Chương 1: Cơ sở lí thuyết. Chương 2: Đặc điểm kết hợp của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt. Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt. CƠ SỞ LÍ THUYẾT Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát những nội dung lí thuyết sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề mà luận văn đặt ra: từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt.
Chúng tôi lựa chọn hai cơ sở lí luận là cơ sở sinh học và cơ sở ngôn ngữ học. Khái niệm về từ, ngữ và từ, ngữ chỉ mùi, vị 1. Khái niệm về từ, ngữ 1. Khái niệm về từ Từ là đơn vị rất cơ bản trong ngôn ngữ học.
Hiện nay, chưa có quan điểm thống nhất về loại đơn vị này. Theo Nguyễn Thiện Giáp, "Từ là đơn vị nhỏ nhất của lời nói, có tính độc lập" [17, tr. Các tác giả cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" coi từ là "đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu" [13, tr. Theo Đỗ Hữu Châu: "Từ là một đơn vị hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức.
Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi là cấu trúc của từ) và thành phần ngữ pháp" [9, tr. Các tác giả "Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học" coi "từ là đơn vị cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và các thuộc tính của chúng, các sự vật các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là tổng thể các quan hệ của ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ. Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói. Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ… Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị 9 tạo nên từ; cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ" [53, tr.
Để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài và khảo sát tư liệu, chúng tôi lựa chọn khái niệm từ của Đỗ Hữu Châu như sau: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu" [8]. Như vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ âm và ngữ nghĩa. Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa như vậy đã khiến cho từ có khả năng vận dụng độc lập để tạo câu. Trong định nghĩa vừa nói, có hai đặc điểm về từ được nêu ra đáng chú ý: - Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là một chiết đoạn âm thanh hoàn chỉnh nhỏ nhất, đồng thời có ý nghĩa (dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính, các quan hệ.
trong thực tiễn đời sống). - Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói dùng để đặt câu: Từ có thể tách biệt ra khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác, cụm từ.) và được dùng theo quy tắc nhất định để để tạo nên câu (là đơn vị được cấu tạo bằng các từ, cụm từ, dùng để thông báo). Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không được dùng trực tiếp để "đặt nên câu"); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không "nhỏ nhất" ). Qua những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có cách biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ tri giác là có (hiện thực về mặt tâm lý) ấy.
Khái niệm về ngữ Bên cạnh từ tiếng Việt thì đi liền kề với nó mà chúng ta không thể không nhắc đến đó chính là ngữ. Ngữ được biết đến như là: "Đơn vị ngữ pháp giữa từ và câu" [8]. Trong nói viết hằng ngày, bên cạnh đơn vị cơ bản là từ, người ta còn dùng ngữ (hay cụm từ). Ngữ là một loại đơn vị từ vựng được 10 hình thành do sự ghép lại của vài từ, có đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa ổn định, tồn tại với tư cách một đơn vị mang tính sẵn có như từ.
Ví dụ: anh hùng rơm, nuôi ong tay áo, vắt chanh bỏ vỏ. trong tiếng Việt; to have on, to join battle, to get wind of. trong tiếng Anh v. Những đơn vị ấy tuy do vài từ ghép lại nhưng lại có những đặc điểm giống như từ.
Chúng là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, hình thành trong quá trình giao tiếp từ rất lâu đời, có tính xã hội, mang tính cố định, bắt buộc và được coi là đơn vị tương đương với từ. Khi cần sử dụng trong giao tiếp, người ta chỉ việc lựa chọn và tái sử dụng chứ không phải lâm thời ghép các âm lại theo cách riêng của cá nhân. Ngữ được hình thành trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ. Ngữ thường là một tổ hợp từ.
