Luận án tiến sĩ triết học nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ triết học khám phá cách nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật tại Việt Nam hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

CNDVBC&CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ triết học

2017

190
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về nghệ thuật, năng lực sáng tạo và năng lực sáng tạo nghệ thuật

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT VÀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NĂNG LỰC SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực sáng tạo nghệ thuật

Năng lực sáng tạo nghệ thuật là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển tài năng của sinh viên các trường nghệ thuật. Năng lực sáng tạo không chỉ là khả năng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mới mà còn là khả năng cảm nhận và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống. Sinh viên nghệ thuật cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để phát triển năng lực sáng tạo của mình. Theo nghiên cứu, việc nâng cao năng lực sáng tạo cho sinh viên không chỉ giúp họ trong việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật mà còn góp phần vào sự phát triển văn hóa nghệ thuật của xã hội. Việc giáo dục nghệ thuật cần phải chú trọng đến việc phát triển năng lực sáng tạo thông qua các chương trình đào tạo phù hợp và các hoạt động thực tiễn. Điều này sẽ giúp sinh viên có thể tự tin thể hiện bản thân và đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực sáng tạo nghệ thuật

Năng lực sáng tạo nghệ thuật được định nghĩa là khả năng tạo ra những sản phẩm nghệ thuật mới, độc đáo và có giá trị. Năng lực sáng tạo không chỉ bao gồm khả năng kỹ thuật mà còn là khả năng tư duy, cảm nhận và thể hiện cảm xúc. Vai trò của năng lực sáng tạo trong nghệ thuật là rất lớn, nó không chỉ giúp nghệ sĩ thể hiện bản thân mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, xã hội. Sinh viên nghệ thuật cần được khuyến khích phát triển năng lực sáng tạo của mình thông qua việc tham gia vào các hoạt động nghệ thuật, từ đó hình thành nên những nghệ sĩ có tâm huyết và trách nhiệm với xã hội.

II. Thực trạng năng lực sáng tạo nghệ thuật của sinh viên

Thực trạng năng lực sáng tạo nghệ thuật của sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Nhiều sinh viên vẫn còn thiếu tự tin trong việc thể hiện bản thân và chưa phát huy hết tiềm năng sáng tạo của mình. Các yếu tố như môi trường học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên và cơ sở vật chất đều ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của sinh viên. Một số sinh viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các hình thức nghệ thuật mới, dẫn đến việc hạn chế khả năng sáng tạo. Để khắc phục tình trạng này, cần có những chương trình đào tạo và hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao năng lực sáng tạo cho sinh viên.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo nghệ thuật của sinh viên, bao gồm môi trường học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên và các hoạt động ngoại khóa. Môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo sẽ giúp sinh viên phát triển tốt hơn. Sự hỗ trợ từ giảng viên cũng rất quan trọng, họ cần tạo điều kiện cho sinh viên thể hiện ý tưởng và khám phá khả năng của bản thân. Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa như hội thảo, triển lãm nghệ thuật cũng là cơ hội để sinh viên thực hành và nâng cao năng lực sáng tạo của mình.

III. Giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật

Để nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Trước hết, các trường nghệ thuật cần cải thiện chương trình đào tạo, tích hợp nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau để sinh viên có thể tiếp cận và trải nghiệm. Thứ hai, cần tổ chức nhiều hoạt động thực tiễn, như các buổi workshop, triển lãm nghệ thuật, để sinh viên có cơ hội thể hiện tài năng và học hỏi từ các nghệ sĩ khác. Cuối cùng, việc khuyến khích sinh viên tham gia vào các dự án nghệ thuật cộng đồng cũng sẽ giúp họ phát triển năng lực sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội.

