phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí thuyết Phần tổng quan vấn đề nghiên cứu, luận án hệ thống lại các công trình, quan điểm nghiên cứu về mạch lạc và mạch lạc trong văn bản nghị luận. Phần cơ sở lí thuyết, luận án đề cập đến các vấn đề là văn bản và một số vấn đề liên quan, mạch lạc và văn bản nghị luận. Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở văn bản nghị luận tiếng Việt Chương này làm nhiệm vụ phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở ở VBNL trên hai phương diện là kết cấu văn bản và các phép liên kết.
Mạch lạc trong quan hệ lập luận ở văn bản nghị luận Việt Chương này làm nhiệm vụ phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ lập luận ở VBNL trên các phương diện: kiểu lập luận, đặc điểm của các thành phần lập luận, tính đa thanh trong lập luận. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản 1.
Tình hình nghiên cứu mạch lạc trên thế giới Mạch lạc là vấn đề được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đề cập đến từ giữa thế kỉ XX. Do sự phức tạp và tính chất “mơ hồ” khó nhận diện nên mạch lạc đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của không ít nhà ngôn ngữ học. Trên thế giới, mạch lạc được nghiên cứu trong các công trình của Todorov, Dijk, Halliday & Hasan, Widdowson, Brown & Yule, Green, Nunan, … Dưới đây, luận án điểm lại những công trình tiêu biểu đã đề cập đến mạch lạc ở các phương diện như quan niệm, vai trò và sự thể hiện của mạch lạc trong văn bản/diễn ngôn. Trước tiên, phải nói đến cuốn Cohesion in English (Liên kết trong tiếng Anh) xuất bản năm 1976 của Halliday & Hasan.
Trong cuốn sách này, mạch lạc tuy không được nghiên cứu một cách trực tiếp nhưng những kết quả nghiên cứu, những phát biểu của các tác giả lại khơi gợi cho các nghiên cứu về mạch lạc sau này. Trong cuốn sách này, mạch lạc đã được phát biểu như sau: “Mạch lạc là tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản”. Các tác giả nhấn mạnh: “Mạch lạc không nêu văn bản thông báo gì mà nêu văn bản được tổ chức thành chỉnh thể ngữ nghĩa như thế nào”. Và “…Chất văn bản bao gồm nhiều hơn, không chỉ là sự có mặt của những quan hệ nghĩa thuộc loại mà chúng tôi quy về quan hệ liên kết - sự phụ thuộc của yếu tố này vào yếu tố khác để giải thích được nó.
Nó bao gồm một chừng mực nào đó của mạch lạc trong các ý nghĩa được diễn đạt: không chỉ hoặc không phải chủ yếu là ở nội dung, mà ở sự lựa chọn toàn bộ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các thành tố liên nhân khác nhau, các thức, các tình thái, các độ mạnh và những hình thái khác nữa mà người nói nhồi nhét vào trong các tình huống nói”. Các tác giả Halliday & Hasan đã chỉ ra hai điều kiện để đảm bảo cho một văn bản mạch lạc là văn bản phải phù hợp với ngữ cảnh và phải có sự liên kết. Tiếp theo là cuốn Văn bản và ngữ cảnh (Text and Context) xuất bản năm 1977 của Dijk. Trong cuốn sách, tác giả đã dành riêng một chương để viết về mạch lạc (Chapter 4: Coherence).
Trong đó, mạch lạc được quan niệm “là một thuộc tính ngữ nghĩa của diễn ngôn, dựa trên việc giải thích các câu riêng lẻ trong mối tương quan với các câu khác trong văn bản” [109, tr. Dijk cho rằng trong mỗi diễn ngôn chứa một 6 cấu trúc vĩ mô (cấu trúc ngữ nghĩa tổng thể) thể hiện ngữ nghĩa của diễn ngôn và cấu trúc ngữ nghĩa của một diễn ngôn được tổ chức phân cấp ở nhiều cấp độ phân tích (cấu trúc vĩ mô của một diễn ngôn chi phối, kéo theo các cấu trúc vĩ mô khác chi phối toàn bộ diễn ngôn và chính cấu trúc vĩ mô quyết định tính mạch lạc tổng thể của một diễn ngôn). Bên cạnh đó, các yếu tố như thứ tự thực tế và thứ tự trình tự, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn, chủ đề, bình luận,. và vai trò của chúng trong diễn ngôn cũng là những yếu tố quan trọng cần chú ý khi phân tích mạch lạc trong diễn ngôn.
Năm 1981, Gal'perin viết Văn bản với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học (Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Lộc năm 1987). Trong cuốn sách này, tác giả quan niệm: “Mạch lạc là những hình thức liên kết riêng biệt đảm bảo thể liên tục (về thời gian hoặc không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo, sự kiện, hành động cụ thể” [31, tr. Gal'perin còn khẳng định mạch lạc chính là đặc trưng của văn bản, là những hình thức liên kết ngữ pháp, ngữ nghĩa, từ vựng giữa những phần cụ thể của văn bản định ra bước chuyển tiếp từ cách phân chia biến thể ngữ cảnh này sang cách phân chia khác. Năm 1983, trong Phân tích diễn ngôn (Bản dịch tiếng Việt của Trần Thuần, 2002), Brown & Yulle đã dành hẳn một chương (chương 7: Tính mạch lạc trong việc giải thuyết diễn ngôn) để nghiên cứu về mạch lạc.
