Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa cùng tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam trong hơn hai thập niên qua, các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một và dần trở nên xa lạ với thế hệ trẻ. Trong khi nhiều đề tài khoa học và dự án bảo tồn cấp Nhà nước đã được triển khai, các dự án và mô hình bảo tồn nghệ thuật truyền thống do các tổ chức tư nhân hoặc nhóm người trẻ phi lợi nhuận khởi xướng lại chưa được khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện, dù các mô hình này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong đời sống cộng đồng.

Khóa luận tốt nghiệp ngành Việt Nam học của tác giả Vũ Thị Hường (Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2018 dưới sự hướng dẫn của TS. Bằng Hoàng Giang) đi sâu phân tích mô hình hoạt động của Câu lạc bộ Chèo 48h. Mục tiêu chung của nghiên cứu là làm rõ quá trình và đánh giá vai trò của CLB Chèo 48h trong việc đưa nghệ thuật truyền thống đến với giới trẻ, cụ thể qua ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu quá trình tiếp cận sinh viên của CLB Chèo 48h và cách thức tổ chức các chương trình hoạt động nhằm thu hút đối tượng tham gia tìm hiểu nghệ thuật truyền thống.
  2. Khảo sát không gian và thời gian sinh hoạt thực tế của CLB Chèo 48h tại các cơ sở đào tạo và không gian văn hóa.
  3. Đánh giá ý nghĩa và tác động của các hoạt động thuộc CLB Chèo 48h đối với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị nghệ thuật dân gian truyền thống trong xã hội đương đại.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động bảo tồn và thực hành nghệ thuật dân gian truyền thống của CLB Chèo 48h. Phạm vi không gian tập trung chủ yếu vào các lớp học được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) cùng các địa điểm biểu diễn, dã ngoại liên quan tại Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình. Phạm vi thời gian khảo sát thực địa được thực hiện từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, công ước quốc tế và các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:

    • Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT): Dựa trên khái niệm của Bùi Quang Thắng (2003), Khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa (2017) và Công ước 2003 về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.
    • Nghệ thuật biểu diễn dân gian: Sử dụng khung phân tích của Lê Ngọc Canh (1989) về tính nguyên hợp (diễn xướng kết hợp hát, múa, nhạc, trò diễn, sân khấu) và mối liên hệ với không gian làng xã Bắc Bộ theo Trần Cừ (1984).
    • Bảo tồn và phát huy di sản: Tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy theo Hoàng Phê, Chu Thị Huyền Yến (2016), cùng các định hướng đưa di sản trở về với cộng đồng của Lê Thị Minh Lý (2008), Nguyễn Chí Bền (2002) và Đặng Thị Tuyết (2015).
    • Ba loại hình nghệ thuật dân gian khảo sát: Khái quát lịch sử, đặc trưng và hệ thống làn điệu của Chèo (kịch hát kể chuyện, 4 chiếng chèo Đông - Đoài - Nam - Bắc, 5 mô hình nhân vật Đào - Kép - Hề - Lão - Mụ), Xẩm (thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp xếp hạng "trung ca", hệ thống 7 điệu chính tông và các điệu xẩm hóa), và Chầu văn (âm nhạc gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, 13 điệu hát văn và 4 hình thức biểu diễn).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các nguồn sách báo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành văn hóa nghệ thuật và các tài liệu lưu trữ về Chèo, Xẩm, Chầu văn.
    • Phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu): Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu trực tiếp với các nhóm đối tượng: Ban điều hành và chủ nhiệm CLB Chèo 48h, các nghệ sĩ và giảng viên chuyên môn trực tiếp giảng dạy ba bộ môn, các học viên (sinh viên, người đi làm, học sinh) và khán giả tham gia các buổi biểu diễn báo cáo. Mọi dữ liệu phỏng vấn đều được đảm bảo tính khuyết danh.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn sơ cấp thu được qua các biên bản ghi chép phỏng vấn sâu, quan sát tham dự tại các buổi học từ tháng 1 đến tháng 5/2018 tại ĐHKHXH&NV, các chương trình Gala tại đình Kim Ngân, đền Voi Phục, KTX Mễ Trì và các chuyến đi thực tế tại chùa Nôm (Hưng Yên), làng Khuốc (Thái Bình).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về DSVHPVT, nghệ thuật biểu diễn dân gian, cùng các phương thức bảo tồn và trao truyền di sản trong đời sống đương đại. Tác giả đi sâu phân tích đặc trưng của ba loại hình nghệ thuật cổ truyền:

Tiêu chí Nghệ thuật Chèo Nghệ thuật Xẩm Nghệ thuật Chầu văn
Nguồn gốc / Không gian Đồng bằng Bắc Bộ; nôi sinh từ thế kỷ X; 4 chiếng Đông, Đoài, Nam, Bắc Đồng bằng Bắc Bộ; hình thành khoảng thế kỷ XIV; gắn với người khiếm thị Xuất xứ Bắc Bộ; phát triển mạnh ở Nam Định (Phủ Dầy, Phủ Quảng) từ thế kỷ XVII
Đặc trưng thể loại Sân khấu kịch hát dân gian kể chuyện; tính tổng hợp (hát, múa, nhạc, diễn) Âm nhạc dân gian chuyên nghiệp ("trung ca"); tính tự sự, trữ tình, mộc mạc Âm nhạc nghi lễ tâm linh (tín ngưỡng Tứ phủ, lên đồng, hầu bóng)
Hệ thống làn điệu / Phân loại Chèo sân đình, Chèo cải lương, Chèo chái hề, Chèo hiện đại; 5 loại vai chính 7 điệu chính tông (Chợ, Thập ân, Chênh bong, Phồn huê, Ba bậc, Riềm huê, Tàu điện, Hò bốn mùa) 13 điệu văn (Bỉ, Miễu, Thống, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu...); 4 hình thức
Nhạc cụ chủ đạo Đàn nhị, đàn bầu, đàn nguyệt, sáo, đàn tam thập lục, trống Đàn nhị, cặp sênh, trống mảnh Đàn nguyệt, trống bản, phách, cảnh, thanh la, kèn bầu

Chương này cũng giới thiệu bối cảnh ra đời của Dự án "Chèo 48h – Tôi chèo về quê hương" (khởi sự năm 2014, đạt giải Nhất cuộc thi "Ý tưởng Tôi 20", giải Ba cuộc thi "Ý tưởng cộng đồng FBA IC 2015", Top 10 "Khởi nghiệp cùng Kawai 2015"). Dự án hoạt động dưới sự bảo trợ chuyên môn của Nhà hát Chèo Việt Nam và bảo trợ thông tin từ Quỹ Văn hóa Hà Nội. Sau giai đoạn đầu diễn ra tại các không gian công cộng, năm 2016 dự án chính thức đưa mô hình vào các trường đại học với lộ trình 48 giờ đào tạo kéo dài trong 2 tháng.

Mô hình tổ chức của CLB Chèo 48h:
- Khóa học Khám phá: 15 buổi đào tạo căn bản (Chèo, Xẩm, Chầu văn) do nghệ nhân/nghệ sĩ trực tiếp giảng dạy.
- Sự kiện cộng đồng & Thực tế: Gala show "Tôi chèo về quê hương", tọa đàm, dã ngoại điền dã làng nghề.
- Truyền thông đa phương tiện: Kênh mạng xã hội, sản phẩm truyền thông số, kết nối báo chí, truyền hình.

Chương 2: Quá trình Câu lạc bộ Chèo 48h đưa nghệ thuật truyền thống đến sinh viên

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình vận hành và triển khai các hoạt động của CLB Chèo 48h trong việc tiếp cận nhóm công chúng trẻ:

  • Cơ cấu người học: Sinh viên chiếm hơn 50% tổng số học viên. Ngoài ra có sự tham gia đa dạng từ học sinh tiểu học (9 tuổi), trẻ mầm non (trong các khóa thử nghiệm), người đi làm đến người nghỉ hưu (55 tuổi). Quy mô mỗi lớp duy trì từ 15 đến 20 học viên.
  • Phương thức tiếp cận và truyền thông: CLB xây dựng fanpage, sản xuất phóng sự truyền hình (VTV24), liên kết với các câu lạc bộ học thuật tại các trường đại học (CLB Văn hóa Nghệ thuật Dân gian, CLB Tuyên truyền Văn hóa Lịch sử Thăng Long thuộc ĐHKHXH&NV, Đại học Văn hóa).
  • Quy trình truyền dạy 2 giai đoạn:
    1. Lớp học khám phá (15 buổi): Học vào các buổi tối (18h00 – 20h00), bố trí lịch xen kẽ. Học viên được học lịch sử bộ môn, kỹ thuật phát âm, vũ đạo, sử dụng nhạc khí và trích đoạn (trích đoạn Chèo Nô Mầu Phú Ông, Xã trưởng mẹ Đốp; các bài Xẩm Sướng khổ vì chồng, Quê Choa; các giá văn Cô Sáu Sơn Trang, Chầu Bé Bắc Lệ, Ông Hoàng Bảy). Lớp học có sự hướng dẫn trực tiếp của nghệ sĩ chuyên nghiệp, nghệ nhân ưu tú và giảng viên nghệ thuật.
    2. Trải nghiệm thực tế và dã ngoại: Tổ chức các chuyến điền dã đến cái nôi chèo tại làng Khuốc (Đông Hưng, Thái Bình) và làng cổ chùa Nôm (Văn Lâm, Hưng Yên) qua mô hình trò chơi thử thách văn hóa ("Cuộc đua kỳ thú").
  • Không khí sinh hoạt và hoạt động biểu diễn cộng đồng: Các buổi học diễn ra cởi mở, chia nhóm nhỏ tự luyện tập và nhận phản hồi trực tiếp từ giảng viên. Cuối khóa, học viên tham gia đêm Gala báo cáo thành tích. Khảo sát số lượng khán giả qua 4 năm cho thấy sự tăng trưởng rõ rệt: năm thứ nhất tại đình Kim Ngân thu hút khoảng 200 khán giả; năm thứ hai tại đền Voi Phục đạt 500 khán giả; từ năm thứ ba khi đưa vào trường đại học (ĐHKHXH&NV, KTX Mễ Trì) đã thu hút gần 1.000 khán giả theo dõi.