3.1. Cải thiện chương trình đào tạo

Cải thiện chương trình đào tạo là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên. Các trường nghệ thuật cần thiết kế chương trình học linh hoạt, cho phép sinh viên tự do khám phá và phát triển ý tưởng của mình. Việc đưa vào giảng dạy các môn học liên ngành cũng sẽ giúp sinh viên mở rộng tầm nhìn và phát triển tư duy sáng tạo. Hơn nữa, cần có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tế và phát triển năng lực sáng tạo một cách hiệu quả.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho khuynh hướng mỹ học duy vật là nhà bách khoa thư Aristốt, ông không những là người đặt nền móng cho lôgic học mà còn cho cả Mỹ học (Esthétique). Mỹ học Aristốt được trình bày trong cuốn thứ tám của tác phẩm Chính trị học (Politique), trong Nghệ thuật thơ ca (Péotique) [3], ở phần Tu tir học (Rhétorique). Trong các công trình của mình, ông đã chống lại quan niệm của Platôn về nghệ thuật và xây dựng một lý thuyết mới về bản chất của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật cơ bản và giá trị tích cực của nó đối với đời sống đạo đức của con người. Dựa vào những nguyên ly duy vật nhân bản, nhà mỹ hoc Nga Tsécnusépxki trong cuốn “Quan hệ thấm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực ” [155] cho rằng hiện thực là điểm xuất phát cho lý thuyết nghệ thuật nói chung.

Xuất phát từ quan điểm này, ông nêu lên mục đích của nghệ thuật, đối tượng và phương thức biểu hiện của nghệ thuật. Đặc biệt, ông đã nêu lên chức năng nhận thức hiện thực, chức năng giáo dục của nghệ thuật được ông đặc biệt đề cao và cho rằng đặc trưng khái quát của nghệ thuật chính là mô tả cuộc sống, những tác phẩm nghệ thuật thường có ý nghĩa của một sự xét đoán đối với những hiện tượng của cuộc sống.Ăngghen không để lại một tác phẩm mỹ học nào riêng biệt. Các tư tưởng mỹ học của các ông đều gắn liền với ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác dé giải quyết những van dé quan trọng của hoạt động vật chất và tinh thân của xã hội. Cac tư tưởng mỹ học của các ông được trình bay sâu sac trong các công trình như: Hé tw tưởng Đức, Gia đình than thánh, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Chống Đuyrinh, Tu bản và nhiều tác phẩm khác, thi dụ như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Góp phan phê phán khoa kinh tế chính trị học [99] hoặc những thư từ C.

Angghen đã gửi cho bạn bè và gửi cho nhau khi các ông đánh giá thâm mỹ của nhiều nền văn học nghệ thuật trên thé giới. Trong các tác phẩm của minh, Mác va Angghen đã quan tâm sâu sắc tới bản chất của nghệ thuật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu cho từng loại hình nghệ thuật. Đến những năm 80 — 90 của thế kỷ XX, ở Liên Xô xuất hiện nhiều công trình: Mỹ học Mác — Lénin và việc giáo dục bộ đội của Ax. Milôviđốp và B.

Xaphrônốp; Mỹ học Mác — Lênin là một khoa học của P. Tơrôphimốp, Mỹ học — khoa học điệu ky của B. Erengroxx [41], Cá tính sang tạo cua nhà văn va sự phát triển của văn học [82] , Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người của M. Khrapchenco [83]; Mỹ học cơ bản và nâng cao của M.

Opxiannhicép chủ biên[117]. Những công trình này đều bàn về nguồn gốc, bản chất của nghệ thuật và những đặc điểm thâm mỹ của nó trong các loại hình như kịch, múa, ca kịch, âm nhạc, hội họa, điện ảnh. Rất nhiều chương trong các cuốn sách nay phân tích bản chất thâm mỹ của nghệ thuật thong qua những quan điểm va các khuynh hướng mỹ học khác nhau, đồng thời nêu lên quan điểm Mác xít về bản chất và các loại hình nghệ thuật. Tác phẩm “Hình thái học nghệ thuật” của tác giả M.Cagan [14] nghiên cứu kết cấu của toàn bộ thế giới nghệ thuật, phân biệt các cấp độ căn bản của sự phân chia nghệ thuật.