Các tác giả đã nhận định: “Giả định về tính mạch lạc sẽ chỉ tạo ra một giải thuyết nhất định trong đó các yếu tố của thông điệp được xem như nối kết với nhau, có hoặc không có các nối kết ngôn ngữ công khai giữa các yếu tố ấy. (…) Cái quan trọng nhất trong số đó là nỗ lực của người đọc (hay người nghe) nhằm đạt đến ý định giao tiếp của người viết hay người nói khi tạo ra một thông điệp ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu này cho rằng người tiếp nhận muốn giải thuyết ý định giao tiếp của người viết phải dựa vào mạch lạc, nguyên lý loại suy, giải thuyết cục bộ, các đặc điểm chung của ngữ cảnh, các quy tắc kết cấu diễn ngôn và các đặc điểm theo quy tắc của tổ chức kết cấu thông tin. Brown & Yulle cũng đã phân định ba bình diện của tiến trình giải thuyết ý nghĩa theo dự định của người nói/ người viết khi tạo ra diễn ngôn, bao gồm “giải thuật chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp như thế nào), sử dụng kiến thức văn hóa xã hội nói chung (sự kiện về thế giới) và xác định luận suy nào cần phải thực hiện” [10, tr.
Như vậy mạch lạc là yếu tố quan trọng, phải được xem xét đến trong quá trình tiếp nhận, phân tích diễn ngôn (giải thuyết diễn ngôn). Năm 1993, cuốn Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của Nunan được xuất bản (Bản dịch tiếng Việt của Hồ Mĩ Huyền và Trúc Thanh, 1997). Trong cuốn sách này, Nunan 7 khẳng định: “Mạch lạc (coherence) là cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu nói không có liên quan với nhau”. Cách hiểu này về mạch lạc của Nunan được Diệp Quang Ban cho là cách phát biểu dung dị và bao quát về mạch lạc, được sử dụng phổ biến trong nhà trường bởi tính chất tiện dụng của nó.
Nunan đã phân biệt văn bản mạch lạc với chuỗi câu ngẫu nhiên, tình cờ đứng cạnh nhau có sử dụng phương tiện liên kết hình thức. Theo Nunan, đối với văn bản, cần phải xác định được sự liên kết giữa các câu ngoài việc hiểu biết về ngữ pháp và từ vựng của văn bản. Một văn bản mạch lạc phụ thuộc phần lớn vào phương tiện tạo văn bản cách sắp xếp trật tự câu và sử dụng từ ngữ. Và ngữ cảnh là yếu tố quan trọng trong việc giải thích mạch lạc khi coi diễn ngôn là “giao tiếp trong ngữ cảnh”.
Có thể nói khái quát rằng, các công trình tiêu biểu nói trên của một số nhà ngôn ngữ học nước ngoài, mạch lạc được đề cập một cách gián tiếp hoặc trực tiếp thông qua việc nghiên cứu về liên kết, về cấu trúc, khung truyện, về nội dung ngữ nghĩa văn bản và các thành tố liên quan đến tình huống nói, về khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói… Tuy không phải là những công trình nghiên cứu riêng biệt về mạch lạc song đây là những cuốn sách thể hiện quan điểm của các tác giả về vai trò và các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản/diễn ngôn. Điểm đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu là đều khẳng định vai trò quan trọng, tính chất quyết định của mạch lạc trong việc làm cho một chuỗi câu thành một thể thống nhất - văn bản. Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây là cơ sở lí thuyết quan trọng, tin cậy cho các thế hệ sau tiếp tục làm sáng rõ hơn về vấn đề được coi là mơ hồ, khó nhận diện - mạch lạc. Tình hình nghiên cứu mạch lạc ở Việt Nam Ở Việt Nam, mạch lạc được nghiên cứu muộn hơn.
Có thể xem công trình đầu tiên nghiên cứu về mạch lạc ra đời năm 1985 là Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm. Trong công trình này, ở cấp độ phân tích văn bản, Trần Ngọc Thêm nghiên cứu và chỉ ra vai trò của liên kết và hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt, trong đó liên kết nội dung được đề cập chi tiết trong việc phân tích biểu hiện ở liên kết chủ đề và liên kết logic. Tuy không đề cập và gọi tên một cách trực tiếp nhưng có thể coi liên kết nội dung trong công trình này là biểu hiện cho tính mạch lạc của văn bản. Đây cũng là hướng đề cập đến tính mạch lạc của văn bản thông qua liên kết nội dung của tác giả Đỗ Hữu Châu (1996) trong [14] và [17].
Trong các nghiên cứu về mạch lạc, không thể không kể đến các công trình của tác giả Diệp Quang Ban. Đây là nhà nghiên cứu có nhiều công trình đề cập đến mạch 8 lạc nhất. Năm 1998, trong [6], mạch lạc được gọi tên và nghiên cứu khá cụ thể từ khái niệm đến phạm vi biểu hiện của nó dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học khác trên thế giới. Các phạm vi biểu hiện của mạch lạc trong công trình là: mạch lạc trong triển khai mệnh đề, mạch lạc trong chức năng và mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác.