CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về văn bản và liên kết văn bản 1. Về khái niệm văn bản và diễn ngôn 1. Diễn ngôn Diễn ngôn (Discourse) có nguồn gốc từ Châu Âu.
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này như một khái niệm chuyên môn là nhà ngôn ngữ học người Bỉ - E. Buysen trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản. Sau đó vào những năm sáu mươi của thế kỷ XX, diễn ngôn trở thành một vấn đề nghiên cứu khoa học phổ biến và thống nhất trong tất cả các khoa học thuộc ngành xã hội và nhân văn. Thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu tên tuổi như: Sara Mills, Marie Christine, M.
Barthes… sử dụng trong các công trình nghiên cứu danh tiếng của mình. Người đầu tiên đề xướng ra khái niệm về diễn ngôn là Z.Harris trong công trình Discourse Analysis – Phân tích diễn ngôn (1952). Diễn ngôn được hiểu với tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu. Brown và Yule coi diễn ngôn như là “sản phẩm” hay “tiến trình”.
Còn tác giả Guy - Cook cho rằng: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích”. Ở Việt Nam,Diệp Quang Ban là một trong những tác giả quan tâm và nghiên cứu diễn ngôn. Với công trình “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản”, ông đồng tình với quan điểm của Cook. Tác giả Nguyễn Hòa lại chú trọng vào việc phân biệt hai khái niệm diễn ngôn và văn bản.
Ông cho rằng: “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”. Trong khi đó “diễn ngôn như là sự kiện hay là quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”. Còn theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì: “Thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ sản phẩm của 8 ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”. Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: diễn ngôn là đơn vị lớn hơn câu, đúng hơn là lớn hơn một phát ngôn, nó có thể là một phát ngôn hoặc vô số phát ngôn hợp lại.
Hiểu một cách tổng quát, diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội. Diễn ngôn (hay diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm.) được coi là một chuỗi phát ngôn được thực hiện trong giao tiếp bằng lời. Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới,về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn không chỉ dùng cho các phát ngôn mang tính hội thoại, mà còn chỉ cả các trường hợp đơn thoại.
Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khái niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù… Diễn ngôn là những chỉnh thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh, có chức năng giao tiếp nhất định. Vì vậy phân tích diễn ngôn là phân tích các yếu tố hình thức của diễn ngôn (bao gồm các yếu tố ngôn ngữ , các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo lời….) và nội dung của diễn ngôn (bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả. Hai nội dung này có thể tường minh hoặc hàm ẩn). Văn bản Liên quan mật thiết đến khái niệm diễn ngôn là khái niệm văn bản, trong thực tế cho đến nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học vẫn chưa đi đến sự thống nhất trong việc định nghĩa hai khái niệm này.
Các tác giả Barthes (1970), Ballert (1971), Halliday và Hassan đều có chung quan niệm diễn ngôn trùng với văn bản. Nhưng Brown.G, Cook, David Numan… lại cố gắng phân biệt diễn ngôn với văn bản. Theo các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, văn bản là “một chuỗi nào đó các câu kết hợp với nhau trong khuôn khổ ý đồ chung của tác giả” (dẫn theo M.Nicolaeva), là “tổng của những quan hệ cấu trúc tìm được sự thể hiện ngôn 9 ngữ học (dẫn theo M. Trong nhiều bài nghiên cứu, một định nghĩa khác về văn bản cũng thường được trích dẫn: “Văn bản đó là tác phẩm của quá trình tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và có một loại đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu) hợp nhất lại bằng những loại hình liên kết khác nhau bằng từ vựng, ngữ pháp, lôgic, tu từ có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng” (dẫn theo I.
Ở Việt Nam, khái niệm văn bản cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm. Theo hai tác giả Lê A và Đình Cao thì “Văn bản là môṭ hê ̣ thống gồm một chuỗi câu đươc ̣ sắp xếp theo hình tuyến tiń h vàcótổchức chăṭche,̃ trong đó mỗi câu là môṭđơn vi ḷ iên kết của văn bản. Mỗi đơn vi ̣của văn bản tổ hơp ̣ gắn bó với nhau taọ thành môṭcấu trúc hoàn chỉnh, nhằm thưc ̣ hiêṇ môṭ ý đồgiao tiếp chung” [1;55]. Tác giả Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản…là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những nguyên tắc nhất định” [23;7].