Nghệ thuật có những phẩm chất thâm mỹ, mang một thông tin nghệ thuật nào đấy và truyền đạt thông tin này từ nghệ sỹ đến công chúng. Mỗi loại hình nghệ thuật đều làm thành một hệ thống tín hiệu độc lập và độc đáo của những hình tượng. Những tín hiệu đó chính là tín hiệu của giá trị, bởi vì nghệ thuật ké cho chúng ta không phải về sự tồn tại khách quan của các sự vật, các hiện tượng hay các bản chất, mà về thế giới được nhân hóa, đã hướng tới con người vao lĩnh vực những sự quan tâm tinh than của nó, một thê giới gan liên với 10 những nhu cầu và những lý tưởng của con người. Tác phẩm “Bốn bài giảng mỹ học” của tác giả Ly Trach Hậu [46] đã phân tích các khái niệm mỹ học về cái đẹp, mỹ cảm và nghệ thuật.

Trong phần nghệ thuật, tác giả bàn về khái niệm nghệ thuật dưới góc độ triết học. Tác giả cho rằng, tác phâm nghệ thuật phải có yếu tố vật chất — nghệ sỹ phải đem thé giới trong trí tưởng tượng của mình thé hiện vào một chat liệu khách quan nhất định nào đó, tác giả chia tác phẩm thành ba tầng lớp nhưng thống nhất chặt chẽ với nhau là lớp hình thức, lớp chủ đề và tư tưởng. Tác pham “Một dé dẫn về lý thuyết nghệ thuật” của tác giả Cynthia Freeland [19] viết năm 2001 là tác phâm triết học nghệ thuật đã phân tích lịch sử quá trình hình thành khái niệm về nghệ thuật từ phương Đông đến phương Tây từ các triết gia cô đại, hiện đại và hậu hiện đại. Mỗi khái niệm khác nhau thể hiện đặc trưng của thời đại, nơi chốn, cộng đồng, hoàn cảnh cụ thé nào đó.

Tác giả cũng phân tích các lý thuyết cơ bản về nghệ thuật như lý thuyết mô phỏng, lý thuyết về khiếu thâm mỹ và cái đẹp, lý thuyết hành lễ, các lý thuyết nhắn mạnh tới sự truyền thông, hoặc là cho mục đích biểu lộ hoặc là cho nhận thức. Tác giả nhấn mạnh vào vai trò nghệ thuật trong việc nâng cao nhận thức của chúng ta về cả bản thân (nới rộng chức năng tri giác của chúng ta về cả bản thân lẫn thế giới). Nghệ thuật có thể tác động tới cả hai điều đó. Năm 1984, Nhà xuất ban Sách giáo khoa Mác — Lênin đã phát hành công trình Nguyên lý mỹ học Mác — Lénin của tác giả Ju.

Xcacherơsicốp, Hoài Lam dịch [96]. Đây là công trình nghiên cứu mỹ học nghiêng nhiều về phương diện nghệ thuật. Di từ cảm xúc thâm mỹ, các tác giả đã chỉ ra bản chất của nghệ thuật và đề xuất những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác xít khi nghiên cứu về nghệ thuật. Liên quan đến nghiên cứu nghệ thuật, công trình gần đây nhất của có cuốn “Thế ma là nghệ thuật w?”của Cynthia Freeland do Nhu Huy dich [19] đã phân tích lịch sử khái niệm nghệ thuật không chỉ ở phương Tây mà còn ở cả phương Đông, giúp độc giả phần nào cắt nghĩa được khái niệm nghệ thuật và tác phẩm 11 nghệ thuật theo thời gian đã không chỉ còn tồn tại ở phạm trù cái đẹp nữa mà nó còn là một công cụ hữu hiệu cho việc nhận thức, đánh giá hiện thực của người nghệ sĩ.

Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu về nghệ thuật đã được một số học giả quan tâm. Vào những thập niên 80 — 90 thế kỷ trước, nhiều công trình mỹ học đã ra đời. Tác giả Lê Ngọc Trà có cuốn “Giáo trình mỹ học đại cương” [145]; tác giả Đỗ Huy có các cuốn “Mỹ học — khoa học về các quan hệ thẩm mỹ” [63], “Đạo đức học — Mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật” [65], “My học với tư cách là một khoa học” [61],. Tác giả Nguyễn Văn Huyén chủ biên cuốn “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thé kỷ mới” [69], Nguyễn Văn Huyén và Nguyễn Quốc Tuan có cuốn “Nghệ thuật với sự phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo trong công cuộc đối mới ”[74], và rat nhiều những bài báo về sang tạo nghệ thuật như: “Van hóa thẩm mỹ và hoạt động sảng tạo của con người ” [12], “Về đặc trưng của chân lý nghệ thuật và tính đặc thù trong sự tiếp cận nó ” [70], “Cầu trúc của hình tượng nghệ thuật và khả năng gợi mở của nó đổi với các tiềm năng sáng tao” [71],.

tác giả Đỗ Văn Khang có các cuốn “Giáo trình my học Mác — Lénin” [80], “Giáo trình lịch sử mỹ hoc” [78]. Hoài Lam với “Giáo trình mỹ hoc” [88]; Vũ Minh Tâm với “Mỹ hoc và giáo duc thẩm mỹ” [132]; Đào Duy Thanh với “Mỹ học đại cương” [133]; Vinh Quang Lê với “My học Mác — Lênïn ” [90], Phan Ngọc với “Mỹ học” [105]. Với góc độ xã hội học, cuốn “Xã hội hoc nghệ thuật” [136] của tác giả Bùi Văn Thắng đã khang định tam quan trọng của việc nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ xã hội học. Bởi, sự ra đời của các trường phái, học thuyết mới về nghệ thuật đặt ra đòi hỏi phải xem xét lại các lý thuyết nghệ thuật truyền thống.

Mặt khác, do sự phân tang của xã hội, của công chúng nghệ thuật nên kéo theo sự thay đổi về nhận thức thâm mỹ nói chung và nhận thức nghệ thuật nói riêng. Công trình đã đi sâu trình bày phương diện lý thuyết của xã hội học thực nghiệm nghệ thuật dựa trên một số loại hình nghệ thuật như văn học, âm nhạc, điện ảnh. 12 Trong cuốn “Giáo trình lịch sử mỹ hoc” [78], tac giả Đỗ Văn Khang cho rằng, nghệ thuật với tư cách là một nội dung nghiên cứu cơ bản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử mỹ học. Tác giả đặc biệt quan tâm tới quan điểm về nghệ thuật của Aristốt, Sếchpia, Schelling, Hêghen và Tsécnưsépxki.

và cho rằng, lý luận về nghệ thuật của họ có ý nghĩa to lớn trong lý luận mỹ học cũng như thực tiễn sáng tạo, trình diễn và thưởng thức nghệ thuật. Công trình là một tai liệu bổ ích cho việc nghiên cứu van dé nghệ thuật ở các trường đại học ở nước ta. Tác phẩm “Nghệ thuật học ”của tac giả Đỗ Văn Khang [77] đã phân tích nguồn gốc của nghệ thuật và các thành tựu nghệ thuật suốt chiều dài lịch sử nhân loại từ nghệ thuật nguyên thủy đến nghệ thuật hiện đại ở phương Đông và phương Tây. Trong chương bàn về nguồn gốc nghệ thuật, tác giả đã tổng hợp các học thuyết cũ về nguồn gốc nghệ thuật.

Do là các học thuyết: thuyết “Bar chước ”, thuyết “Du hy”, thuyết “Ma thuật”, thuyết “Biểu hiện”. Tác giả đưa ra quan niệm của mình lý giải nguồn gốc nghệ thuật dựa trên cơ sở thuyết “Tổng sinh lực và sinh lực thừa”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật Việt Nam" tập trung vào việc phát triển khả năng sáng tạo của sinh viên trong lĩnh vực nghệ thuật, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục nghệ thuật trong việc hình thành tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành. Bài viết cung cấp những phương pháp và chiến lược cụ thể để nâng cao năng lực sáng tạo, từ đó giúp sinh viên tự tin hơn trong việc thể hiện bản thân qua nghệ thuật.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục nghệ thuật, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ ngành mĩ thuật phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh ở trường trung học cơ sở Tân Triều huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội, nơi trình bày các phương pháp dạy học tích cực trong nghệ thuật. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ ngành mĩ thuật dạy học vẽ tranh đề tài cho học sinh tiểu học trường Đoàn Thị Điểm Ecopark cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc giảng dạy nghệ thuật cho lứa tuổi nhỏ. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ yếu tố truyền thống trong nghệ thuật sắp đặt Việt Nam giai đoạn 1995-2018, để thấy được sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục và sáng tạo nghệ thuật.