Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Thái Bình, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Thành, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (năm 2023), thuộc ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, mã số 9210101.

Về tính cấp thiết, hoạt động Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc tổ chức định kỳ 10 năm một lần vào các năm 1973, 1983, 1993, 2003 và 2013 giữ vai trò nòng cốt trong việc đánh dấu từng chặng đường phát triển của nền điêu khắc hiện đại Việt Nam. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), sự đổi mới tư duy lý luận đã thúc đẩy hoạt động sáng tác mỹ thuật chuyển mình mạnh mẽ. Hệ thống tác phẩm đạt giải thưởng qua 5 kỳ triển lãm phản ánh diện mạo nghệ thuật, sự kế thừa truyền thống cũng như xu hướng hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào khảo sát toàn diện và có hệ thống về nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm đạt giải dưới góc độ mỹ thuật học. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo tả từng trường hợp tác giả, tác phẩm riêng lẻ, chưa đặt trong hệ thống bối cảnh lịch sử, nhận thức thẩm mỹ chung và chưa lý giải đầy đủ sự biến chuyển tạo hình qua từng kỳ triển lãm. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định giải quyết.

Mục đích nghiên cứu của luận án được phân định thành mục đích tổng quát và mục đích cụ thể:

  • Mục đích tổng quát: Nghiên cứu, làm rõ đặc điểm nghệ thuật của các tác phẩm được giải qua 5 kỳ triển lãm định kỳ 10 năm (1973 - 2013); xác định giá trị nghệ thuật của các tác phẩm và vai trò của Hội đồng nghệ thuật; chứng minh sự chuyển biến tạo hình của các tác phẩm đạt giải có tính kế thừa thành tựu điêu khắc giai đoạn trước, đồng thời ghi nhận những chuyển biến về đề tài, ngôn ngữ, chất liệu và xu hướng sáng tác.
  • Mục đích cụ thể: Tập hợp, hệ thống hóa và phân loại các tài liệu, tư liệu liên quan đến 5 kỳ triển lãm; xây dựng luận cứ khoa học dựa trên nền tảng tư tưởng văn hóa, xã hội nhằm bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho lĩnh vực điêu khắc hiện đại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa các thuật ngữ, khái niệm; xác định các công trình nghiên cứu liên quan; phân tích, đánh giá những chuyển biến về tính dân tộc, thời đại, xu hướng sáng tác, chất liệu, chủ đề và đội ngũ tác giả qua tiêu chí đánh giá của Hội đồng nghệ thuật và giải thưởng.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được xác lập như sau:

  1. Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013 biểu hiện như thế nào thông qua chủ đề, ngôn ngữ hình thức, chất liệu?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Các triển lãm giai đoạn đầu (1973, 1983) phần lớn phản ánh hiện thực chiến tranh, niềm tin chiến thắng và ca ngợi phẩm chất anh hùng cách mạng. Các triển lãm kế tiếp ghi nhận số lượng tác giả và tác phẩm tăng cao, đội ngũ trẻ chiếm trên 50%, ngôn ngữ khối và chất liệu ngày càng phong phú, thể hiện cá tính sáng tạo và đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội.
  1. Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Những chuyển biến về xu hướng tạo hình thông qua các tác phẩm đạt giải trong các kỳ triển lãm ĐKTQ định kỳ 10 năm giai đoạn 1973 - 2013 như thế nào?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Ngôn ngữ điêu khắc phản ánh bức tranh xã hội Việt Nam qua 5 thập kỷ biến động lịch sử, văn hóa. Chất liệu mở rộng từ thạch cao, gỗ, đá, đồng truyền thống sang compozit, sắt uốn, sắt hàn, thép không gỉ, kim loại và chất liệu tổng hợp. Đề tài mở rộng sang cảnh báo ô nhiễm môi trường, hậu quả chiến tranh và sinh hoạt đời thường dưới các xu hướng tả thực, ước lệ dân gian và trừu tượng.
  1. Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Những thành công của các tác phẩm đạt giải trong triển lãm ĐKTQ giai đoạn 1973 - 2013 đã đóng góp giá trị nào cho nền mỹ thuật Việt Nam?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Các tác phẩm đạt giải để lại dấu ấn định hình phong cách sáng tác của nghệ sĩ, mang lại giá trị ứng dụng, góp tiếng nói vào điêu khắc đô thị và thay đổi thói quen thị giác của công chúng xã hội đương đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm nghệ thuật của các tác phẩm điêu khắc đã đạt giải thưởng trong triển lãm định kỳ 10 năm giai đoạn 1973 - 2013.
  • Phạm vi không gian: Các tác phẩm, tác giả tham gia triển lãm ĐKTQ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; nguồn tài liệu, tác phẩm lưu giữ tại hệ thống bảo tàng, thư viện, nhà nghiên cứu và nhà sưu tập.
  • Phạm vi thời gian: Các tác phẩm điêu khắc được trưng bày trong 5 kỳ triển lãm ĐKTQ vào các năm 1973, 1983, 1993, 2003 và 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành ba nhóm tài liệu chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo trong nước:

