Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Cơ sở lý thuyết về ẫn dụ 1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học phương Tây Ấn dụ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà quan trọng hơn, nó là một hiện tượng tri nhận của con người. Hơn nữa, về bản chất nó là một quá trình mà con người lí giải thế giới xung quanh và là phương thức tri nhận cơ bản hình thành nên các khái niệm. An dụ là một hoạt động tri nhận mà kinh nghiệm của một lĩnh vực này được dùng dé lí giải kinh nghiệm của một lĩnh vực khác.
Không phải chỉ trong quá trình hoạt động văn hóa văn nghệ của con người mà đâu đâu chúng ta cũng thấy sự tồn tại của ấn dụ. An dụ là những hình ảnh dùng dé chỉ một ý nghĩa vượt ra ngoài bản thân hình ảnh đó, nó khiến con người hướng đến một sự tồn tại cao hơn. Tư duy an dụ khiến cho con người có thé nghĩ ra được những sự tỒn tại vượt ra ngoài phạm vi của tư duy, khiến cho con người nhìn được những vật vô hình va không tồn tại. Vì vậy, trong hoạt động đời sống văn hoá của con người, an dụ được biết đến là những hình ảnh xung quanh chúng ta.
Theo các nhà ngôn ngữ học, ân dụ là phương thức chuyên nghĩa phé biến trong tất cả các ngôn ngữ. Đó là phép sử dụng từ ngữ được chuyền nghĩa dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói. Nói cách khác, ân dụ là sự chuyền đổi tên gọi giữa hai sự vật có môi quan hệ tương đồng. An dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ ngày càng đa dạng, tỉnh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương, va trong cả lời ăn tiêng nói hàng ngày của chúng 8 ta.
Từ an dụ bắt nguồn từ tiếng Hy lap métaphora, có nghĩa là sự chuyển nghĩa giữa từ và nhóm từ dựa trên mối quan hệ giống nhau ít nhiều mang tính rõ ràng. Khác với phép so sánh, phép ân dụ dựa trên những cấu trúc cú pháp phức tạp hơn bởi nó không có những mối quan hệ so sánh rõ ràng. Quá trình nghiên cứu ân dụ với tư cách là một biện pháp tu từ đã trải qua hơn 2000 năm lịch sử. Nhưng chỉ có đợi đến những năm 60, 70 của thế kỷ XX, nghiên cứu về ân dụ có một bước đột phá, phát triển theo nhiều con đường và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, có vị trí tương đương với nhiều môn khoa hoc như tâm lí học, triết học, văn hóa học, ngôn ngữ học,.Sau đó, với sự xuất hiện tác phẩm của Lakoff và Johnson (Metaphors We live by) thì ân dụ được chuyên hướng nghiên cứu từ góc độ tu từ đến góc độ tri nhận.
Trên thế giới dây lên một cuộc cách mạng về Ấn dụ. Theo từ điển ngôn ngữ học của Jean Dubois (1984) định nghĩa 1 : “An dụ là dùng một danh từ cụ thé dé chỉ một khái niệm trừu tượng mà không có mặt những từ, cụm từ để chỉ sự so sánh. Hay nói rộng hơn, An dụ là việc dùng tất cả các từ mà từ này có thê thay thế bằng một từ khác có những điểm tương đồng sau khi đã bỏ tất cả những từ dùng để sự so sánh”. Jean Robrieux (2000) chia ân dụ ra 2 loại: ân dy có mặt (métaphore in praesentia) và ân dụ vắng mặt (métaphore in absentia): a) ân dụ vắng mặt: gần giống phép so sánh; b) ân dụ có mặt: cái so sánh và cái được so sánh đều cùng xuất hiện trong cùng một phát ngôn.
Với chức năng giao tiếp trong ngôn ngữ, ân dụ không phải là cách dùng ngôn từ đặc biệt dé trang sức như là những mĩ từ trống rỗng. Ngược lại, an dụ trở thành hương vị và cảm xúc chân thật của đời sống ngôn ngữ ở nhiều thé loại văn bản. Ấn dụ cũng không còn giới hạn ở phép dùng từ hình ảnh, so sánh mà xa honthé nữa, ân dụ đi vào thé giới lập ngôn (wording) đầy màu sắc của ý niệm. Ấn dụ không chỉ là một phương thức hoạt động hiệu quả của ngôn ngữ mà còn là phương thức tư duy sáng tạo dựa trên chức năng độc đáocủa ngôn ngữ.
Nếu Embler (1966) khang định rằng ngôn ngữ phát triển thông qua các điều kiện xã hội vàđến lượt mình ngôn ngữ trở lại tác động đến hành vi, thái độ của xã hội, thì ân dụ lại đóng một vai trò quan trọng trong chức năng này. Vì vậy, ân dụ hầu như có mặt khắp mọi nơi trong hoạt động ngôn từ. Do đó ma Halliday (1976, tr.324) nhận xét: “Duong như là trong hau hết các thể loại văn bản, cả nói và viết, chúng ta có xu hướng hoạt động ở một nơi nào đó giữa hai thái cực: tương thích trần trụi và ân dụ quá đáng. Một cái gi đó hoàn toàn tương thích thì đường như là quá bằng phẳng, trong khi cái gì đó hoàn toàn xa rời tương thích thi lại tỏ ra gia tạo, bia đặt”.
Theo Halliday, an dụ chính là hiện tượng ngôn ngữ nam giữa hai thái cực này. Nhưng Halliday cũng cho rằng không thể có một đường ranh giới rạch ròi giữa cách diễn đạt tương thích và cách diễn đạt ân dụ trong ngôn ngữ nói chung. Bởi lẽ, một khi cách biểu hiện ấn dụ đã 6n định và tồn tại lâu dai trong đời sống ngôn ngữ thì chính nó sẽ trở thành cách biểu hiện tương thích. Và như thế, ấn dụ ngữ pháp chính là con đường lập ngôn luôn giúp con người tạo ra những cách biểu hiện ân dụ mới, làm cho ngôn ngữ hành chức luôn sống động.
Chúng ta có thể chia thành ba giai đoạn về việc nghiên cứu ân dụ ở phương Tây: giai đoạn thứ nhất nghiên cứu ân dụ theo quan điểm truyền thống như một biện pháp tu từ, trong đó tác giả tiêu biểu là Aristotle; giai 10 đoạn thứ hai là giai đoạn quá độ của biện pháp tu từ hướng tới nghiên cứu dưới góc độ tri nhận; giai đoạn thứ ba nghiên cứu ấn dụ đương đại dưới góc độ của ngôn ngữ học tri nhận. Ở phương Tây, người tiến hành nghiên cứu hệ thống ân dụ sớm nhất là Aristotle, lí luận nghiên cứu 4n dụ của ông sau này được gọi là Thuyết so sánh (Comparison Theory), dựa trên đặc điểm quan trọng nhất của ấn dụ, nhưng như chỉ coi ân dụ là một biện pháp tu từ. Aristotle trong hai tác phẩm “Thi học” và “Tu từ học” đã trình bay rất tỉ mi về an dụ. Dinh nghĩa về an dụ ở đó là “Metaphor is the application to one thing of a name belonging to another thing.
Ấn dụ là sự xác lập trên cơ sở so sánh hai mặt cơ bản của sự vật, một mặt là hai sự vật phải có điểm tương đồng, mặt khác là chúng cần phải có điểm khác nhau. Aristotle chú ý đến van dé về tính tương đồng của ẩn dụ, ông nói rằng: “An dụ được lay từ những sự vật mà mối quan hệ giữa chúng không nhất thiết phải quá rõ rệt; giống như trong triết học, một người phải có một đôi mắt nhạy bén mới có thê từ những điểm khác nhau rất xa của sự vật phát hiện ra những điểm tương đồng của chúng. “Việc một người sử dụng an dụ là chứng tỏ người ấy có tài, bởi vì muốn nghĩ ra một ân dụ hay cần phải phát hiện những điểm tương đồng giữa các sự vật. Aristotle phân loại các từ thành từ phổ thông và từ ki lạ, va coi từ có nghĩa ân dụ là một loại từ kì lạ.
