CHƯƠNG 1 Luan van 10 CƠ SỞ MANG TÍNH LÝ LUẬN ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.Khái niệm “Nghệ thuật tối giản” - Khái niệm: “Nghệ Thuật” Nghệ thuật được hiểu theo mĩ thuật học thì: Nghệ thuật là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội. Nó nhận thức, phản ánh thế giới đồng thời nó cũng góp phần tái tạo thế giới khách quan. Lịch sử mĩ thuật thế giới cũng như lịch sử mĩ thuật Việt Nam đã cho thấy nền nghệ thuật nào bắt rễ sâu từ hiện thực xã hội, mang hơi thở ấm áp, nồng nàn của cuộc sống con người, nền nghệ thuật đó dễ dàng đi vào lòng người và tồn tại bất diệt. Mọi loại hình của nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc,…đều phản ánh hiện thực cuộc sống và con người [6, Tr 373].
- Còn từ điển tiếng Việtthì “Nghệ Thuật” được hiểu nhưlà: cách thức làm một việc gì theo quy tắc và khêu gợi được cảm giác, ý niệm về cái đẹp[17, Tr 556]. - Tối Thiểu: là ít nhất [17,Tr 863]. Vậy theo “Từ điển Tiếng Việt” của Nxb Từ điển Bách Khoa thì Nghệ thuật tối thiểu là: “cách thức làm một việc gì đó theo quy tắc và khêu gợi được cảm giác, ý niệm về cái đẹp theo một cách đơn giản nhất”. -“Từ điển MĩThuật” của Lê Thanh Lộc biên dịch: (Nghệ Thuật Tối giản “Minimal Art”- còn được dịch là nghệ thuật tối thiểulà từ được dùng mô tả một khuynh hướng hội họa, và đặc biệt hơn, kiến trúc, đã nổi lên trong những năm (1950) trong đó chỉ những hình thể học cơ bản nhất là được sử dụng.
Nghệ thuật tối giản đặc biệt gắn liền với nước Mỹ và tính vô ngã của nó được coi là phản ứng chống lại tính cảm xúc của trường phái biểu hiện trừu tượng. Trong số các nghệ sĩ phái tối giản nổi tiếng nhất có Carl Andre, Don Judd và Tony Smith [7, Tr 734] ). Luan van 11 Nghệ thuật tối giản hình thành từnhững mâu thuẫn phức tạp của cuộc sống. Tranh tượng từ thời Phục hưng tới giữa thế kỷ 19 đã miêu tả rõ nét về đời sống sinh hoạt cũng như tư tưởng con người và mọi mặt của xã hội, thế giới tự nhiên.
Khi đã tìm hiểu, khám phá hết cái phức tạp rồi thì người nghệ sĩ tìm tới cái mới, cái khác lạ, đó là sự giản lược về hình thể, về màu sắc, về nội dung .mà ý nghĩa nghệ thuật vẫn không thay đổi. Vẻ đẹp vẫn được đề cao nhưng bên cạnh sự tái hiện hiện thực một cách đơn thuần kia là sự sáng tạo cảm tính, thậm chí bản năng và vô ý thức đối với nội tâm mang khuynh hướng phi lý tính (thấy rõ từ giữa thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20). Trước hết để được công nhận là một tác phẩm nghệ thuật, nó phải mang trong mình một thông điệp nghệ thuật, và phải đáp ứng được những điều kiện tối thiểu của một tác phẩm như màu sắc, đường nét, hình khối, chất cảm. Cho dù người nghệ sỹ có cố ý hay vô ý sáng tạo thì vẫn được công nhận nếu nó hội đủ những thành tố trên.
