động mạnh đến cấu kiện kiến trúc về tính thẩm mỹ, làm cho tổng thể công trình kiến tr c có đƣợc tiếng nói mới - Tiếng nói t m tƣ, tình cảmcủa ngƣời d n lao động”. 40 - 45] Từ những nhận định trên đã gi p ch ng ta hiểu chạm khắc là kỹ thuật sử dụng trong nghệ thuật điêu hắc. Chạm khắc gỗ là nghệ thuật tạo hình,sử dụng kỹ thuật tạo nên những hình khối, đƣờng nét nghệ thuật, lên bề mặt chất liệu rắn bằng cách cƣa, hoan, đục, khắc, để làm nổi bật những hình tƣợng nghệ thuật mà ngƣời nghệ sĩ muốn diễn tả trên chất liệu gỗ.
Các kỹ thuật chạm chủ yếu (thấp, vừa và cao), chạm lộng, chạm kênh bong và chạm thủng là những kỹ thuật phổ biến trong làng mỹ thuật. Chạm khắc gỗ là một trong những thể loại của nghệ thuật điêu hắc. Nói đến chạm khắc gỗ là nói đến hình, khối và ta có thể sờ vào khối đó để cảm nhận đƣợc. Hình khối chiếm một vị trí nhất định trong không gian, nghệ thuật chạm khắc gỗ thƣờng đƣợc thể hiện bằng những chất liệu bền chắc để có thể tồn tại với không gian, thời gian và chịu đƣợc tác động trực tiếp của thời tiết khắc nghiệt nhƣ: nắng, mƣa, gió, bão… Các chất liệu gỗ thƣờng đƣợc sử dụng để chạm khắc nhƣ; gỗ mít, thị, lim, vàng tâm hay gỗ dổi, nhƣng sử dụng nhiều nhất vẫn là gỗ mít và gỗ lim.Mỗi chất liệu đều có lợi thế và tiếng nói riêng trong biểu đạt nghệ thuật tạo hình.
Nhìn một cách hái quát, nghệ thuật chạm hắc gỗ ở đình làng phát triển từ những bƣớc đầu tiên ở thế ỷ XVI, đạt dấu ấn rực rỡ đỉnh cao ở thế ỷ XVII, chững lại, chín muồi ở thế ỷ XVIII và thoái trào ở thế ỷ XIX. Giá trị nhiều mặt mà chạm hắc đình làng để lại tập trung ở di sản điêu hắc đình 11 làng thế ỷ XVI - XVII - XVIII. Điêu hắc đình làng của 3 thế ỷ nà đại diện điển hình nhất cho toàn bộ nghệ thuật chạm hắc ở đồng bằng Bắc Bộ. Khái quát về đình Hàng Kênh, Hải Phòng.
Ngƣời Việt từ xa xƣa hi dựng làng, lập ấp đã biết quan t m đến vấn đề lựa chọn địa thế đất để thuận lợi cho việc làm ăn và sinh hoạt, tận dụng đƣợc những lợi thế cảnh quan của thiên nhiên. “Thứ nhất dƣơng cơ, thứ nhì âm phần”. Ngƣời ta tin rằng ở thế đất tốt sẽ ăn nên làm ra, đón điềm lành, tránh điềm dữ. Chọn thế đất đóng vai trò đặc biệt quan trọng, họ chọn đất dựng đình phía sau phải có đất cao làm chỗ dựa (gọi là hậu chẩm).
Hai bên cần có thế đất “ta ngai”, tả có Thanh Long, hữu có Bạch Hổ, phía trƣớc có minh đƣờng, tức là có nƣớc “tụ thủ ” cũng tức là tụ linh, tụ ph c. Đằng xa phía trƣớc có án che (gọi là tiền án). Chúng ta hay gặp nhiều đình làng hƣớng mặt ra sông, nhất là chỗ sông uốn h c. Đó là thế đất “thè lè lưỡi trai không ai thì nó, khum khum gọng vó chẳng nó thì ai” tức là hu đất bồi.
Tuy nhiên, nhiều làng không có những thế đất thuận lợi theo phong thủy, ngƣời ta phải tạo ra bằng cách đào hồ, ao hay giếng lớn trƣớc đình làm thế đất “tụ thủy”. Việc tìm đất đều do thầ địa lý đảm nhận, đặt ngôi đình ở vị trí đắc địa mới mong đƣợc thần linh ban cho dân làng mạnh khỏe, ăn nên làm ra.72-76] Qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay nhiều đình làng chỉ còn đọng trong kí ức của ngƣời dân Hải Phòng. Với 45 ngôi đình đƣợc xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có những ngôi đình rất nổi tiếng đƣợc mọi ngƣời biết và nhắc đến nhƣ đình Kiền Bái (huyện Thủ Ngu ên), đình Hàng Kênh, Dƣ Hàng (quận Lê Ch n), đình Nh n Mục, Quán Khái (huyện Vĩnh Bảo). Trong số đình đó, đình Hàng Kênh nổi lên với vẻ đẹp mộc mạc về nghệ thuật chạm khắc và kết cấu kiến tr c độc đáo.) 12 Đình Hàng Kênh có tên chữ là đình Nh n Thọ, nằm ở phố Ngu ễn Công Trứ phƣờng Hàng Kênh, quận Lê Ch n, thành phố Hải Phòng.
