MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đềtài Thành ngữ, tục ngữ là báu vật của ngƣời dân hai nƣớc Trung Quốc và Việt Nam. Chứa đựng nhiều ý nghĩa về cả mặt ngôn ngữ lẫn văn hóa. Thành ngữ, tục ngữ qua sự chắt lọc của thời gian hình thành nội hàm văn hóa sâu đậm và chứa đựng đặc sắc dân tộc nổi bật.
Trung Quốc và Việt Nam hai nƣớc ở gần nhau chỉ cách nhau một dòng sông, việc giao tiếp văn hóa rễ sâu lá tốt, lịch sử lâu dài, và có nhiều điểm giống về mặt văn hóa. Chẳng hạn nhƣ, văn hóa liên quan đến nƣớc thì là một bình diện nổi bật. Nƣớc và cuộc sống của con ngƣời có quan hệ mật thiệt, và gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của xã hội, tất cả các nơi có nƣớc thì có văn hóa sinh ra. Ở Trung Quốc có câu chuyện“Vua Vũ chống lụt”và phongtục “Đua thuyềnrồng”, mà ởViệtNam cócâuchuyện “Sơntinh Thủytinh” vànghệthuật “Múarốinƣớc”.Bởinƣớccóvịtríquantrọng trongcuộcsốngsảnxuấtcủanhândânhainƣớc, làmsángtạoranhiều thànhngữ, tụcngữliênquanđến“nƣớc”.TrongtiếngHáncóthànhngữ nhƣ “山穷水尽” (nơi khỉ ho cò gáy) và tục ngữ nhƣ “水至清则无鱼” (nƣớc trong quá thì cá cũng không sống đƣợc) ., tiếng Việt có thành ngữ nhƣ “nƣớc chảy đá mòn” và tục ngữ “nƣớc mắt cá sấu”.
Tuy thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa Trung Việt hai nƣớc có nhiều điểm giống về ý nghĩa và văn hóa nội hàm, nhƣng hiện khá ít ngƣời xuất phát từ góc độ thành ngữ, tục ngữ để nghiên cứu, khóa luận này sẽ bàn luận những nội dung về vấn đề này, hi vọng cung cấp cho ngƣời đọc nhiều thông tin về vấn đề này và góp phần tăng cƣờng giao lƣu văn hóa giữa 5 z hainƣớc. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của luận văn Khi làm luận văn này tôi hƣớng đến những mục đích nhƣ sau: Thứ nhất, luận văn này sẽ nghiên cứu từ góc độ từ vựng, kết hợp với những lý luận về ngôn ngữ học, đối chiếu những thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa hai nƣớc Trung Quốc - Việt Nam, phân tích nội hàm văn hóa khác biệt của dân tộc hai nƣớc. Góp phần làm nổi bật đặc trƣng tƣ duy của ngƣời dân Việt Nam và Trung Quốc, từ đó gợi mở hƣớng nghiên cứu cho những vấn đề khác trong ngôn ngữ học và văn hóa. Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ là bƣớc đệm giúp những ngƣời đi sau phát triển có chiều sâu hơn khi làm nghiên cứu đối chiếu tƣơng tự, đồng thời luận văn có tính ứng dụng cao khi đƣợc chọn để áp dụng vào dạy học thực tiễn, giúp ngƣời dân hai nƣớc hiểu thêm về văn hóa của nhau, giảm bớt cản trở trong hoạt động giao tiếp liên vănhóa.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luậnvăn Luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ nhƣ sau: 1. Trình bày những nội dung cơ bản về định nghĩa và giới hạn thành ngữ và tục ngữ tiếng Hán và tiếngViệt. Chủ yếu thảo luận giới hạn, độ dài, biểu hiện về mặt ngữ âm và chức năng ngữ pháp về thành ngữ và tục ngữ giữa tiếng Hán và tiếngViệt. Đối chiếu ý nghĩa của những thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa tiếng Hán và tiếngViệt.