Nhóm tác giả Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng (1997) đưa ra quan niệm : văn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Từ đó các tác giả khẳng định: văn bản cũng đảm nhận hai chức năng chính: là phương tiện giao tiếp và là công cụ tư duy của con người. Trong luận văn, chúng tôi lựa chọn quan niệm văn bản của tác giả Diệp Quang Ban làm công cụ cho đề tài: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức” [4;19] Từ định nghĩa này có thể thấy đặc trưng của văn bản thể hiện qua các tính chất: tính hoàn chỉnh, tính thống nhất, tính liên kết và tính mạch lạc. Trong đó tính hoàn chỉnh và tính liên kết là hai đặc trưng cơ bản.
Một số vấn đề về liên kết văn bản 1. Khái niệm liên kết và một số khái niệm liên quan a. Khái niệm liên kết văn bản Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc.
Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối liên hệ, quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [40;22]. Mỗi văn bản được tạo lập đều hướng đến thể hiện một chủ đề nhất định. Điều này có nghĩa là trong mỗi văn bản, các hiện tượng, sự kiện được viết ra đều có mối liên hệ với nhau để cùng phản ánh một hiện thực chung; các biểu thị thái độ, tình cảm của tác giả đi kèm với các hiện tượng ấy cũng có mối liên hệ với nhau để cùng hướng tới thể hiện một tư tưởng, tình cảm chung.
Vì vậy mỗi từ, mỗi câu trong văn bản cũng được sắp xếp theo những trình tự và vị trí nhất định để thể hiện quan hệ lôgic giữa các hiện tượng, sự kiện được phản ánh với suy nghĩ và tình cảm của người viết. Ví dụ trong văn bản “Tuyên ngôn độc lập”, để vạch trần bộ mặt giả dối của thực dân Pháp, Bác viết: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…” 11 Trong đoạn trích trên các câu và các đoạn đều có mối liên hệ với nhau vì cùng đề cập đến một đối tượng “chúng”. “Chúng” ở đây chỉ thực dân Pháp – kẻ thù xâm lược nước ta. Mỗi lần từ “chúng” lặp lại đều gắn liền với những hành động tội ác mà chúng đã thực hiện để áp bức, đầu độc nhân dân ta. Mỗi lần từ “chúng” và các hành động tội ác được nhắc lại đều giúp người đọc cảm nhận được thái độ coi thường và lòng căm phẫn sục sôi của Bác.
Như vậy mối liên hệ về nội dung giữa các câu trong văn bản trên được thể hiện bằng các phương tiện liên kết hình thức mà thấy rõ nhất ở đây là phép lặp từ “chúng”. Như vậy liên kết văn bản là mạng lưới các mối quan hệ hình thức và nội dung giữa các đơn vị trong nội bộ văn bản và mối quan hệ của văn bản với các yếu tố ngoài nó. Nói như tác giả Trần Ngọc Thêm, liên kết văn bản là “Những mối quan hệ qua lại phức tạp …tạo nên một mạng lưới” nhờ vậy mà “các câu gắn bó lại với nhau tạo thành văn bản” [40;18]. Liên kết văn bản gồm hai phương diện là liên kết hình thức và liên kết nội dung.
Liên kết hình thức trong văn bản là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản như các câu, các đoạn, các phần….Trong quá trình tạo lập văn bản, người viết, người nói vận dụng các phương tiện ngôn từ cụ thể để hình thức hóa, xác lập mối quan hệ giữa đề tài và chủ đề của văn bản. Liên kết hình thức là toàn bộ các phương tiện ngôn từ có giá trị xác lập mối quan hệ về nội dung giữa các câu, các đoạn. Liên kết hình thức trong văn bản được chia thành nhiều phương thức liên kết trong đó mỗi phương thức liên kết bao gồm nhiều phương tiện liên kết khác nhau có chung đặc điểm nào đó. Liên kết hình thức bao gồm các phép liên kết: lặp ngữ âm, lặp từ vựng,lặp cấu trúc, thế đồng nghĩa, liên tưởng, đối nghịch, thế đại từ, tỉnh lược cấu trúc, và tuyến tính.