  • Nguyễn Đỗ Cung (1993), Bàn về Mỹ thuật Việt Nam, đề cập tính lạc quan chiến đấu và tính dân tộc trong nghệ thuật tạo hình.
  • Tuyển tập Nghiên cứu Mỹ thuật (1992) của Viện Nghệ thuật nhân 30 năm thành lập, với các bài viết phân tích sự tiếp thu truyền thống của điêu khắc hiện đại cùng phong cách của tác giả Hứa Tử Hoài và Tạ Quang Bạo.
  • Trần Thị Biển với các bài viết: "Cảm nhận từ các tác phẩm điêu khắc qua triển lãm Mỹ thuật thủ đô 2003" (2003) phân tích cách xử lý khối, không gian; "Về các cuộc triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc" (2016) trong sách 70 năm mỹ thuật Việt Nam (1945 - 2015) hệ thống hóa các dấu ấn chuyển mình của ngành điêu khắc qua 5 kỳ triển lãm.
  • Thanh Cao (2014), "Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của nhà điêu khắc Đinh Rú", phân tích tác phẩm Hũ gạo kháng chiến kết hợp hình ảnh cô gái Chăm và trang phục Tây Nguyên.
  • Thái Hanh (2003), "Sự trưởng thành vượt bậc của nghệ thuật điêu khắc hiện đại Việt Nam", ghi nhận sự phát triển đội ngũ từ 5 - 7 tác giả ban đầu năm 1973 đến lực lượng đông đảo ở các kỳ sau.
  • Lê Quốc Bảo với các bài viết: "Trước thềm triển lãm điêu khắc toàn quốc 10 năm (1993 - 2003)" (2003) khẳng định triển lãm là gạch nối giữa truyền thống và hiện đại; "Nhận diện tác giả, tác phẩm trong triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc lần thứ 5 (2003 - 2013)" (2014) khảo sát ranh giới loại hình và tượng ngoài trời.
  • Phạm Quang Trung (2003), "Một số cảm nghĩ về triển lãm điêu khắc toàn quốc lần thứ IV (1993 - 2003)", ghi nhận sự xuất hiện của nghệ thuật sắp đặt (installation).
  • Đặng Thanh Vân (2003), "Sự phát triển của điêu khắc Việt Nam qua triển lãm 10 năm (1993 - 2003)", điểm lại tiêu chí chất lượng nghệ thuật, tính dân tộc và thời đại, đồng thời phân tích các xu hướng hiện thực, cội nguồn, biểu hiện và sắp đặt.
  • Nguyễn Thu Nguyệt (2003), "Đất nung vẻ đẹp chất liệu trong điêu khắc", khảo sát việc sử dụng đất nung, gốm sành mang mô típ rồng, phượng, lá đề qua các triển lãm lần 2, 3, 4.
  • Nguyễn Thanh Mai (2003), "Điêu khắc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới", ghi nhận sự mở rộng đề tài và các khuynh hướng tạo hình.
  • Các ấn phẩm chuyên khảo: Mỹ thuật Việt Nam hiện đại (2005) của Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật, điểm lại các thế hệ điêu khắc từ Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925), thời kỳ kháng chiến (Diệp Minh Châu, Nguyễn Thị Kim, Phạm Xuân Thi, Phạm Mười, Lê Công Thành, Nguyễn Hải, Cần Thư Công, Đinh Rú, Lê Đình Quỳ, Trần Tuy, Trần Thị Hồng, Tạ Quang Bạo, Ninh Thị Đền) đến giai đoạn sau 1975 và đổi mới; Đinh Gia Lê (2016), Điêu khắc hiện đại Việt Nam, phân tích các tác giả nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước; tập sách Mỹ thuật Việt Nam qua con mắt các nhà nghiên cứu phê bình (2018) với bài viết của Trang Vũ xác định tác phẩm Vót chông của Phạm Mười thuộc xu hướng tối giản; kỷ yếu hội thảo 70 năm Mỹ thuật Việt Nam (1945 - 2015) (2015) do Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức.
  • Các tham luận tại Hội thảo Triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc lần thứ 5 (2003 - 2013) do Hội Mỹ thuật và Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm tổ chức: Nguyễn Hải Yến (2014) tổng thuật 5 thập niên; Trần Khánh Chương (2014) nhìn lại 5 bước đi; Ngô Tuấn Phong (2014) bàn về mức độ sáng tạo và vị trí của điêu khắc Việt Nam; Nguyễn Nghĩa Phương (2014) phân tích ngôn ngữ sắp đặt và chất liệu sắt; Đặng Thị Phong Lan (2014) khảo sát tác phẩm sắt hàn gắn với kỹ thuật của nhà điêu khắc Đào Châu Hải sau khi tu nghiệp tại Pháp; Mai Thị Ngọc Oanh (2014) thống kê 26 nữ hội viên điêu khắc (các tác giả Ninh Thị Đền, Trần Thị Hồng, Phan Gia Hương, Nguyễn Thị Hiền, Mai Thu Vân, Trần Thị Tú Miên, Hoa Bích Dào, Lưu Thanh Lan); Mai Thu Vân (2014) bàn về thị trường điêu khắc; Đào Mai Trang (2014) phân tích mối quan hệ giữa điêu khắc ngoài trời và công chúng.

