Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIỂN LÃM ĐIÊU KHẮC TOÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1973 - 2013 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lịch sử nghiên cứu vấn đề đặt ra yêu cầu xác định tính mới của đề tài, theo đó, hệ thống tri thức trong các công trình nghiên cứu trước đây có vai trò nền tảng quan trọng trong việc tiếp cận nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tạo hình các tác phẩm đạt giải trong triển lãm điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013. Bên cạnh việc xác lập tính mới trong nghiên cứu, đề tài cũng xác định kế thừa và phát triển một số gợi ý tiềm ẩn ở những nghiên cứu trước đây. Tình hình nghiên cứu trong nước Trước một đối tượng nghiên cứu khá chuyên biệt, NCS đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về vấn đề và xác định qua một số nhóm tài liệu sau: 1.
Nhóm công trình nghiên cứu có nội dung về nghệ thuật điêu khắc toàn quốc giai đoạn 1973 - 2013 Nguyễn Đỗ Cung (1993), Bàn về Mỹ thuật Việt Nam [37] được Viện Mỹ thuật xuất bản với ba phần nội dung chính. Phần một là nguồn tài liệu tập hợp các bài viết trên sách báo và tạp chí; Phần hai bao gồm những bài phỏng vấn, tọa đàm nói chuyện; Phần ba gồm các phụ lục bảng tra cứu, chú giải và những bài viết của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung. Nội dung cuốn sách tuy không tập trung nhiều về nghệ thuật ĐKHĐ, nhưng những vấn đề được đề cập đến như: Tính lạc quan trong chiến đấu của một loại điêu khắc; Góp phần tìm hiểu tính dân tộc trong nghệ thuật tạo hình nước ta cũng được NCS quan tâm khi đưa ra những lập luận về sự hình thành của ĐKHĐ bắt nguồn từ truyền thống. Viện Nghệ thuật (1992), Nghiên cứu Mỹ thuật [115], tuyển chọn một số bài viết nhân dịp 30 năm ngày thành lập Viện Mỹ thuật.
Nội dung của nguồn tài liệu này bao gồm: Những vấn đề về mỹ thuật truyền thống, vấn đề 13 về mỹ thuật gốm - dân gian, vấn đề về mỹ thuật cận hiện đại - thế giới. Trong đó bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án đó là: “Điêu khắc hiện đại Việt Nam tiếp thu truyền thống như thế nào”, “Nét bình dị của Hứa Tử Hoài và niềm trăn trở của Tạ Quang Bạo”. Đây là những bài viết ghi dấu những vấn đề của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam là loại hình nghệ thuật lâu đời bậc nhất trong bốn ngàn năm lịch sử dân tộc. Từ đó lý giải điêu khắc hiện đại Việt Nam đã tiếp thu truyền thống góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà đầy sáng tạo.
Dấu mốc tiếp thu đó là những cuộc triển lãm điêu khắc toàn quốc bắt đầu từ năm 1973, với kết quả được đánh dấu cứ 10 năm một lần. NCS sẽ tiếp cận nguồn tài liệu này như những minh chứng về nhận định đánh giá các cuộc triển lãm điêu khắc của những người trong cuộc, đóng góp cho sự hình thành phát triển của ĐKHĐ Việt Nam. Trần Thị Biển (2003), “Cảm nhận từ các tác phẩm điêu khắc qua triển lãm Mỹ thuật thủ đô 2003”, Nghiên cứu Mỹ thuật [15]. Với nội dung triển lãm mỹ thuật thủ đô là hoạt động nghệ thuật thường niên được tổ chức vào dịp 10 - 10 (ngày giải phóng thủ đô).
Nhìn từ các tác phẩm điêu khắc tại triển lãm này mang nhiều phong cách và chất liệu sống động. Nhiều tác phẩm có cách xử lý khối và không gian theo cách tư duy mới mặc dù vẫn theo chủ đề về lịch sử hào hùng của thủ đô Hà Nội. Các tác phẩm điêu khắc ở triển lãm này đã phác họa hình ảnh của Hà Nội xưa và nay với triết lý chứa đựng lối sống riêng. Các tác phẩm điêu khắc được giải ở triển lãm này thể hiện tính trữ tình, nghệ thuật tạo khối có hướng mở về nội dung.
Đây là nội dung được NCS tham khảo khi nhận xét về những tác phẩm được giải trong các triển lãm ĐKTQ cũng là nội dung nghiên cứu của luận án. Thanh Cao (2014), “Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của nhà điêu khắc Đinh Rú”, Nghiên cứu Mỹ thuật, số 1, tr. Nội dung bài viết có phân tích và bàn về các tác phẩm của nhà điêu khắc Đinh Rú, trong đó có những tác phẩm được trưng bày trong triển lãm điêu khắc toàn quốc. Tác 14 phẩm Hũ gạo kháng chiến được kết hợp hình ảnh của cô gái Chăm đội nước trong trang phục cô gái Tây Nguyên.
Nhà điêu khắc Đinh Rú đã sáng tác nhiều tác phẩm gắn với chủ đề phụ nữ nhưng mỗi tác phẩm có cách tạo hình và toát lên sự đồng điệu về sự mộc mạc. NCS tiếp cận nội dung này khi vận dụng phân tích về những tác phẩm điêu khắc được giải những năm đầu của triển lãm điêu khắc toàn quốc. Từ đó, những triển lãm sau tiếp nối, kế thừa, phát huy để duy trì hoạt động có ý nghĩa này. Thái Hanh (2003), “Sự trưởng thành vượt bậc của nghệ thuật điêu khắc hiện đại Việt Nam”, Nghiên cứu Mỹ thuật [48], tác giả hệ thống khái quát về các cuộc triển lãm điêu khắc toàn quốc từ năm 1973 đánh dấu lần thứ nhất được hình thành do sự thúc bách khách quan của thành tựu đang lớn mạnh của nền nghệ thuật điêu khắc hiện đại cách mạng Việt Nam.
Với xuất phát điểm của triển lãm lần đầu 5 - 7 tác giả đến nay đã có đội ngũ điêu khắc hùng hậu được tiếp nối từ các thế hệ. Mặc dù lúc đầu còn hạn chế về số lượng tác giả tham gia nhưng được gọi là cuộc “ra quân” đầu tiên của ngành điêu khắc hiện đại dù đã được hình thành từ điêu khắc truyền thống. Qua thời gian, các cuộc triển lãm điêu khắc định kỳ vẫn được duy trì, phát triển với nhiều tác phẩm và các tác giả nổi bật. Những triển lãm định kỳ các lần 2, 3, 4 đã mở rộng đề tài phản ánh hiện thực xã hội, đánh dấu sự chuyển hóa ngôn ngữ nghệ thuật hình khối, đẩy lùi sự đơn điệu nghèo nàn để tạo sự phong phú, đa dạng mang lại cho người xem những khoái cảm, hấp dẫn và lạ mắt.
NCS tham khảo nội dung này trong quá trình thực hiện luận án của mình về các tác phẩm được giải trong các triển lãm ĐKTQ. Lê Quốc Bảo (2003), “Trước thềm triển lãm điêu khắc toàn quốc 10 năm (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [9]. Nội dung bài viết đánh giá triển lãm điêu khắc toàn quốc chính là cái “gạch nối” giữa nghệ thuật điêu khắc truyền thống và nghệ thuật điêu khắc hiện đại. Triển lãm điêu khắc toàn quốc 10 năm được coi như “cuộc hội quân lớn” của giới điêu khắc Việt Nam, 15 đây cũng là một sân chơi độc lập, chuyên biệt.
Cơ hội cho các nhà điêu khắc tự khẳng định mình và biết tự điều chỉnh mình, nhận biết nền điêu khắc nước nhà với khu vực và thế giới. Những thập niên 1993 - 2003 đã xuất hiện thế hệ nhà điêu khắc trẻ tự tin, say nghề dám khẳng định mình trên con đường tìm kiếm cái đẹp trong lĩnh vực điêu khắc. Ngoài tượng đài, tượng tròn, phù điêu đã sớm đi vào không gian của mọi nhà, mọi không gian công sở, cơ quan. Đây cũng là vấn đề cùng nhìn nhận để khuyến khích sự phát triển của nghệ thuật ĐKHĐ.