Vì vậy, nghĩa của một ngữ là nghĩa chung cho toàn bộ tổ hợp chứ không phải là nghĩa của các từ cộng lại. Ngữ có kết cấu hoàn chỉnh và chặt chẽ. Để hiểu được và sử dụng được ngữ, ta thường phải ghi nhớ chúng như là những chỉnh thể, khi sử dụng, ta không thể tùy tiện thay đổi tổ chức của chúng. Nghĩa của ngữ có thể tương đương với nghĩa của một từ, vì vậy ta có thể dùng chúng như những từ ngữ bình thường.
Theo Nguyễn Như Ý, ngữ được quan niệm như sau: Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp. Trong một ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ).
Ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tố. Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng. 11 Ngữ thường chia ra hai kiểu: ngữ tự do và ngữ không tự do (ngữ cố định).
Ngữ tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh (như: đọc sách). Còn trong ngữ không tự do thì tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt (như: vui tính, bền gan, sân bay, đường sắt). Trong quá trình sử dụng, người ta đã so sánh sự khác nhau giữa ngữ cố định và ngữ từ do về các đặc điểm sau: + Về bản chất: ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định, bắt buộc. Còn ngữ tự do là một tổ hợp hay kết cấu được lâm thời tạo ra trong quá trình giao tiếp.
+ Về nguồn gốc: ngữ cố định là sản phẩm của tập thể, có tính xã hội còn ngữ tự do là sản phẩm của cá nhân. + Về ý nghĩa: nghĩa của ngữ cố định, đặc biệt là các thành ngữ thường là một chỉnh thể, thường vượt xa hay khác biệt so với nghĩa của thành tố cấu tạo. Ví dụ: Tiếng Anh: to play first fiddle: đóng vai trò chủ chốt (nghĩa từng từ: chơi cây vĩ cầm số một). The fish story: chuyện cường điệu, phóng đại (nghĩa từng từ: chuyện cá).
To show the white feather: hèn nhát (nghĩa từng từ: phơi bày cái lông trắng). Tiếng Pháp: Donner sa langue au chat: không dám đoán (nghĩa từng từ: cho mèo ngôn ngữ của nó). Entre chien et loup: chạng vạng (nghĩa từng từ: giữa con chó và con sói). Tiếng Việt : Ếch ngồi đáy giếng: sự thiển cận.
Buồn ngủ gặp chiếu manh: sự may mắn (nghĩa đen: buồn ngủ và có được chiếc chiếu để ngủ). Còn nghĩa của ngữ tự do là hợp nghĩa của các thành tố. Người ta dễ dàng giải thích nghĩa của ngữ tự do bằng cách giải thích tuần tự nghĩa của các thành tố. Khái niệm về mùi, vị và từ, ngữ chỉ mùi, vị Giống như màu sắc và âm thanh, mùi, vị luôn len lỏi và có mặt khắp nơi trong thế giới bao quanh con người.
Có thể nói, mùi, vị là một phần tất yếu của cuộc sống con người và các loài vật. Con người có năm giác quan, thì đã có tới hai giác quan (khứu giác và vị giác) dành cho sự cảm nhận về mùi và vị. Chính vì thế, trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc có cả một trường từ vựng dành cho mùi và vị. Khái niệm về mùi Trong tiếng Việt, trường từ vựng này khá phong phú, bao gồm một số tiểu trường.
Đó là những tiểu trường như tên gọi khái quát (mùi, vị, hơi, hương,.), tên gọi các mùi và vị cụ thể (thơm, hôi, thối, hắc, khai, khắm, khẳm, khét, tanh, cay, đắng, ngọt, mặn, nồng, nhạt, chua, chát…), tên gọi các trạng thái hay quá trình của mùi, vị (bay, bốc, dậy, thoang thoảng, sực nức, thấm, ngào ngạt, nhạt, phai, mất, hết…), tên gọi các hoạt động của con người đối với mùi, vị (ngửi, hít, đánh hơi, nếm, cảm thấy, cảm nhận, tẩy, xua, khử, tạo…). Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê, chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2006), mùi là danh từ chỉ hơi tỏa ra từ vật, có thể nhận biết được bằng mũi. Ví dụ: Mùi thơm. Mùi hương ngào ngạt.