Chương 3: Vai trò và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động của CLB Chèo 48h

Chương 3 tổng kết các tác động thực tế và các chiều kích xã hội từ mô hình CLB Chèo 48h:

  • Vai trò đối với cộng đồng và sinh viên:
    • Chuyển biến nhận thức: Giúp sinh viên nhận thức được mối quan hệ gắn kết giữa giá trị truyền thống và văn hóa hiện đại; xóa bỏ định kiến xem nghệ thuật dân gian là lỗi thời.
    • Trao truyền thế hệ: Tạo cầu nối tiếp nhận trực tiếp kỹ năng, kiến thức từ thế hệ nghệ nhân gạo cội sang thế hệ trẻ.
    • Thiết lập không gian văn hóa chung: Tạo dựng môi trường giao lưu an toàn, giúp những người trẻ yêu thích nghệ thuật cổ truyền không bị cô lập mà tự tin thực hành.
    • Quảng bá quốc tế: Sinh viên tham gia CLB trở thành hạt nhân văn hóa, trực tiếp biểu diễn và thuyết minh nghệ thuật dân tộc cho du khách và sinh viên quốc tế (như các đoàn khách tại Văn Miếu, lưu học sinh Nhật Bản).
  • Vấn đề đặt ra và giải pháp: Khóa luận chỉ ra những thuận lợi và khó khăn về nguồn lực duy trì, đồng thời đề xuất giải pháp tiếp tục nhân rộng mô hình liên kết đào tạo ngoại khóa trong hệ thống giáo dục đại học, đa dạng hóa hình thức truyền thông số và mở rộng các chuyến trải nghiệm điền dã.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

  • Kết quả nghiên cứu thực nghiệm:

    • Thống kê toàn diện quy mô hoạt động của dự án qua 4 năm vận hành (2014 – 2018): Tổ chức thành công 4 khóa học Chèo, 3 khóa học Chầu văn, 2 khóa học Xẩm, đào tạo trực tiếp gần 100 học viên.
    • Ghi nhận sự mở rộng quy mô tiếp cận cộng đồng qua các đêm diễn Gala: từ 200 người (đình Kim Ngân) lên 500 người (đền Voi Phục) và đạt mốc gần 1.000 người khi biểu diễn tại không gian giảng đường đại học.
    • Khảo sát định tính xác nhận mô hình lớp học 15 buổi kết hợp dã ngoại thực tế đã giúp học viên không chuyên nắm được kỹ năng cơ bản và tự tin biểu diễn trọn vẹn các làn điệu, trích đoạn kinh điển.
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

    • Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình CLB nghệ thuật dân gian phi lợi nhuận đến các trường đại học trên toàn quốc.
    • Đẩy mạnh sự gắn kết giữa lý thuyết văn hóa trên giảng đường với các hoạt động thực hành nghệ thuật do nghệ nhân chuyên môn hướng dẫn.
    • Tận dụng các kênh truyền thông xã hội và sự kiện tương tác trực tiếp nhằm thu hút sự quan tâm tự nhiên của giới trẻ đối với di sản.
  • Đóng góp học thuật:

    • Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về mô hình bảo tồn DSVHPVT do các nhóm thanh niên tự phát triển và vận hành độc lập với các chương trình bảo tồn của Nhà nước.
    • Cung cấp dữ liệu thực tế về phương thức đưa nghệ thuật truyền thống "từ sân đình vào sân trường", đóng góp bài học thực tiễn cho ngành Việt Nam học và Quản lý văn hóa trong công tác giáo dục di sản cho thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của đề tài:

    • Phạm vi khảo sát không gian tập trung chủ yếu tại địa bàn thành phố Hà Nội, đặc biệt là nhóm sinh viên thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, chưa mở rộng khảo sát so sánh với các trường khối kỹ thuật, kinh tế trên diện rộng.
    • Thời gian khảo sát thực tế diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018), do đó dung lượng mẫu khảo sát định tính tập trung vào các nhóm học viên đang theo học tại thời điểm nghiên cứu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng khảo sát định lượng với cỡ mẫu lớn trên nhiều trường đại học trên toàn quốc nhằm đánh giá toàn diện mức độ quan tâm của sinh viên đối với các loại hình nghệ thuật dân gian khác nhau.
    • Nghiên cứu mô hình tự chủ tài chính, cơ chế bảo trợ và tính bền vững dài hạn của các tổ chức phi chính phủ/câu lạc bộ độc lập trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa truyền thống.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Xã hội học, Quản lý văn hóa và Công tác thanh niên.
    • Ban điều hành các câu lạc bộ văn hóa sinh viên, các nhà sáng lập dự án khởi nghiệp xã hội, các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm:
    • Khung lý thuyết và cách thức phân loại hệ thống làn điệu của Chèo, Xẩm, Chầu văn tại Chương 1.
    • Quy trình thiết kế khóa học trải nghiệm 15 buổi và phương pháp kết hợp truyền thông trực tuyến với biểu diễn thực tế tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Tên gọi "Chèo 48h – Tôi chèo về quê hương" mang ý nghĩa thực tế như thế nào?
Tên gọi "Chèo 48h" không có nghĩa là dự án chỉ diễn ra trong vòng 48 giờ liên tục, mà biểu thị tổng thời lượng khoảng 48 giờ học tập và trải nghiệm thực tế kéo dài trong 2 tháng. Cụm từ "Tôi chèo về quê hương" mang thông điệp về một chuyến hành trình quay trở về với cội nguồn và các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc.

2. Khóa học khám phá của CLB Chèo 48h được tổ chức với thời lượng và khung giờ ra sao?
Khóa học ngắn hạn được thiết kế gồm 15 buổi, mỗi buổi kéo dài 2 tiếng (từ 18h00 đến 20h00) vào các buổi tối trong tuần. Lịch học các bộ môn Chèo, Xẩm, Chầu văn được sắp xếp xen kẽ để học viên có thể linh hoạt đăng ký đồng thời hai bộ môn nếu có nguyện vọng.

3. Đối tượng tham gia các lớp học của CLB Chèo 48h gồm những thành phần nào?
Sinh viên các trường đại học chiếm tỷ lệ lớn nhất (hơn 50% học viên). Bên cạnh đó, các lớp học ghi nhận sự tham gia của nhiều nhóm tuổi khác nhau, từ học sinh tiểu học (9 tuổi), trẻ mầm non (trong các khóa thử nghiệm), người đi làm đến những người về hưu (55 tuổi).

4. Khán giả theo dõi các chương trình Gala tổng kết của CLB phát triển như thế nào qua các năm?
Quy mô khán giả tăng trưởng qua từng năm tổ chức: năm thứ nhất tại đình Kim Ngân thu hút khoảng 200 khán giả; năm thứ hai tại đền Voi Phục thu hút 500 người; đến năm thứ ba và thứ tư khi dự án liên kết tổ chức tại giảng đường Trường ĐHKHXH&NV và KTX Mễ Trì, số lượng khán giả đã đạt gần 1.000 người.

5. Hệ thống 7 làn điệu Xẩm chính tông được nêu trong khóa luận gồm những điệu nào?
Khóa luận hệ thống hóa 7 làn điệu Xẩm chính tông gồm: Xẩm chợ, Xẩm thập ân, Chênh bong, Phồn huê, Ba bậc, Riềm huê, Tàu điện và điệu Hò bốn mùa. Ngoài ra còn có các làn điệu được xẩm hóa như Sa mạc, Bồng mạc, Trống quân, Cò lả, Hát ví, Phù thủy.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Hường đã làm sáng tỏ hành trình đưa nghệ thuật dân gian truyền thống tiếp cận giới trẻ thông qua nghiên cứu trường hợp CLB Chèo 48h. Công trình phân tích chi tiết quy trình kết hợp giữa đào tạo kỹ năng ngắn hạn, trải nghiệm điền dã và truyền thông hiện đại trong môi trường đại học. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các mô hình bảo tồn di sản phi chính quy do thanh niên làm chủ thể, đồng thời cung cấp tư liệu tham khảo thực tiễn cho công tác giáo dục và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong bối cảnh đương đại.