Bên cạnh đó, cần bàn đến những giải pháp khuyến khích đường lối, chính sách cho loại hình nghệ thuật này phát triển tích cực hơn. Tài liệu này được NCS tham khảo khi thực hiện nội dung nghiên cứu của luận án. Phạm Quang Trung (2003), “Một số cảm nghĩ về triển lãm điêu khắc toàn quốc lần thứ IV (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [105]. Bài viết nhắc đến các triển lãm điêu khắc định kỳ những lần đầu thường sáng tác với phong cách hiện thực, những tác phẩm được giải mang phong cách sáng tác mới được xem như sự nhận định sự đổi mới được công nhận từ phía Hội đồng nghệ thuật.
Ngoài những đề tài chiến tranh là những đề tài mang theo ước mong hạnh phúc đời thường, có lẽ đó cũng là những đề tài thường trực trong mỗi nghệ sĩ. Việc xuất hiện những tác phẩm sắp đặt installation trong triển lãm điêu khắc toàn quốc năm 2003 (lần IV) được xem như là sự nỗ lực thể hiện quan niệm đổi mới của Hội đồng nghệ thuật/Ban tổ chức. Thông qua các tác phẩm điêu khắc và cả những tượng đài được thực hiện trong những năm qua, tác giả bài viết cho rằng tiềm năng đội ngũ làm điêu khắc Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. NCS tham khảo nội dung này dưới góc nhìn được đánh giá, nhận xét từ những tác phẩm, tác giả được giải.
Đặng Thanh Vân (2003), “Sự phát triển của điêu khắc Việt Nam qua triển lãm 10 năm (1993 - 2003)”, Nghiên cứu Mỹ thuật [112], bài viết điểm lại các tác phẩm tham gia triển lãm những năm đầu 1973, 1983, 1993, 2003 mỗi đợt triển lãm là sự thực hiện chấm giải theo tiêu chí của Ban tổ chức. Ví dụ 16 năm 1993 - 2003, Ban tổ chức đã đưa ra tiêu chí với mong muốn tác phẩm điêu khắc phải đạt chất lượng nghệ thuật tốt, có tính nghề nghiệp vững vàng, có tìm tòi sáng tạo. Tác phẩm phải thể hiện được tính dân tộc và thời đại. Trên cơ sở đó cần chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ điêu khắc ngày càng được cách tân, hiện đại, đề tài phong phú đa dạng.
Triển lãm điêu khắc lần 4 khẳng định sự chín chắn và sự phát triển vượt trội về nghề của các tác giả trẻ. Nhiều tác phẩm có bố cục đẹp, chất liệu phong phú với các xu hướng hiện thực, xu hướng trở về cội nguồn, xu hướng biểu hiện cùng ngôn ngữ của nghệ thuật sắp đặt. Tác giả đưa ra nhận định điêu khắc là một ngành nghệ thuật kén chọn người thưởng thức, phải được giáo dục về mỹ thuật mới hiểu được. NCS sử dụng tài liệu này làm tham khảo về các số liệu và thông tin về các tác giả, tác phẩm có liên quan đến nội dung luận án.
Tác giả bài viết cho rằng 2 lần triển lãm đầu còn đơn điệu và hạn chế về tác giả, tác phẩm cùng nội dung về hình tượng người lính, cuộc chiến tranh cách mạng, thiếu vắng những tác phẩm phản ánh tình yêu lao động, sinh hoạt những ước mơ, tâm linh. Đến triển lãm lần ba là sự xuất hiện phong phú, đa dạng, cách khai thác đề tài rộng mở hơn với nhiều phong cách nghệ thuật. Bằng nhiều thể loại tượng tròn, gò đồng, chạm nổi theo hướng lập thể, ước lệ… cùng nhiều chất liệu mới như nhôm, inox, thép, gốm, sành, đá.