Đ là ngôi đình thờ đức vƣơng Ngô Qu ền, có giá trị lịch sử, iến tr c, điêu hắc vào loại nhất nhì của thành phố Hải Phòng. Đình nằm trong trung t m thành phố, có huôn viên rộng rãi, thuận lợi về giao thông, đƣợc hởi dựng vào cuối thế ỷ XVII.Trải qua 300 năm, đình vẫn đƣợc bảo lƣu gần nhƣ ngu ên vẹn một công trình iến tr c gỗ to lớn, bề thế, đƣợc lát ván sàn. Trong đình hiện có 368 mảng chạm hắc với đề tài là rồng, phƣợng, l n và rùa, ở mặt bên trong là 252 mảng, bên ngoài là 116 mảng. Trong đó có 156 mảng chạm hắc là rồng thời Hậu Lê, có hơn 400 con rồng to, nhỏ, mỗi con mỗi vẻ xoắn xuýt tạo nên một bầ uốn lƣợn rất sống động.
Rồng đƣợc tạc theo từng ổ, có rồng mẹ và các rồng con. Ngoài đề “Long L Qu Phụng”, hoa cỏ cũng là 1 đề tài thƣờng xu ên trong tạo hình của ngƣời xƣa, nó làm cho ngôi đình trở nên gần gũi và phù hợp với t m lý ngƣời Việt. Bên cạnh đó còn có biểu tƣợng gắn với lực lƣợng tự nhiên với ĩ thuật chạm hắc tinh xảo nhƣ chạm lộng, chạm thủng, chạm bong ênh. Thể hiện những giá trị nghệ thuật và lịch sử, văn hóa, xã hội của địa phƣơng.bảo tồn đƣợc hàng trăm mảng chạm hắc gỗ tinh xảo.
Đình Hàng Kênh cũng giống bao ngôi đình hác phản ánh đậm nét tƣ duy dân dã của ngƣời Việt xƣa. Đình tọa lạc trên một khuôn viên rộng chừng 6000m2 với bố cục kiến trúc truyền thống, gồm các hạng mục chính, tính từ ngoài vào là hồ bán nguyệt, nghi môn, sân, tả hữu vu và hu đại đình. Ngoài ra còn có văn từ và một số hạng mục phụ trợ khác.Đình có iến trúc hình chữ công quay về hƣớng t là hƣớng đắc địa, hƣớng đƣợc coi là khá phù hợp với quy luật của m dƣơng đối đãi, ngƣời dân quan niệm rằng theo hƣớng này là thần thƣờng xu ên ban phƣớc và che chở cho họ.) Tiền tế có bố cục mặt bằng hình chữ nhất (-), nằm song song với hậu cung đƣợc nối với nhau là tòa ống muống. Ba gian đƣợc thông với nhau tạo 13 nên một tổng thể bố cục kiến trúc hình chữ Công (I).
Tòa tiền tế gồm bốn mái đều đƣợc lợp bằng ngói mũi hài (hai mái chính và hai mái đầu hồi) đƣợc giao nhau ở âu tàu, tạo thành bốn đầu đao cong v t cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát. Khoảng cách giữa hai mái chính là bờ nóc đƣợc xây bằng gạch nằm phía trên thƣợng lƣơng và chính giữa có đắp hình tƣợng “lƣỡng long chầu nguyệt”.Hai đầu thƣợng lƣơng có hai con kìm với dáng “long hồi”, ở phía trên thƣợng lƣơng; phân cách giữamái chính và mái phụ là bờ guột, đƣợc gắn chính giữa là hai tƣợng nghê với hƣớng quay khác nhau, một con qua vào hƣớng mái , một con qua hƣớng xuống. Theo kết quả khảo sát và đo đạc, tòa tiền tế có chiều dài 28,99m; chiều rộng 10,25m và chiều cao tính từ chân cột đến thƣợng lƣơng là 8,25m. Gồm 7 gian, với kết cấu đỡ hoành mái của toà tiền tế gồm 8 bộ vì, gác trên 4 hàng cột (hai hàng cột cái và hai hàng cột quân).
Trong lòng toà tiền tế có hệ thống ván sàn gỗ, trừ khu vực gian giữa (ván sàn lòng thuyền). Bốn mặt của kiến tr c đƣợc bao che bằng ván gỗ lim. Kết cấu khung toà tiền tế đƣợc dựng trên 40 cột gỗ lim, kê trên 40 tảng đá xanh ngu ên hối đƣợc tạc thành hai cấp, trên tròn dƣới vuông.