Trong đó bao gồm quan hệ ý nghĩa mặt chữ và ý nghĩa thực tế của những thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa tiếng Hán và tiếng Việt và quan hệ cụ thể và ý ví von của những thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa tiếng Hán và tiếngViệt. Đối chiếu nội hàm văn hóa của những thành ngữ và tục ngữ liên 6 z đến “nƣớc” giữa tiếng Hán và tiếngViệt. Trong đó bao gồm tình cảm của ngƣời dân hai nƣớcđối với “nƣớc”, những phƣơng diện nhƣ: tín ngƣỡng và phong tục cũng nhƣ phƣơng thức cuộc sống liên đến “nƣớc” của ngƣời dân hai nƣớc Trung Quốc và Việt Nam. Chỉ ra điểm giống và khác và nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về ý nghĩa và nội hàm văn hóa của những thành ngữ và tục ngữ liên đến “nƣớc” giữa tiếng Hán và tiếngViệt.
Lịch sử nghiên cứu vấnđề Bất kể ở Việt Nam hay ở Trung Quốc, hiếm có công trình nghiên cứu về ý nghĩa và nội hàm văn hóa của thành ngữ và tục ngữ, đặc biệt là liên quan đến“nƣớc”. Từ những năm 20 của thế kỉ trƣớc, các học giả Việt Nam đã bắt đầu công việc nghiên cứu về thành ngữ phong dao, tuy mới chỉ dừng ở mức độ thu thập, chƣa đi sau vào nghiên cứu, phân tích. Đại diện giai đoạn này là học giả Ôn Nhƣ Nguyễn Văn Ngọc với quyển “Tục ngữ và phong dao” xuất bản năm 1928. Phan Thị Phƣơng Thảo trong luận văn “Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay” (2010) đã có liệt kê đầy đủ, cụ thể về tình hình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay.
Thông qua luận văn, dễ nhận thấy từ trƣớc năm 1975 ở Việt Nam đã xuất hiện khá nhiều nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ từ nhiều góc độ: văn học, ngôn ngữ học, đời sống … Tuy nhiên, chƣa nhiều nghiên cứu tập trung phân tích một yếu tố văn hóa và tiến hành đối chiếu với một ngôn ngữ khác, ví dụ tiếng Hán. Đa phần các nghiên cứu tập trung làm rõ khái niệm, hạn định thành ngữ tục ngữ, vị trí của chúng trong đời sống của ngƣời Việt, giá trị lịch sử học, dân tộc học, …. Tuy vậy, thông qua nghiên cứu này, ta có 7 z thể thu đƣợc một lƣợng lớn các quan điểm về việc định nghĩa và giới hạn tục ngữ tiếng Việt, đồng thời có thể chắt lọc những tục ngữ nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn. Phạm Minh Tiến (2008) : “Đặc điểm thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt) ”.
Chủ yếu là bàn luận hình thức kết cấu, đặc điểm ngữ nghĩa, văn hóa-tƣ duy dân tộc và phƣơng thức chuyển dịch của thành ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Không có nhiều nội dung nói tỉ mỉ về ý nghĩa và nội hàm của thành ngữ. Ở Trung Quốc, có thể tìm thấy những công trình là nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt, nhƣng mà đều là đối chiếu từ góc độ cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa, ít công trình đối chiếu từ khía cạnh văn hóa nộihàm. Thái Tâm Giao (2011) : “So sánh đối chiếu thành ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt”.
Luận án này chủ yếu đối chiếu từ khía cạnh ngữ âm, cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa, chƣa đối mặt chiếu nội hàm văn hóa. Li Shi Yuan (2013) : “So sánh đối chiếu tục ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt”. Luận văn này chủ yếu đối chiếu từ khía cạnh phong cách vần và cấu trúc ngữpháp. Wu Hui Jun (2008) : “So sánh ngữ nghĩa văn hóa của từ chỉ động vật trong tục ngữ, thành ngữ trong nƣớc Trung Việt”.
