Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐÈ TÀI 1. Những vấn đề chung vé tir 1. Quan niệm về từ tiếng Việt Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Liệt, tác giả Nguyễn Tài Cẩn quan niệm: “Từ là don vi nhỏ nhất có thé vận dụng độc lập trong câu” [10, tr. Tác giả chủ trương xem tiếng độc lậplà từ và các tổ hợp âm tiết chẽ, cỗ định đều là từ ghép.
Từ ghép được ông chia thành từ ghép nghĩa và từ lầy âm. Bén canh đó, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra định nghĩa: *Từ của tiếng, 'Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng đẻ cấu tạo câu nói; nó có hình thức. của một âm tiết, một khối viết liễn” [22, tr. Quan niệm này có điểm gặp gỡ với quan niệm của Nguyễn Kim Thản ở chỗ cho rằng “từ là đơn vị nhỏ nhất và có nghĩa”.
Khi viết luận văn này, chúng tôi không đi sâu bàn luận về định nghĩa của từ mà chỉ chọn một quan niệm để làm cơ sở cho việc triển khai đề tài. Quan niệm của Đỗ Hữu Châu về từ trong tiếng Việt là quan niệm chúng tôi lựa chọn. Ông định nghĩa như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bắt biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tao cau” [13, tr. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt it ci c từ trong ngôn ngữ đều được tạo ra theo một phương thức nhất định.
Song, đối với những từ gốc có cấu tạo bằng một hình vị, ta không thể giải thích được lý do cấu tạo của chúng, do đó không thể nói đến phương thức cấu tạo của chúng. Chính vì vậy, khi nói đến các phương thức cấu tạo từ, người ta chỉ đề cập đến những cách thức mà các ngôn ngữ sử dụng dé tao ra những từ có thể giải thích. được về mặt cấu tạo (tức là các từ tạo). Những từ được tạo ra theo cách đó thường.
‘mang tinh hé thống. Chúng tập hợp thành những nhóm có chung một kiểu cấu tạo. “Trong quá trình phân tích ngữ “chúng tôi khảo sát và thống kê ba kiểu tạo từ tương ứng với ba loại từ là từ đơn, từ láy, từ ghép. Ba kiểu cầu trúc hình thức.
mà chúng tôi lựa chọn dựa trên quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuỗn Tiz vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [13]- Cụ thể như sau: (1) Từ đơn là “những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội vả ghỉ nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trở gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [13, tr.
Tác giả nhân định: đại bộ phân các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hóa là từ đơn một âm tiết. Các từ đơn một âm tiết tuy không có số. lượng lớn lắm song mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Vi Vi du: yêu, học, ông, chú, hoa, cơm. Bên cạnh đó tiếng Việt còn có một từ đơn đa âm thuần Việt như: bừ nhìn, ễnh ương, mô hôi, bỏ hóng, cả phê, mô tỏ,.
(2) Từ láy là "những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm. cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thắp: thanh huyền, thanh ngã, thanh. năng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩ * [13, tr. Dựa vào số lần tác động của phương thức lầy mà ta có: tir iy hai âm tiết (lay đôi), từ láy ba âm ti ừ láy bốn âm tiết.
Trong đó, từ láy đôi căn cứ vào tiêu chí cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở tiếp tục chia thành: từ láy toàn bộ (nếu toàn bộ âm tiết được giữ. nguyên); từ láy bộ phận (nếu bộ phận âm tiết được giữ lại). Nhìn chung sắc thái hóa tác dụng điễn hình của phương thức láy. (3) Từ ghép là “từ được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay.
đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [13, tr. Tác giá Đỗ, Hữu Châu đã căn cứ vào tính chất hình vị để phân loại từ ghép thành từ ghép hư và. từ ghép thực. Từ ghép hư là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có.
Đó là các từ như: đhể nhưng, vì thể, bởi vậy, mặc dù,. “Từ ghép thực là những từ được phân chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loại, gồm có từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa. “Qua thực tế khảo sát, thống kê, phân loại thì các từ ngữ nghề đồng ghe xuỗng ở xã Long Hậu, huyén Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp không có từ có. Vì vậy, chúng tôi sẽ dùng khái niệm từ ghép để chỉ từ ghép thực.