Từ định nghĩa của Aristotle, có thể thấy rằng: ấn dụ là việc mượn hoặc thay thế từ ngữ. Sau nảy, với phương pháp nghiên cứu mới, các học giả hậu Aristotle nghiên cứu ân dụ với góc nhìn khác nhau, dùng các phương pháp 11 nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về ấn dụ, nhưng định nghĩa cua Aristotle vẫn còn có tính thời sự và hợp lí ở chỗ nó chỉ rõ tính chất quan trọng của ấn dụ, đó là dùng tên gọi cua một “su vật khác” có điểm tương đồng với “sự vật khác” để thay thế cho tên goi của “sự vật nay”. Aristotle vừa bản về chức năng tạo cách nói, cách viết hay của an dụ, cũng chỉ ra chức năng tạo ý nghĩa mới của ẩn dụ.Aristotle cho rằng có thé dùng phương pháp ân dụ dé làm cho những vật không có tên thành có tên. Ta thấy rõ quan điểm này của Aristotle chính xác trong mọi ngôn ngữ trên thế giới, chăng hạn như trong tiếng Hán, núi không có chân, nhưng vị trí tiếp đất của núi giống như vị trí tiếp đất của “chân” của con người, vì vậy mới có cách nói“IÌIJjJ? (chân núi) , thật ra trong tiếng Việt cũng có cách sử dụng như thế -- Lay cái “đã biết” qua trải nghiệm biểu thị cái “chưa biết”, chính là tac dụng nhận thức của ân dụ.
Về tác dụng nhận thức của ấn dụ, Aristotle cho rằng ấn dụ có thé làm ta “lĩnh hội tất cả, nhận thức tất cả”, làm cho con người nắm vững sự vật mới, nam bắt ý tưởng mới một cách tốt nhất. Như nhà thơ dùng khoảng thời gian “tàn canh” để nói theo lối ẩn dụ về “tuổi già” thé hiện suy nghĩ cảm thương trước sự trôi qua của tuôi tác. Aristotle đã cảm nhận được ân du có thể cung cấp góc nhìn mới, phương pháp mới về tất cả mọi sự vật. Các nhà nghiên cứu sau này thông thường chỉ nhìn thấy quan điểm Aristotle xem ân dụ như một kiêu “trang hoàng cách viết” mà không nhìn thấy tư tưởng của ông về tác dụng tri nhận của an dụ.
Trong nhìn nhận của mình, Aristotle đã thé hiện rõ những tư tưởng đó.Tuy nhiên, ông chưa bàn về chức năng tri nhận trong ân dụ một cách sâu sac như các nhà nghiên cứu hiện nay. 12 Nhà ngôn ngữ học tri nhận G. Lakoff, giáo su phân hiệu Berkley trường đại học Caliphornia, là người vốn xuất thân từ trường phái ngôn ngữ Ngữ pháp tạo sinh, nhưng những năm gần đây ông lại liên tiếp công kích trường phái này. Lakoff đã phát động một cuộc “Cách mạng lật đồ Chomsky”.
Ông cùng với các nhà ngôn ngữ học tri nhận khác, các nhà triết học, các nhà khoa học tri nhận đã sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tri nhận mà dần dần đã trở thành trường phái chính của ngôn ngữ học đương đại. Johnson đã hợp tác xuất bản cuốn “Metaphors We Live By” (Chúng ta sống bằng phép ân dụ). Lakoff xuất bản cuốn “Women, Fire and Dangerous Things” (Đàn bà, lửa và những thứ nguy hiểm).