Mở đầu cho khuynh hướng mỹ học duy vật là nhà bách khoa thư Aristốt, ông không những là người đặt nền móng cho lôgic học mà còn cho cả Mỹ học (Esthétique). Mỹ học Aristốt được trình bày trong cuốn thứ tám của tác phẩm Chính trị học (Politique), trong Nghệ thuật thơ ca (Péotique) [3], ở phần Tu tir học (Rhétorique). Trong các công trình của mình, ông đã chống lại quan niệm của Platôn về nghệ thuật và xây dựng một lý thuyết mới về bản chất của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật cơ bản và giá trị tích cực của nó đối với đời sống đạo đức của con người. Dựa vào những nguyên ly duy vật nhân bản, nhà mỹ hoc Nga Tsécnusépxki trong cuốn “Quan hệ thấm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực ” [155] cho rằng hiện thực là điểm xuất phát cho lý thuyết nghệ thuật nói chung.
Xuất phát từ quan điểm này, ông nêu lên mục đích của nghệ thuật, đối tượng và phương thức biểu hiện của nghệ thuật. Đặc biệt, ông đã nêu lên chức năng nhận thức hiện thực, chức năng giáo dục của nghệ thuật được ông đặc biệt đề cao và cho rằng đặc trưng khái quát của nghệ thuật chính là mô tả cuộc sống, những tác phẩm nghệ thuật thường có ý nghĩa của một sự xét đoán đối với những hiện tượng của cuộc sống.Ăngghen không để lại một tác phẩm mỹ học nào riêng biệt. Các tư tưởng mỹ học của các ông đều gắn liền với ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác dé giải quyết những van dé quan trọng của hoạt động vật chất và tinh thân của xã hội. Cac tư tưởng mỹ học của các ông được trình bay sâu sac trong các công trình như: Hé tw tưởng Đức, Gia đình than thánh, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Chống Đuyrinh, Tu bản và nhiều tác phẩm khác, thi dụ như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Góp phan phê phán khoa kinh tế chính trị học [99] hoặc những thư từ C.
Angghen đã gửi cho bạn bè và gửi cho nhau khi các ông đánh giá thâm mỹ của nhiều nền văn học nghệ thuật trên thé giới. Trong các tác phẩm của minh, Mác va Angghen đã quan tâm sâu sắc tới bản chất của nghệ thuật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu cho từng loại hình nghệ thuật. Đến những năm 80 — 90 của thế kỷ XX, ở Liên Xô xuất hiện nhiều công trình: Mỹ học Mác — Lénin và việc giáo dục bộ đội của Ax. Milôviđốp và B.
Xaphrônốp; Mỹ học Mác — Lênin là một khoa học của P. Tơrôphimốp, Mỹ học — khoa học điệu ky của B. Erengroxx [41], Cá tính sang tạo cua nhà văn va sự phát triển của văn học [82] , Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người của M. Khrapchenco [83]; Mỹ học cơ bản và nâng cao của M.
Opxiannhicép chủ biên[117]. Những công trình này đều bàn về nguồn gốc, bản chất của nghệ thuật và những đặc điểm thâm mỹ của nó trong các loại hình như kịch, múa, ca kịch, âm nhạc, hội họa, điện ảnh. Rất nhiều chương trong các cuốn sách nay phân tích bản chất thâm mỹ của nghệ thuật thong qua những quan điểm va các khuynh hướng mỹ học khác nhau, đồng thời nêu lên quan điểm Mác xít về bản chất và các loại hình nghệ thuật. Tác phẩm “Hình thái học nghệ thuật” của tác giả M.Cagan [14] nghiên cứu kết cấu của toàn bộ thế giới nghệ thuật, phân biệt các cấp độ căn bản của sự phân chia nghệ thuật.
Nghệ thuật có những phẩm chất thâm mỹ, mang một thông tin nghệ thuật nào đấy và truyền đạt thông tin này từ nghệ sỹ đến công chúng. Mỗi loại hình nghệ thuật đều làm thành một hệ thống tín hiệu độc lập và độc đáo của những hình tượng. Những tín hiệu đó chính là tín hiệu của giá trị, bởi vì nghệ thuật ké cho chúng ta không phải về sự tồn tại khách quan của các sự vật, các hiện tượng hay các bản chất, mà về thế giới được nhân hóa, đã hướng tới con người vao lĩnh vực những sự quan tâm tinh than của nó, một thê giới gan liên với 10 những nhu cầu và những lý tưởng của con người. Tác phẩm “Bốn bài giảng mỹ học” của tác giả Ly Trach Hậu [46] đã phân tích các khái niệm mỹ học về cái đẹp, mỹ cảm và nghệ thuật.
Trong phần nghệ thuật, tác giả bàn về khái niệm nghệ thuật dưới góc độ triết học. Tác giả cho rằng, tác phâm nghệ thuật phải có yếu tố vật chất — nghệ sỹ phải đem thé giới trong trí tưởng tượng của mình thé hiện vào một chat liệu khách quan nhất định nào đó, tác giả chia tác phẩm thành ba tầng lớp nhưng thống nhất chặt chẽ với nhau là lớp hình thức, lớp chủ đề và tư tưởng. Tác pham “Một dé dẫn về lý thuyết nghệ thuật” của tác giả Cynthia Freeland [19] viết năm 2001 là tác phâm triết học nghệ thuật đã phân tích lịch sử quá trình hình thành khái niệm về nghệ thuật từ phương Đông đến phương Tây từ các triết gia cô đại, hiện đại và hậu hiện đại. Mỗi khái niệm khác nhau thể hiện đặc trưng của thời đại, nơi chốn, cộng đồng, hoàn cảnh cụ thé nào đó.