Nhóm thứ hai gồm vựng tập các kỳ triển lãm và sách hình ảnh:

  • Vựng tập Triển lãm Điêu khắc toàn quốc 10 năm (1983 - 1993) ghi nhận 504 tác phẩm của 210 tác giả thuộc 21 tỉnh, thành phố.
  • Vựng tập Triển lãm Điêu khắc toàn quốc lần thứ IV (1993 - 2003) ghi nhận 332 tác phẩm của 235 tác giả, trao 23 giải thưởng (1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 5 giải Ba, 15 giải Khuyến khích).
  • Vựng tập Triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc lần thứ 5 (2003 - 2013) ghi nhận 675 tác phẩm gửi tham gia của 352 tác giả, chọn trưng bày 286 tác phẩm của 230 tác giả và trao 21 giải thưởng.
  • Sách Điêu khắc hiện đại Việt Nam (1997) của Nhà xuất bản Mỹ thuật lưu giữ hình ảnh các tác phẩm tiêu biểu.

Nhóm thứ ba là tài liệu nước ngoài:

  • Cuốn 100 painters and sculptors of the 20th century (Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996) phác thảo chân dung các nghệ sĩ tạo hình tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm đạt giải qua 5 kỳ triển lãm ĐKTQ (1973 - 2013) theo hướng tiếp cận mỹ thuật học, khắc phục tính chất tản mạn của các bài khảo tả trước đó và làm rõ mối tương quan giữa sự thẩm định của Hội đồng nghệ thuật với tiến trình phát triển của ngành điêu khắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ hệ thống khái niệm công cụ và lý thuyết văn hóa:

  • Khái niệm "Nghệ thuật tạo hình": Dựa theo Bách khoa toàn thư kiến trúc, hội họa, điêu khắc, đồ họa, nghệ thuật trang trí và Từ điển mỹ thuật, nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật sáng tạo bằng màu sắc, đường nét, hình khối, không gian, xử lý vật liệu có tính chất vật thể để tạo thành hình tượng thị giác; chia thành nghệ thuật tượng hình và không tượng hình. Điêu khắc là một nhánh cơ bản của nghệ thuật tạo hình, tác động vào thị giác bằng khối, mảng, chất cảm và không gian.
  • Khái niệm "Điêu khắc": Là nghệ thuật tạo hình ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (phù điêu, chạm nổi) bằng các thao tác đẽo, gọt, gò, đắp, gắn, đúc khuôn trên các vật liệu rắn như gỗ, đá, kim loại, đất nung. Về chức năng, điêu khắc gồm điêu khắc hoành tráng (tượng đài), điêu khắc trang trí và điêu khắc hình thức nhỏ (tượng nhỏ, tượng phòng khách).
  • Khái niệm "Tác phẩm điêu khắc đạt giải": Được tác giả xác lập để chỉ hệ thống tác phẩm tượng tròn, phù điêu được Hội đồng Nghệ thuật chính thức lựa chọn trao giải thưởng tại các kỳ triển lãm ĐKTQ định kỳ 10 năm (1973 - 2013), ghi nhận giá trị hình thức, nội dung và ý tưởng sáng tạo.
  • Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation): Vận dụng luận điểm của Claude Lévi-Strauss về tính đa dạng văn hóa như di sản chung nhân loại; công trình của Nguyễn Văn Kim (Tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam, 2018) và quan điểm của Trần Quốc Vượng (Cơ sở văn hóa Việt Nam) về sự vận động tiếp xúc văn hóa. Lý thuyết này được dùng để luận giải mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh (bản sắc truyền thống dân tộc, mỹ thuật cổ) và yếu tố ngoại sinh (các trào lưu phương Tây như lập thể, biểu hiện, trừu tượng, tối giản, sắp đặt du nhập qua các giai đoạn lịch sử và đặc biệt sau Đổi mới 1986).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích tài liệu: Áp dụng trên hệ thống vựng tập, văn bản lưu trữ, kỷ yếu hội thảo và danh mục giải thưởng của 5 kỳ triển lãm.
  • Phương pháp phỏng vấn điền dã: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các nhà điêu khắc thuộc nhiều thế hệ từng tham gia triển lãm, tham gia trại sáng tác, cùng các nhà nghiên cứu mỹ thuật.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại giữa các tác phẩm trong cùng một kỳ triển lãm và so sánh lịch đại qua 5 kỳ triển lãm kế tiếp nhau từ năm 1973 đến năm 2013 để nhận diện sự biến chuyển về ngôn ngữ khối, đề tài và chất liệu.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp mỹ thuật học với văn hóa học, lịch sử học và xã hội học nhằm xác định cấu trúc và biểu hiện của đối tượng nghiên cứu.
  • Cách tiếp cận: Luận án sử dụng cách tiếp cận mỹ thuật học làm trục chính, phân tích ngôn ngữ tạo hình (khối, mảng, đường nét, không gian, chất cảm) trong từng tác phẩm đạt giải.

Nguồn tư liệu, dữ liệu: Hồ sơ, tư liệu ảnh, biên bản chấm giải của 5 kỳ triển lãm ĐKTQ (1973, 1983, 1993, 2003, 2013); các vựng tập triển lãm và hiện vật lưu giữ tại các bảo tàng, phòng trưng bày và bộ sưu tập cá nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Kỳ triển lãm Số lượng tác giả trưng bày Số lượng tác phẩm trưng bày Số lượng tác phẩm đạt giải Đặc điểm chất liệu và xu hướng nổi bật
Triển lãm lần thứ nhất (1973) 5 - 7 tác giả ban đầu Chưa có vựng tập đầy đủ Ghi nhận tác phẩm tiêu biểu Thạch cao, gỗ, đồng; đề tài hiện thực chiến tranh, ca ngợi người chiến sĩ cách mạng.
Triển lãm lần thứ hai (1983) Đội ngũ mở rộng sau thống nhất Gia tăng số lượng tượng, phù điêu Trao giải thưởng định kỳ Thạch cao, gỗ, đá, đồng; phản ánh hiện thực kháng chiến và xây dựng đất nước.
Triển lãm 10 năm (1983 - 1993) 210 tác giả (21 tỉnh/thành) 504 tác phẩm (tượng và phù điêu) Có danh sách trao giải chính thức Đá, đồng, gỗ, đất nung; bắt đầu thể hiện sự tìm tòi hình khối và ngôn ngữ cách tân.
Triển lãm lần thứ IV (1993 - 2003) 235 tác giả 332 tác phẩm 23 tác phẩm (1 Nhất, 2 Nhì, 5 Ba, 15 Khuyến khích) Thép không gỉ, kính, sắt, gốm sành; xuất hiện yếu tố sắp đặt, ngôn ngữ biểu hiện.
Triển lãm lần thứ 5 (2003 - 2013) 230 tác giả (từ 352 tác giả gửi) 286 tác phẩm (từ 675 tác phẩm gửi) 21 tác phẩm đạt giải thưởng Bùng nổ chất liệu sắt hàn (xấp xỉ 40 tác phẩm), compozit, inox; xu hướng đương đại và tối giản.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát chung về triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013