Việc phân chia các kiểu từ trên chỉ mang ý nị la tương đối không phải là tuyệt đối, bởi hiện thực bao giờ cũng phong phú và không có sự rạch rồi hoàn toàn. Mô hình cấu tạo từ tiếng Việt Khi nghiên cứu về mô hình cấu tạo từ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau. Trong công trình lấn để cầu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Hồ Lê cho rằng: “Mau (hay mô hình) là cái khuôn cấu tạo của một loạt sự vật hay hiện tượng đồng. Cái khuôn cấu tạo ấy phản ánh những nét chung bản chất nhất về mặt cấu tạo.
của loạt sự vật hay hiện tượng Ấy. Sự cầu tạo cụ thể của từng cái một trong loạt sự vật hay hiện tượng nảy không thể hoàn toàn giống nhau, nhưng mẫu cấu tạo của chúng lại là một” [34, tr. Theo tác giả, từ được cấu tạo bởi nguyên vị (Nguyễn Kim Than goi là lừtổ, Nguyễn ai Cin goi à tiếng, Đỗ Hữu Châu gọi là hình vị) và chúng là cơ sở để phân biệt các mô hình cầu tạo từ tiếng Việt. Tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng “Mô hình cấu tạo là cái khuôn đúc mà có thể đưa vào những loại chất liệu, từ đó để tạo ra bàng loạt các đơn vị khác nhau” 145, tr.
“Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng quan niệm của Lê Quang Thiêm để làm. định hướng nghiên cứu. Lấy tiêu chí độc lập hay không độc lập, có nghĩa hay không. có nghĩa của các yếu tố tham gia cấu tạo từ (hình vị) làm căn cứ, chúng ta có ba kiểu mô cấu tạo từ trong ti 1g Việt sau: Kiểu mô hình 1: Thành tố độc lập (A) + Thành tổ độc lập (A) Kiểu mô hình 2: Thành tổ không độc lập (B) + Thành tổ không độc lập (B) ‘Kiéu mô hình 3: Thành tổ độc lập (A) + Thành tố không độc lập (B) hoặc: Thành tổ không độc lập (B) + Thành tổ độc lập (A) 'Khi phân tích mô hình cấu tạo từ ngữ nghề đóng ghe xuồng ở xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tinh Đồng Tháp, chúng tôi đã dựa vào tiêu chí độc lập hay không.
độc lập của các thành tố tham gia cấu tao tir dé phan tích mô hình. Những vấn đề chung về từ ngữ nghề nghiệp 1. Khái niệm từ ngữ nghề nghiệp “Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất có tính thủ công, được một số người trong một ngành nghề nào đó sử dụng. Mặc dù là bộ phận trong vốn từ dân tộc, nhưng cũng như thuật ngữ khoa học- kỹ thuật, do nội dung thuật ngữ thường đi sâu vào từng ngành nghề riêng biệt nên có không ít từ nghề nghiệp là xa lạ, thậm chí là khó hiểu đối với người ngoài nghề.
Lớp từ này cũng góp phẩn tạo nên dấu ấn nghề nghiệp - từ ngữ nghề nghiệp. 'Vắn đề từ vựng nghề nghiệp nói chung, về khái niệm từ nghề nghiệp nói riêng đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Quan niệm về từ nghề nghiệp của các nhà nghiên cứu nước ngoài “Tác giả L.Akapanadze đã nói lên đặc điểm "tính hình ảnh, hình tượng” của từ nghề nghiệp khi bàn về khái niệm “thuật ngữ” và “hệ thống thuật ngữ”: “Từ nghề nghiệp. thường vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng “so sinh” [Dan theo 30, tr.Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp lại phát biểu như sau: Khi định danh một sự vật nào đó, nếu thuật ngữ quá dài dòng, khi đi vào sử dụng theo thời gian sẽ được rút gọn đi, vì chúng "vốn sinh ra từ phạm vỉ của sự.
biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ. nghề nghiệp” [Dẫn theo 4l, tr. Quan niệm về từ nghề nghiệp của các nhà nghiên cứu trong nước Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuỗn "Từ vựng ngữ- nghữa tiéng Vi "Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông. nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư.
Vậy theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu, từ nghề nghiệp bao gồm trong đó cả những từ được. sử dụng rộng rãi trong xã hội như: cảy, bừa, cảo, lúa, dhóc (nghề nông), chải, cá, tôm, lưới, đăng, đó (nghề cá). cưa, bào, đục, ván, gỗ (nghề mộc). Những từ này là những từ chỉ công cụ của nghề, nhưng mặt khác chúng lại được sử dụng một cách rông rãi như những từ toàn dân khác.
Tác giá Nguyễn Thiện Giáp viết: "Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nảo đó trong xã hội. Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử. Những người không làm nghẻ ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng. Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội" [22].
So với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp đã có sự cụ thể hơn về từ nghề nghiệp: là những từ chỉ công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề và mang đặc điểm "có phạm vi sử dụng hạn chế về mặt xã hội”. Tuy nhiên, đặc mm sử dụng hạn chế về mặt xã hội gây sự mơ hồ, khó xác định, thiếu rõ rằng: Các từ đó dùng. hạn chế đến mức độ nào về mặt xã hội? Căn cứ vào ngưỡng nào để xác định?