Tác giả cũng phân tích các lý thuyết cơ bản về nghệ thuật như lý thuyết mô phỏng, lý thuyết về khiếu thâm mỹ và cái đẹp, lý thuyết hành lễ, các lý thuyết nhắn mạnh tới sự truyền thông, hoặc là cho mục đích biểu lộ hoặc là cho nhận thức. Tác giả nhấn mạnh vào vai trò nghệ thuật trong việc nâng cao nhận thức của chúng ta về cả bản thân (nới rộng chức năng tri giác của chúng ta về cả bản thân lẫn thế giới). Nghệ thuật có thể tác động tới cả hai điều đó. Năm 1984, Nhà xuất ban Sách giáo khoa Mác — Lênin đã phát hành công trình Nguyên lý mỹ học Mác — Lénin của tác giả Ju.
Xcacherơsicốp, Hoài Lam dịch [96]. Đây là công trình nghiên cứu mỹ học nghiêng nhiều về phương diện nghệ thuật. Di từ cảm xúc thâm mỹ, các tác giả đã chỉ ra bản chất của nghệ thuật và đề xuất những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác xít khi nghiên cứu về nghệ thuật. Liên quan đến nghiên cứu nghệ thuật, công trình gần đây nhất của có cuốn “Thế ma là nghệ thuật w?”của Cynthia Freeland do Nhu Huy dich [19] đã phân tích lịch sử khái niệm nghệ thuật không chỉ ở phương Tây mà còn ở cả phương Đông, giúp độc giả phần nào cắt nghĩa được khái niệm nghệ thuật và tác phẩm 11 nghệ thuật theo thời gian đã không chỉ còn tồn tại ở phạm trù cái đẹp nữa mà nó còn là một công cụ hữu hiệu cho việc nhận thức, đánh giá hiện thực của người nghệ sĩ.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu về nghệ thuật đã được một số học giả quan tâm. Vào những thập niên 80 — 90 thế kỷ trước, nhiều công trình mỹ học đã ra đời. Tác giả Lê Ngọc Trà có cuốn “Giáo trình mỹ học đại cương” [145]; tác giả Đỗ Huy có các cuốn “Mỹ học — khoa học về các quan hệ thẩm mỹ” [63], “Đạo đức học — Mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật” [65], “My học với tư cách là một khoa học” [61],. Tác giả Nguyễn Văn Huyén chủ biên cuốn “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thé kỷ mới” [69], Nguyễn Văn Huyén và Nguyễn Quốc Tuan có cuốn “Nghệ thuật với sự phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo trong công cuộc đối mới ”[74], và rat nhiều những bài báo về sang tạo nghệ thuật như: “Van hóa thẩm mỹ và hoạt động sảng tạo của con người ” [12], “Về đặc trưng của chân lý nghệ thuật và tính đặc thù trong sự tiếp cận nó ” [70], “Cầu trúc của hình tượng nghệ thuật và khả năng gợi mở của nó đổi với các tiềm năng sáng tao” [71],.
tác giả Đỗ Văn Khang có các cuốn “Giáo trình my học Mác — Lénin” [80], “Giáo trình lịch sử mỹ hoc” [78]. Hoài Lam với “Giáo trình mỹ hoc” [88]; Vũ Minh Tâm với “Mỹ hoc và giáo duc thẩm mỹ” [132]; Đào Duy Thanh với “Mỹ học đại cương” [133]; Vinh Quang Lê với “My học Mác — Lênïn ” [90], Phan Ngọc với “Mỹ học” [105]. Với góc độ xã hội học, cuốn “Xã hội hoc nghệ thuật” [136] của tác giả Bùi Văn Thắng đã khang định tam quan trọng của việc nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ xã hội học. Bởi, sự ra đời của các trường phái, học thuyết mới về nghệ thuật đặt ra đòi hỏi phải xem xét lại các lý thuyết nghệ thuật truyền thống.
Mặt khác, do sự phân tang của xã hội, của công chúng nghệ thuật nên kéo theo sự thay đổi về nhận thức thâm mỹ nói chung và nhận thức nghệ thuật nói riêng. Công trình đã đi sâu trình bày phương diện lý thuyết của xã hội học thực nghiệm nghệ thuật dựa trên một số loại hình nghệ thuật như văn học, âm nhạc, điện ảnh. 12 Trong cuốn “Giáo trình lịch sử mỹ hoc” [78], tac giả Đỗ Văn Khang cho rằng, nghệ thuật với tư cách là một nội dung nghiên cứu cơ bản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử mỹ học. Tác giả đặc biệt quan tâm tới quan điểm về nghệ thuật của Aristốt, Sếchpia, Schelling, Hêghen và Tsécnưsépxki.
và cho rằng, lý luận về nghệ thuật của họ có ý nghĩa to lớn trong lý luận mỹ học cũng như thực tiễn sáng tạo, trình diễn và thưởng thức nghệ thuật. Công trình là một tai liệu bổ ích cho việc nghiên cứu van dé nghệ thuật ở các trường đại học ở nước ta. Tác phẩm “Nghệ thuật học ”của tac giả Đỗ Văn Khang [77] đã phân tích nguồn gốc của nghệ thuật và các thành tựu nghệ thuật suốt chiều dài lịch sử nhân loại từ nghệ thuật nguyên thủy đến nghệ thuật hiện đại ở phương Đông và phương Tây. Trong chương bàn về nguồn gốc nghệ thuật, tác giả đã tổng hợp các học thuyết cũ về nguồn gốc nghệ thuật.
Do là các học thuyết: thuyết “Bar chước ”, thuyết “Du hy”, thuyết “Ma thuật”, thuyết “Biểu hiện”. Tác giả đưa ra quan niệm của mình lý giải nguồn gốc nghệ thuật dựa trên cơ sở thuyết “Tổng sinh lực và sinh lực thừa”.