Luận văn này chủ yếu là đối chiếu ý nghĩa văn hóa trong phạm vi từ vựng của tiếng Hán và tiếng Việt nhƣng nội dung nghiên cứu chỉ là từ chỉ động vật. Liang Yuan (2008) : “Nghiên cứu văn hóa liên đến „nƣớc‟ của Việt Nam”. Bài này trình bày những đặc điểm về văn hóa liên đến “nƣớc” của Việt Nam từ những khía cạnh nhƣ truyền thuyết nguồn gốc, câu chuyện lịch sử, phong tục tập quán, cuộc sống sản xuất và hiện tƣợng ngôn ngữ .trong đó nhắc đến văn hóa nội hàm của những thành ngữ và tục ngữ liến đến 8 z “nƣớc” của tiếng Việt, chỉ là nói sơ lƣợc, không tỉmỉ. Đối tƣợng và phạm vi nghiêncứu 1.
Đối tƣợng của nghiên cứu là những thành ngữ và tục ngữ liên quan trực tiếp với hình thái chất lỏng của nƣớc (tức là có thành phần cấu tạo của tài nguyên nƣớc, nhƣ: hà, giang, giếng, mƣa. Nguồn gốc ngữliệu 1. 刘凤云《万条成语词典》, 商务印书馆, 2016 2. 孙洪德《汉语俗语词典》, 商务印书馆, 2011 3.
Nguyễn Văn Khang, Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa-Việt. Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ Ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn Học, 2017 6. Phƣơng pháp nghiêncứu 1.
Phƣơng pháp thống kê Thu thập những thành ngữ và tục ngữliênđến“nƣớc”giữatiếngHánvàtiếngViệtlàmđốitƣợng, rồiđối chiếu và phân tích ý nghĩa và nội hàm văn hóa của nó. Phƣơngphápso sánh, phân tích Sau khi tiến hành so sánh đối chiếu tìm ra sự tƣơng đồng và khác biệt với số lƣợng thành ngữ tục ngữ nhất định, tiếp tục tiến hành phân tích những tƣơng đồng và khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ của hai ngôn ngữ. Phƣơng pháp tổng hợp vấn đề Tổng hợp những tƣơng đồng và khác biệt giữa thành ngữ, tục ngữ của hai ngôn ngữ, tiến hành phân tích sâu hơn để chỉ ra sự khác biệt trong tƣ duy 9 z và văn hóa của ngƣời dân hai nƣớc. Cấu trúc của luậnvăn Luận văn này chủ yếu bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Nƣớc trong thành ngữ Trung Quốc Chƣơng 3: Nƣớc trong thành ngữ Việt Nam Chƣơng 4: Đối chiếu thành ngữ tục ngữ có “nƣớc” trong tiếng Hán và tiếng Việt 10 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Khái quát về thành ngữ 1.1 Khái niệm thành ngữ tiếng Việt Qua những nghiên cứu kể trên, ta có thể tổng hợp đƣợc nhiều quan điểm về định nghĩa, giới hạn thành ngữ tiếng Việt.
Sau đây xin trình bày một số quan điểm tiêu biểu theo trình tự thời gian: Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” (1956) cho rằng: “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều ngƣời đã quen dùng, nhƣng tự riêng nó không diễn đƣợc một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, thành ngữ chỉ là một nhóm từ chƣa phải câu hoàn chỉnh.” (2012, 28) Dƣơng Quảng Hàm trong “Văn học Việt Nam sử yếu” (1968) cho rằng: “… thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diên một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè.” (15) Chu Xuân Diện trong “Tục ngữ Việt Nam” (1975) viết: “… thành ngữ thì chủ yếu nhƣ là một hiện tƣợng ý thức xã hội, … nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm…” (27, 28) Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” (1985) cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm.” Ông tiếp tục phát triển cụ thể quan điểm này vào năm 1996: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có giá trị gợi tả. Tính hình tƣợng là đặc trƣng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ 11 z biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tƣợng cụ thể.