Chương 1 có độ dài 42 trang, tập trung xử lý ba nội dung nền tảng:

  • Thứ nhất, tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước, chỉ rõ sự thiếu vắng của một công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tạo hình hệ thống tác phẩm đạt giải qua 5 kỳ triển lãm.
  • Thứ hai, xây dựng hệ thống cơ sở lý luận, xác lập định nghĩa khoa học cho các khái niệm "Nghệ thuật tạo hình", "Điêu khắc", "Tác phẩm điêu khắc đạt giải" và luận giải khung lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa của Claude Lévi-Strauss, Nguyễn Văn Kim, Trần Quốc Vượng.
  • Thứ ba, khái quát tiến trình 5 kỳ Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc qua 5 thập kỷ:
    • Giai đoạn 1963 - 1973: Khởi đầu từ triển lãm năm 1973 với số lượng khiêm tốn 5 - 7 tác giả nòng cốt thuộc thế hệ khoảng 40 tuổi như Lê Công Thành, Nguyễn Hải, Trần Tía, Lê Thược.
    • Giai đoạn 1973 - 1983: Đánh dấu sự hội tụ của nghệ sĩ hai miền Nam - Bắc sau ngày đất nước thống nhất, đội ngũ tác giả thế hệ 40 tuổi gồm Tạ Quang Bạo, Hứa Tử Hoài, Duy Độ, Trần Hùng vừa tham gia kháng chiến vừa sáng tác.
    • Giai đoạn 1983 - 1993: Quy mô mở rộng với 504 tác phẩm của 210 tác giả thuộc 21 tỉnh thành; đội ngũ sáng tác trẻ hóa ở độ tuổi trên dưới 30 như Nguyễn Hải Nguyễn, Nguyễn Ngọc Thành. Tác phẩm tiêu biểu đạt giải Ba có Lặng lẽ (đá) của Hà Chí Dũng và Bố cục (đồng) của Phạm Hạng.
    • Giai đoạn 1993 - 2003: Triển lãm lần thứ IV tổng kết 10 năm đổi mới, quy tụ 332 tác phẩm của 235 tác giả, trao 23 giải thưởng; ghi nhận tác giả ngoài 20 tuổi tham gia và bước đầu xuất hiện yếu tố sắp đặt. Tác phẩm đạt giải Ba gồm Nhà cây (kính, sắt) của Nguyễn Ngọc Lâm và Âm dương (thép không gỉ) của Bùi Hải Sơn.
    • Giai đoạn 2003 - 2013: Triển lãm lần thứ 5 tuyển chọn 286 tác phẩm của 230 tác giả từ 675 tác phẩm gửi về, trao 21 giải thưởng; đánh dấu sự khẳng định của ngôn ngữ sắt hàn và điêu khắc đương đại.

Chương 2: Đặc điểm tạo hình của các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013

Chương 2 có độ dài 53 trang, đi sâu phân tích các thành tố nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm đạt giải:

  • Đặc điểm đề tài sáng tác:
    • Đề tài về Lãnh tụ, cách mạng: Tập trung phản ánh hình tượng người chiến sĩ, các sự kiện lịch sử kháng chiến cứu nước và phẩm chất anh hùng dân tộc; duy trì ưu thế ở các kỳ triển lãm đầu.
    • Đề tài về phụ nữ và thiếu nhi: Thể hiện vẻ đẹp bình dị, tình mẫu tử và đời sống tinh thần; tiêu biểu như hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Đinh Rú (Hũ gạo kháng chiến).
    • Đề tài về môi trường và khai thác yếu tố văn hóa truyền thống: Tác phẩm phản ánh những trăn trở về sinh thái, cảnh báo tàn phá môi trường tự nhiên; đồng thời khai thác các mô típ mỹ thuật cổ (lá đề, rồng, phượng) trên chất liệu đất nung và gốm sành.
    • Đề tài trừu tượng và hình khối cách điệu: Chuyển dịch từ việc tái hiện hiện thực trực quan sang khai thác cấu trúc hình học, biểu cảm bề mặt và tư duy tối giản (như tác phẩm Vót chông của Phạm Mười, Bố cục của Phạm Hạng).
  • Đặc điểm tạo hình khối và không gian qua thể loại sáng tác:
    • Khối và không gian trong tượng tròn, phù điêu: Xử lý tương quan giữa mảng đặc và mảng rỗng, nhịp điệu đường nét và sự tương tác giữa tác phẩm với không gian đa chiều.
    • Khối và không gian trong tác phẩm tượng có tính trang trí: Chú trọng tính thẩm mỹ nhẹ nhàng, nhịp điệu hài hòa, phù hợp với không gian kiến trúc nội thất và sân vườn.
    • Khối và không gian trong tác phẩm tượng có tính hoành tráng: Cấu trúc hình khối cô đọng, khỏe khoắn, đóng vai trò phác thảo cho các công trình tượng đài ngoài trời gắn với cảnh quan đô thị.
    • Khối và không gian trong điêu khắc có yếu tố sắp đặt: Phá vỡ giới hạn khối đặc truyền thống, kết hợp vật thể với ánh sáng, không gian kiến trúc trưng bày (như tác phẩm Nhà cây kết hợp kính và sắt).
  • Đặc điểm tạo hình theo chất liệu và kỹ thuật thể hiện: Phân tích sự chuyển dịch từ các chất liệu truyền thống (thạch cao, gỗ đục, đá tạc, đồng đúc, đất nung) sang vật liệu công nghiệp hiện đại (compozit, nhôm, thép không gỉ, sắt uốn, sắt hàn). Kỹ thuật sắt hàn (cắt, gò, hàn, mài, uốn) do Đào Châu Hải thể nghiệm sau thời gian tu nghiệp tại Pháp đã tạo nên phương thức tạo hình mới, chiếm xấp xỉ 40/286 tác phẩm tại triển lãm năm 2013.

Chương 3: Bàn luận, nhận định về thành công và hạn chế qua xu hướng, đội ngũ sáng tác từ các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013

Chương 3 có độ dài 40 trang, khái quát và đánh giá tiến trình phát triển của ngành:

  • Bàn luận về thành công và hạn chế qua các xu hướng sáng tác:
    • Xu hướng hiện thực tả thực truyền thống: Tả thực chân thực đời sống, giải phẫu hình thể kết hợp các biến điệu kéo dài hình thể, đăng đối hoặc đồng hiện; thành công ở tính biểu cảm nhân văn nhưng đôi khi còn nặng tính minh họa.
    • Xu hướng khai thác cội nguồn văn hóa và ước lệ dân gian: Tiếp thu thủ pháp ước lệ của điêu khắc đình làng, mỹ thuật Champa, tượng nhà mồ Tây Nguyên kết hợp tư duy tạo hình hiện đại.
    • Xu hướng trừu tượng: Khai thác ngôn ngữ khối thuần khiết, đơn giản hóa chi tiết để nhấn mạnh ý niệm, tuy nhiên đòi hỏi trình độ cảm thụ cao từ công chúng.
  • Bàn luận về đội ngũ sáng tác:
    • Sự nối tiếp thế hệ: Từ thế hệ khởi đầu (Diệp Minh Châu, Nguyễn Thị Kim), thế hệ trưởng thành trong kháng chiến (Nguyễn Phước Sanh, Lê Công Thành, Nguyễn Hải, Tạ Quang Bạo, Hứa Tử Hoài), đến thế hệ đổi mới và các tác giả trẻ ở độ tuổi 20 - 30.
    • Đội ngũ đào tạo từ nước ngoài: Các tác giả tu nghiệp tại Liên Xô, Đông Âu và Pháp góp phần mở rộng biên độ sáng tác về kỹ thuật và tư duy tạo hình.
    • Đội ngũ tác giả nữ: Sự tham gia của 26 nữ hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, trong đó nhiều tác giả đạt giải ở độ tuổi 40 - 50 như Ninh Thị Đền, Trần Thị Hồng, Phan Gia Hương, Nguyễn Thị Hiền, Mai Thu Vân, Trần Thị Tú Miên, Hoa Bích Dào, Lưu Thanh Lan khẳng định năng lực làm nghề trong một lĩnh vực lao động nghệ thuật nặng nhọc.
    • Vấn đề đào tạo: Phân tích vai trò của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội; chỉ ra thực trạng thiếu hụt giáo trình chuyên sâu về chất liệu mới (compozit, polime) và lý thuyết nghệ thuật đương đại.
  • Nhận định đóng góp của các tác phẩm đạt giải đối với nghệ thuật ĐKHĐ Việt Nam: Đóng góp làm phong phú đề tài, đổi mới ngôn ngữ tạo hình và kỹ thuật chất liệu, chuyển dịch từ khoái cảm nội dung sang khoái cảm cấu trúc hình khối; định hình diện mạo điêu khắc đô thị và thẩm mỹ không gian công cộng.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án:

  • Về lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên làm rõ diện mạo và quy luật biến chuyển nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm điêu khắc đạt giải qua 5 kỳ Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc (1973 - 2013). Luận án vận dụng thành công lý thuyết tiếp biến văn hóa và cách tiếp cận mỹ thuật học để luận giải sự tương tác giữa bản sắc văn hóa dân tộc với các trào lưu nghệ thuật hiện đại phương Tây, làm rõ vai trò định hướng thẩm mỹ của Hội đồng nghệ thuật qua các tiêu chí chấm giải.
  • Về thực tiễn: Công trình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học về tác giả, tác phẩm, chất liệu và giải thưởng qua các kỳ triển lãm ĐKTQ; bổ sung nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo mỹ thuật. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý văn hóa trong công tác quy hoạch, thẩm định nghệ thuật và bảo tồn hệ thống tượng đài, tác phẩm điêu khắc công cộng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Tăng cường công tác đào tạo lý luận và kỹ thuật tạo hình; biên soạn bổ sung tài liệu, giáo trình về các chất liệu hiện đại (compozit, polime) và ranh giới loại hình giữa nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật sắp đặt.
  • Thực hiện các giải pháp xã hội hóa và phát triển thị trường nghệ thuật cho điêu khắc; phân định rõ giữa tượng mỹ nghệ thương mại và tác phẩm điêu khắc nghệ thuật trưng bày trong không gian công cộng và nội thất.
  • Nâng cao nhận thức thẩm mỹ của công chúng thông qua việc tăng cường giáo dục mỹ thuật trong nhà trường phổ thông, giúp cộng đồng hiểu và tiếp nhận các hình thái điêu khắc đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các tác phẩm đạt giải trong 5 kỳ Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc định kỳ 10 năm (1973 - 2013), chưa bao quát toàn bộ các triển lãm khu vực hàng năm và các triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 5 năm một lần.
  • Nguồn tư liệu lưu trữ hình ảnh và văn bản của các kỳ triển lãm đầu (năm 1973 và 1983) còn hạn chế so với các vựng tập đầy đủ của các kỳ triển lãm 1993, 2003 và 2013.
  • Không gian khảo sát tác phẩm thực tế tập trung chủ yếu tại hai trung tâm lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các kỳ triển lãm ĐKTQ sau năm 2013 để cập nhật những biến chuyển mới nhất của điêu khắc đương đại Việt Nam.
  • Khảo sát chuyên sâu hoạt động của các trại sáng tác điêu khắc quốc tế và công viên tượng ngoài trời tại các địa phương (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Vũng Tàu, Hạ Long).
  • Nghiên cứu cơ chế vận hành của thị trường điêu khắc và mối quan hệ tương tác giữa tác phẩm điêu khắc đô thị với cộng đồng dân cư.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, Điêu khắc: Tham khảo khung phân tích mỹ thuật học, hệ thống tài liệu lịch sử mỹ thuật giai đoạn 1973 - 2013 và phương pháp phân loại phong cách tạo hình.
  • Nghệ sĩ sáng tác điêu khắc: Tiếp cận các phân tích về kỹ thuật xử lý chất liệu (sắt hàn, đất nung, đá, compozit) và kinh nghiệm xử lý khối - không gian qua các tác phẩm đạt giải tiêu biểu.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, Hội đồng nghệ thuật và các nhà quy hoạch đô thị: Sử dụng luận cứ khoa học của luận án để xây dựng tiêu chí thẩm định, đánh giá các công trình tượng đài, điêu khắc công cộng và định hướng bảo tồn các tác phẩm điêu khắc có giá trị lịch sử.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 với các phân tích chuyên sâu về đặc điểm tạo hình, ngôn ngữ khối và kỹ thuật chất liệu; cùng hệ thống thống kê tư liệu các kỳ triển lãm tại Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ cấu số lượng tác phẩm và giải thưởng tại Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc lần thứ IV (1993 - 2003) được văn bản ghi nhận như thế nào?
