phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài sẽ đƣợc triển khai thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Văn hóa dân gian và sự tác động đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000. Chƣơng 3: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 - nhìn từ thế giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật. Chƣơng 4: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 - nhìn từ ngôn ngữ, motif và biểu tƣợng.
5 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam trƣớc năm 1986 1. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Đầu thế kỷ XX đến 1945 văn học Việt Nam đã vận động sang phạm trù mới: Văn học hiện đại. Tiểu thuyết giai đoạn này thực sự khởi sắc với những đóng góp đáng ghi nhận.
Những tên tuổi ở giai đoạn đầu phải kể đến Hồ Biểu Chánh, Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Chánh Sắt, tiếp đến là những tác giả tiêu biểu của hai dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và văn học lãng mạn (1932 - 1945) gắn với tên tuổi của nhóm Tự lực văn đoàn với ba cây bút chính Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hƣng. Bên cạnh việc tiếp thu những ảnh hƣởng từ lớn từ văn hóa phƣơng Tây, đặc biệt là Pháp thì tiểu thuyết giai đoạn này vẫn chịu sự chi phối của văn hóa phƣơng Đông và truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng nên một nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại song vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa, xã hội và phong tục là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, không chỉ trƣớc đây mà cả sau này. Năm 1941, trong công trình nghiên cứu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê khi bàn về tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam đã chia tiểu thuyết thành chín loại.
Sau đó, ông lần lƣợt đi vào từng loại và giới thiệu những nhà văn cùng với một vài tác phẩm tiêu biểu. Đến phần tiểu thuyết phong tục, ông cho rằng: “Phong tục tiểu thuyết về miền thƣợng du Bắc Kỳ gồm Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối đàn, Truyện lạ đường rừng), về miền sơn cƣớc Trung kỳ của Lƣu Trọng Lƣ (Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh) của Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) và nhất là quyển Lều chõng của Ngô Tất Tố” [70, tr. Nhƣ vậy, ngay từ năm 1941, nhà nghiên cứu Mộc Khuê đã công nhận có sự tồn tại của thể tài tiểu thuyết phong tục. Và trong số những tiểu thuyết thuộc nhóm 6 Tự lực văn đoàn, ông xếp Con trâu và Chồng con của Trần Tiêu vào loại tiểu thuyết phong tục viết về một vùng miền của đất nƣớc.
Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm ra đời cũng đã công nhận: “Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hƣởng về đƣờng xã hội và đƣờng văn học” [23, tr. Theo Dƣơng Quảng Hàm, phong tục tập quán thời xƣa vừa có mặt hay, mặt không hay. Tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn có quan tâm phản ánh phong tục tập quán nhƣng chƣa thật xác đáng. Nhƣ tục đàn bà góa phải thủ tiết thờ chồng trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn.
Nhà văn chỉ chủ yếu tập trung làm rõ những ràng buộc khắt khe đối với ngƣời phụ nữ mà chƣa đề cập đến ý nghĩa cao đẹp của tục lệ. Dù vậy, Dƣơng Quảng Hàm vẫn dành nhiều lời khen tặng cho nhóm văn Tự lực văn đoàn và đánh giá rất cao chủ trƣơng cải cách xã hội của họ. Năm 1942, Vũ Ngọc Phan cho ra mắt công trình Nhà văn hiện đại. Riêng trong nhóm Tự lực văn đoàn, khi đi vào giới thiệu từng nhà văn, Vũ Ngọc Phan đã chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu và đƣa ra nhiều đánh giá rất cụ thể.
Đến sáng tác của Trần Tiêu, ông khẳng định: “Tuy là tả dân tình, phong tục làng Cầm, nhƣng Con trâu thật là một cuốn tả sự sống và tính tình phong tục của ngƣời dân quê miền Bắc” [59, tr. Nhìn chung, vị trí, vai trò của những tiểu thuyết có nội dung phong tục của nhóm văn này đều đƣợc các nhà nghiên cứu công nhận. Chỉ có điều do tình hình văn hóa xã hội lúc này nên trong giới nghiên cứu chƣa có ngƣời đi sâu khai thác những đóng góp ấy một cách cụ thể. Đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Phong tục Việt Nam trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của Phạm Thị Minh Tuyền (Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh) một lần nữa đã tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện những vấn đề phong tục trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.