Tác phẩm nghệ thuật được gọi là theo phong cách tối giản thì ngoài nhưng điều kiện trên nó còn phải có tính khái quát cao độ về ý nghĩa và hạn chế tối đa sự biểu hiện của các yếu tố tạo hình. Các thành tố chính để cấu thành nên một tác phẩm nghệ thuật như hình khối chất liệu phải được cân nhắc sử dụng một cách hạn chế, cô đọng. Tóm lại dựa trên các cơ sở, các định nghĩa lý thuyết về “Nghệ thuật tối giản” cá nhân tôi thấy rằng : Tối giản trong nghệ thuật tạo hình là thuật ngữ được sử dụng để mô tả một tác phẩm với sự đơn giản trong cả nội dung và hình thức thể hiện (giản lược triệt để về hình, khối, chất liệu), tự thân tác phẩm luôn tìm cách xoá bỏ những dấu hiệu của sự biểu hiện cá nhân tác giả mà hướng người xem tới khoảng lặng trong nội tâm. Mục đích của nó là cho phép người xem thưởng thức tác phẩm một cách thuần khiết, không bị sao nhãng bởi bố cục, chủ đề hay màu sắc chất cảm.
Khái lược “Nghệ thuật điêu khắc tối giản” Luan van 12 Nghệ thuật tối giản thể hiện những khuynh hướng đa dạng của nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật tạo hình mà các tác phẩm tối giản về những yêu cầu thiết yếu nhất của nó, (Như đơn giản về màu sắc, đường nét, hình khối, chất liệu.trên mặt phẳng hoặc không gian ba chiều “điêu khắc, kiến trúc, sắp đặt” ). Nhưng vẫn nói được trọn vẹn những ý tưởng mới lạ, khái quát trong một biện chứng sinh động hơn ngôn ngữ. Nghệ thuật tối giản xuất phát trong nghệ thuật phương Tây từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, rõ nét nhất là trong nghệ thuật thị giác với các tác phẩm hội hoạ của Mark Rothko. Phong cách tối giản có nguồn gốc bắt rễ từ sự thuần khiết và cô đọng của Chủ nghĩa Hiện đại, được kết hợp với Chủ nghĩa hậu Hiện đại và được xem như phản ứng đối ngược lại với chủ nghĩa Biểu hiện trong nội dung cũng như trong bố cục tác phẩm.
Đầu thập niên (1970), nghệ thuật điêu khắc nổi lên nhờ những quan điểm mỹ học điển hình của một số họa sĩ có ảnh hưởng nhất với những ý tưởng phát triển từ các mặt phẳng màu. Họa sĩ Barnett Newman đã mô tả điêu khắc lúc này “là thứ gì đó vẫn còn lưu luyến thú ngắm tranh”. Điêu khắc bắt đầu áp dụng các kiểu mảng phẳng của hội họa, sử dụng các mảng tường và sàn nhà làm nơi sáng tạo của mình. Trong những năm của thập niên (1970), điêu khắc không còn phải nằm trên những bục bệ nữa, nó đã cởi bỏ tính biểu hình và tư thế đứng thẳng.
Những qui trình sáng tác điêu khắc truyền thống đã dần thu hẹp và nhường chỗ cho hàng loạt những phương pháp làm và phong cách điêu khắc khác nhau như phương pháp (chất đống stacking) và (rải vãi scattering) không cần đên sự khéo tay hay tài thủ công để thực hiện tác phẩm. Nó là những khối đá nguyên và những hình thù rắn chắc ngày càng có những dáng vẻ mở hơn, rộng hơn khiến cho trọng lượng và khối của tác phẩm bị mờ nhạt đi. Người tiên phong cho phong trào nghệ thuật điêu khắc hiện đại, khởi đầu cho điêu khắc tối giản sau này là Auguste Rodin (1850 - 1917) và Constantin Luan van 13 Brancusi (1876 - 1957) người được coi là đã thể hiện các bộ phận cơ thể như những mảnh vỡ làm thay đổi cách thức thực hành điêu khắc với việc sử dụng những đơn vị điêu khắc cơ sở. Brancusi đã chế tác các modun cơ bản mà ông coi nó không kém gì những điêu khắc hoàn chỉnh.
Thường là từ những mẩu gỗ thông có khả năng tháo lắp và thể hiện ứng biến. Ông cũng tạo ra các khối đồng cơ bản có hình thù đơn giản và được đánh bóng giống hệt các sản phẩm công nghiệp có thể lắp ghép, ví dụ tác phẩm “Chim Trời - Bird in the Spase”. Hay tại Paris, Marcel Duchamp (1887 - 1973) và Pablo Picasso (1962 - 1973) cũng đã thêm vào nghệ thuật điêu khắc những ý tưởng, kỹ thuật và chất liệu mới. Tác phẩm gây tiếng vang nhất trong số đó là vật phẩm mang tên “Đài Phun Nước - Fountain”, một chiếc bồn tiểu nam bằng sứ trắng do một công ty sành sứ tại New York sản xuất.
Sự can thiệp của Duchamp sau khi lựa chọn nó chỉ là mỗi việc lật úp xuống và ký lên một cái tên do ông tưởng tượng ra (R. Mutt) cùng với ngày tháng. Điêu khắc readymade của Duchamp hàm chứa sự thách thức về tính đích thực và tính nguyên bản của các tác phẩm nghệ thuật. Cũng trong năm (1912), Picasso bắt đầu xoay sang làm điêu khắc có cấu trúc mở với hai phiên bản “ Đàn Ghita - Guitar”.
Phiên bản thứ nhất làm bằng bìa các-tông và phiên bản thứ hai chế từ dây thép và kim loại tấm. Cả hai phiên bản đều được treo trên tường như những bức hoạ. Vào thời gian đó, các chất liệu và phương pháp của Picasso thật mới mẻ đối với lịch sử điêu khắc. Ông từ chối những kỹ thuật chạm khắc và dựng mô hình, cổ xúy những tác phẩm có cấu trúc thô kệch được chế tác từ các mảng miếng vật liệu phẳng ghép chồng chéo vào nhau.
Luan van 14 Sau những tìm tòi của Picasso về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa không gian và khối tích, một số điêu khắc gia đã tiếp tục với các tác phẩm biểu hình người đầy sáng tạo. Nổi bật nhất trong số đó là Jacques Lipchitz (1891-1973), Alexander Archipenko (1887 - 1964) và Henry Moore (1898 - 1986). Họ đều tạo hình đơn giản, không khuôn kín các khối tượng biểu hình cơ thể và nhất là thường có các lỗ chạm xuyên thủng thân tượng đặc biệt ấn tượng. Theo họ, đó là những khoảng trống được phép (để đổ vật liệu vào) thay vì các hình khối tượng tròn.
Moore bắt đầu phá tách hình tượng cơ thể nữ thành những chi tiết lẻ, qua đó ông muốn so sánh hay quán chiếu các bộ phận giải phẫu thân thể với các hình tượng trong thiên nhiên. Ông cũng tiếp tục làm việc với chủ đề phân mảnh mà Rodin và Brancusi từng khởi xướng. Nếu Henri Moore làm việc với các chất liệu gỗ, đá và đồng, thì có một người lại quay về với những tấm kim loại giống như Picasso từng làm để xây dựng những cấu trúc mang tính đột phá - đó là David Smith (1906- 1965). Học được nghề hàn trong những năm (1940), Smith bắt đầu sáng tạo các tác phẩm điêu khắc đầu tiên của mình từ những mẩu sắt thép, thường là các bộ phận máy móc nông cụ.
Ông là người đã làm thay đổi hẳn điêu khắc tượng hình với những hình thể trừu tượng được hàn ghép giống những phong cảnh thiên nhiên xung quanh xưởng của ông trong miền hạ New York, chẳng hạn như tác phẩm “Cảnh Sông Hudson”. Kỹ thuật hàn cho phép tạo ra các hình thù rỗng loãng, gây được cảm giác mạnh trong vẻ tao nhã, duyên dáng, thanh tú, và thậm chí rất mở của các đối tượng điêu khắc. Các hình trang trí có đường lượn tuyến bằng kim loại theo phong cách Ả Rập của Smith khác nào “những nét họa phóng khoáng trong không trung”. Kể từ những năm (1980) trở đi, với các cuộc thảo luận về hình thức, chất liệu, chủ đề và bối cảnh, các điêu khắc gia bắt đầu không còn để ý tới vấn đề quốc gia, quốc tịch nữa.
Lúc này, họ muốn phát triển một ý thức sáng tạo Luan van 15 mang tính quốc tế.