  • Theo vựng tập triển lãm được trích dẫn trong văn bản, Triển lãm ĐKTQ lần thứ IV trưng bày 332 tác phẩm của 235 tác giả trên cả nước. Hội đồng nghệ thuật đã tuyển chọn 23 tác phẩm xuất sắc để trao giải thưởng, bao gồm: 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 5 giải Ba và 15 giải Khuyến khích.
  1. Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc lần thứ 5 (2003 - 2013) có những số liệu cụ thể nào về quy mô tuyển chọn và chất liệu sắt hàn?
  • Ban tổ chức nhận được 675 tác phẩm của 352 tác giả gửi tham gia; Hội đồng nghệ thuật tuyển chọn 286 tác phẩm của 230 tác giả trưng bày tại triển lãm và trao 21 giải thưởng. Về chất liệu, sắt hàn ghi nhận sự phát triển mạnh với xấp xỉ 40 tác phẩm trên tổng số 286 tác phẩm trưng bày.
  1. Những tác phẩm đạt giải cụ thể nào được văn bản nêu tên để minh chứng cho chất liệu mới và xu hướng nghệ thuật cách tân?
  • Các tác phẩm đạt giải được văn bản nêu tên cụ thể gồm: Lặng lẽ (chất liệu đá) của tác giả Hà Chí Dũng đạt giải Ba tại triển lãm 1983 - 1993; Bố cục (chất liệu đồng) của Phạm Hạng tại triển lãm 1983 - 1993; Nhà cây (chất liệu kính và sắt) của Nguyễn Ngọc Lâm đạt giải Ba tại triển lãm 1993 - 2003; và Âm dương (chất liệu thép không gỉ) của Bùi Hải Sơn đạt giải Ba tại triển lãm 1993 - 2003.
  1. Đội ngũ tác giả nữ tham gia các kỳ triển lãm điêu khắc toàn quốc được thống kê với những đặc điểm gì?
  • Văn bản ghi nhận có 26 nữ hội viên thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam ở nhiều lứa tuổi và địa phương tham gia tích cực. Kể từ triển lãm lần thứ tư đến lần thứ năm, các tác giả nữ đạt giải thưởng đều ở độ tuổi 40 - 50, tiêu biểu như Ninh Thị Đền, Trần Thị Hồng, Phan Gia Hương, Nguyễn Thị Hiền, Mai Thu Vân, Trần Thị Tú Miên, Hoa Bích Dào, Lưu Thanh Lan; một số tác giả nữ còn tham gia chấm giải trong các Hội đồng nghệ thuật.
  1. Lý thuyết tiếp biến văn hóa được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì trong luận án?
  • Lý thuyết tiếp biến văn hóa (với luận điểm của Claude Lévi-Strauss, Nguyễn Văn Kim, Trần Quốc Vượng) được tác giả vận dụng nhằm luận giải quá trình tiếp xúc, đối thoại giữa yếu tố nội sinh (tính dân tộc, nghệ thuật truyền thống) và yếu tố ngoại sinh (các trào lưu tạo hình phương Tây như biểu hiện, lập thể, trừu tượng, tối giản, sắp đặt). Qua đó, lý giải sự chuyển biến phong cách sáng tác của các tác giả đạt giải, đặc biệt là giai đoạn đổi mới từ sau năm 1986.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Thái Bình là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nghệ thuật tạo hình của các tác phẩm đạt giải qua 5 kỳ Triển lãm Điêu khắc Toàn quốc từ năm 1973 đến năm 2013. Bằng cách tiếp cận mỹ thuật học kết hợp lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, tác giả đã làm rõ các chuyển biến căn bản về đề tài, ngôn ngữ hình khối, không gian và kỹ thuật chất liệu (từ vật liệu truyền thống đến sắt hàn, kim loại tổng hợp và sắp đặt). Công trình không chỉ khẳng định vai trò định hướng thẩm mỹ của Hội đồng nghệ thuật qua các tiêu chí chấm giải mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị cho công tác đào tạo, sáng tác và quản lý không gian điêu khắc hiện đại Việt Nam.