Qua đó, bức tranh về con ngƣời, xã hội những năm 1930 đến 1945 với những truyền thống tốt đẹp của cha ông cần đƣợc giữ gìn và cả những hủ tục cần loại bỏ hiện lên đậm nét. Ngoài ra vấn đề này còn đƣợc đề cập trong một số công trình khác nhƣ: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (Nguyễn Văn Xung), Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 - 1945 (Thanh Lãng), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 7 1930 - 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh). Ngoài những cây bút lý luận phê bình cũ, từ thập niên 90 đến nay, nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ta còn phải kể đến khá nhiều gƣơng mặt mới nhƣ Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thị Dục Tú, Phạm Thanh Hùng, Trịnh Hồ Khoa.Tất cả đã tạo đƣợc một không khí sôi nổi, khách quan, và khoa học nhằm đƣa đến những nhận định công bằng, thấu đáo khi đánh giá về vai trò, vị trí của nhóm văn này trong nền văn học dân tộc. Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu văn chƣơng Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa xã hội và phong tục, chúng tôi nhận thấy rằng: trong giai đoạn này Tự lực văn đoàn là nhóm văn duy nhất có sáng tác gây đƣợc nhiều sự chú ý trong công chúng.
Và Tự lực văn đoàn với những đóng góp cho nền văn hóa, phong tục nƣớc nhà cũng là một vấn đề đã đƣợc các nhà nghiên cứu ghi nhận. Tuy nhiên, sự phân tích và lí giải vấn đề vẫn chƣa thật thỏa đáng. Bàn về vấn đề tâm linh trong văn học giai đoạn này, Trần Đình Sử trong bài viết “Văn học và văn hóa tâm linh” khẳng định tâm linh vốn tồn tại từ rất lâu trong đời sống con ngƣời và cả trong văn học từ sơ khai đến hiện đại. Đối với khoa học, tâm linh là lĩnh vực của những điều chƣa thể chứng minh bằng khoa học.
Nhƣng đối với văn hóa, đó là lĩnh vực của “phong tục” (Phan Kế Bính), là “nếp cũ” (Toan Ánh) thấm sâu trong tiềm thức con ngƣời. Ông cho rằng “Các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ nghĩa thuộc giai đoạn 1932 -1945 vừa có thế giới quan khoa học, vừa có yếu tố văn hóa tâm linh, vẫn miêu tả con ngƣời mang tâm linh ấy” [71, tr. Văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã đặt dấu ấn khá đậm nét về văn hoá vùng Nam Bộ gắn với tên tuổi của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.
Thắng trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX với một văn phong đậm màu sắc “Miệt vƣờn Lục tỉnh Nam Kỳ” [76, tr. Tuy nhiên, tác giả này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác phẩm mà chƣa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vƣờn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Nguyễn Phong Nam khi nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhận xét: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo văn hóa Nam bộ xƣa trong tác phẩm của mình. Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thể loại tiểu thuyết phong tục - điều không nhiều nhà văn đƣơng thời làm đƣợc.
Đây cũng là nét độc đáo của văn chƣơng Hồ Biểu Chánh” [52, tr. 8 Năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Phạm Thị Minh Hà đã tiến hành khảo sát những bản sắc địa phƣơng của Nam Bộ đƣợc phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Điểm đáng lƣu ý đó là tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc nhất mà những nhà văn khác không có đƣợc chính là chất Nam Bộ trong tiểu thuyết của ông. Đọc tiểu thuyết của ông, độc giả nhận ra dấu ấn địa phƣơng, chất vùng miền đậm đặc trong từng trang viết.
Nghiên cứu về VHDG trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn có rất nhiều bài nghiên cứu khác nhƣ: Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Châu Minh Hiền; Cuộc sống ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và Đời sống văn hoá ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị Lan Phƣơng, Hồ Biểu Chánh - nhà văn đến hiện đại từ truyền thống của Võ Văn Nhơn. Khi nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực phê phán nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, bên cạnh việc khai thác những nội dung mang tính thời cuộc, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến yếu VHDG thể hiện trong mỗi tác phẩm. Trong sách Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 2), khi đề cập đến tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Công Hoan, Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, ta thấy ông băn khoăn nhất về những sự đụng chạm giữa cái giàu và cái nghèo trong xã hội. Sự xung đột giữa kẻ giàu, ngƣời nghèo là cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan” [19, tr.
Có thể thấy, dù vô tình hay hữu ý thì chúng ta không khó nhận ra sự tiếp nhận những yếu tố từ văn học truyền thống bởi xung đột giàu - nghèo, thiện - ác vốn là motif xuất hiện từ trong văn học dân gian. Nguyễn Công Hoan và các nhà văn cùng thời đã lồng ghép khéo léo giữa việc phản ánh hiện thực bằng những xung đột hình thành từ nền văn học sơ khai của dân tộc. Phần lớn những đánh giá của các nhà nghiên cứu khi bàn về tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh vấn đề này.