Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9.40) với đề tài "Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc" được nghiên cứu sinh Zhu Si (Chu Tứ) thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Yên (bảo vệ năm 2024).

Đảo Hải Nam (tên gọi cổ là Quỳnh Châu, Quỳnh Nhai, gọi tắt là "Quỳnh") nằm ở phía Nam Trung Quốc, sở hữu diện tích lục địa 35,4 nghìn km², diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km² cùng đường bờ biển kéo dài 3.743,56 km. Cư dân sinh sống trên đảo khoảng 10,232 triệu người, tập trung chủ yếu vào ba ngành sinh kế truyền thống và hiện đại là ngư nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Với đặc điểm địa lý tự nhiên bao bọc bởi biển cả và cấu trúc xã hội có tính chất mở, thoáng hơn các vùng nội địa, Hải Nam trở thành không gian giao lưu tiếp biến văn hóa đặc thù. Trong đó, tín ngưỡng Ma Tổ (tức Thiên Hậu Thánh Mẫu) giữ vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của ngư dân và cư dân duyên hải. Sự kết hợp giữa các luồng di dân (chủ yếu từ Phúc Kiến, Quảng Đông) và cư dân địa phương đã định hình nên diện mạo văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ vừa bảo lưu yếu tố truyền thống, vừa thích ứng linh hoạt với điều kiện sinh thái - xã hội hải đảo.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu làm rõ phương thức cấu thành, duy trì và biến đổi của tín ngưỡng Ma Tổ trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội đương đại tại Hải Nam. Tín ngưỡng này không dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu tâm linh cá nhân, mà còn đóng vai trò cấu kết cộng đồng làng xã, dòng tộc, giáo dục đạo đức, tham gia vào kinh tế du lịch và đóng góp vào việc định hình bản sắc văn hóa trong tiến trình toàn cầu hóa, nhất là sau khi UNESCO ghi danh tín ngưỡng Ma Tổ vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 9 năm 2009.

Luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam được cấu thành từ những yếu tố cơ bản nào và cách thức thực hành của người dân đương đại ra sao?
  2. Chức năng và vị thế của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ dưới sự ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của địa phương hiện nay như thế nào?

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo cứu một cách hệ thống về văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, từ đó làm sáng tỏ chức năng và vị thế của loại hình văn hóa tín ngưỡng này dưới sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội địa phương giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Tìm hiểu sự hình thành, lan tỏa của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam trong mối liên hệ với bối cảnh địa lý, dân cư, văn hóa biển và với các quốc gia ven biển trong khu vực Đông Nam Á.
  • Nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam trong diễn trình lịch sử, phân tích những thăng trầm và sự hồi sinh từ sau chính sách Cải cách Mở cửa (1978) đến nay.
  • Khảo sát thực hành văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra tính đa dạng của thực hành tín ngưỡng gắn với nhu cầu của người dân và sự tác động từ các chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương.
  • Phân tích, bàn luận về chức năng đáp ứng nhu cầu của cư dân đương đại, các yếu tố đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ cùng tính cách văn hóa của cư dân trên đảo Hải Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam ở ba cấp độ: gia đình, dòng họ và cộng đồng, được thể hiện thông qua hệ thống thiết chế thờ tự (bàn thờ, đền, miếu thờ) cùng các thực hành nghi lễ và phong tục tập quán liên quan.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Phạm vi thời gian tư liệu thứ cấp: Khảo cứu tư liệu lịch sử và di tích đền thờ Ma Tổ từ thời nhà Tống đến nay.
  • Phạm vi địa bàn khảo sát: Khu vực ven biển phía Đông và phía Tây đảo Hải Nam, nơi tập trung truyền thống tôn thờ Ma Tổ với các ngôi đền lịch sử tiêu biểu.
  • Phạm vi thời gian điền dã thực tế: Thực hiện từ năm 2019 đến năm 2024.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ giai đoạn đương đại, làm rõ thực hành tín ngưỡng gắn với nhu cầu xã hội và tác động từ chủ trương, chính sách phát triển của địa phương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu theo ba hướng chủ đạo:

Thứ nhất, các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam tại các nước Đông Nam Á:

  • Tại Việt Nam: Tín ngưỡng Ma Tổ theo chân các đợt di dân người Hoa du nhập vào đầu thế kỷ XVII. Các học giả như Phan An, Ngô Hưng Đan, Chế Thị Hồng Hoa, Trần Kinh Hòa, Trần Hồng Liên, Lê Hồng Lý, Phan Thị Hoa Lý, Nguyễn Xuân Hương, Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Thị Thanh Xuyên đã công bố nhiều công trình liên quan. Nguyễn Thị Thanh Xuyên (Tín ngưỡng Thiên Hậu ở quận 5 thành phố Hồ Chí Minh) chỉ ra cách gọi Đại Mẫu hoặc Ma Tổ của nhóm Mân Nam và Hải Nam. Nguyễn Ngọc Thơ qua các công trình (Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền thống ở Việt Nam, Tìm hiểu lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu ở cộng đồng ngư dân Sông Đốc, cuốn sách Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ) chỉ ra quá trình "giải kiến tạo", "tăng quyền văn hóa" và chuyển dịch nhu cầu văn hóa để thích ứng với các cộng đồng Việt, Khmer. Phan Thị Hoa Lý trong công trình Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt Nam đã sử dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa và điền dã để so sánh kiến trúc đền miếu, lễ vật giữa miền Bắc (dùng đồ lễ tương tự Tứ phủ như xôi, oản, trầu) và miền Nam (dùng bánh bao chay, hải sản, màu sắc cam đỏ giống vùng Hoa Nam). Tác giả Lý Thiên Tích (Trung Quốc) nghiên cứu về bia ký và sự dung hợp văn hóa tại Hội quán Tuệ Thành (TP. Hồ Chí Minh).
  • Tại Malaysia: Lý Thiên Tích (Nhìn nhận về tín ngưỡng Ma Tổ của người Hoa và Hoa kiều tại Malaysia) chỉ ra ba đặc điểm: đền Ma Tổ liên kết chặt với hội quán; tín ngưỡng Ma Tổ tương tác với thờ cúng tổ tiên; người gốc Hải Nam luôn phối thờ Ma Tổ cùng Thủy Vĩ Thánh Nương và 108 Huynh Đệ Công. Thạch Thương Kim (Điều tra về tín ngưỡng dân gian của người Hoa gốc Hải Nam tại Malaysia) nhấn mạnh tính hỗn hợp, bao dung. Lưu Xuân Yến khảo sát đền Thiên Hậu tại Penang, phân tích mối quan hệ huyết thống - tông tộc trong tế tự. Lý Hùng Chi (Tổng quan đền Thiên Hậu tại Malaysia) mô tả Thiên Hậu Cung Lạc Thánh Lĩnh xây dựng năm 1889 tại Tuyết Long (Kuala Lumpur).
  • Tại Singapore: Yen Ching-hwang (A Social History of the Chinese in Singapore and Malaya), Tăng Linh ("Thần Minh" trong ranh giới của cộng đồng...), Tăng Vĩ (Nghiên cứu về sự truyền bá và bản địa hoá văn hoá Ma Tổ tại Singapore), Tiêu Văn Soái (Đặc sắc và ý nghĩa lịch sử của tín ngưỡng Thiên Hậu trong xã hội người Hoa tại Singapore vào thế kỷ XIX - XX) khảo sát các đền Thiên Phúc Cung, Việt Hải Thanh Miếu, Thiên Hậu Cung Quỳnh Châu, khẳng định vai trò liên lạc đồng hương và cố kết di dân từ thế kỷ XV-XVIII.
  • Tại Thái Lan: Lý Thiên Tích, Vũ Thu Ngọc, Mã Lệ Na phân tích quá trình du nhập tín ngưỡng muộn nhất vào thời Càn Long nhà Thanh, đóng vai trò phương tiện truyền thông đa văn hóa và củng cố mạng lưới kinh doanh thương mại hàng hải.

Thứ hai, các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ ở Trung Quốc trong xã hội đương đại:

  • Về kinh tế và du lịch: Giang Kim Ba phân tích góc độ du lịch toàn cầu hóa; Phạm Chính Nghĩa khảo sát Đền Hà Lâm (Huệ An, Phúc Kiến) về sự chuyển đổi "tài nguyên hóa", phát huy giá trị thế tục để tích lũy vốn xã hội, vốn văn hóa và vốn biểu tượng; Từ Thanh Thanh nghiên cứu Đền Thiên Hậu Phúc Châu gắn với Bang hội bán trà và "Hành trình trà Phúc Kiến trên Con đường Tơ lụa trên biển".
  • Về chính sách và di sản hóa: Kha Lực nghiên cứu mối quan hệ nhà nước - xã hội tại đảo Mị Châu; Trương Tiểu Nghệ và Lý Hướng Bình so sánh ba mô hình quản trị tín ngưỡng tại Thiên Tân ("chính phủ dẫn dắt"), Phúc Kiến ("chính phủ và dân gian cùng xây dựng"), Quảng Đông ("quản lý tự trị làng xã"); Trần Phấn nghiên cứu tái thiết Cung Thiên Phi Nam Kinh; Tiền Kim Hàng khảo sát lễ hội "Ma Tổ về nhà mẹ" và "Tế biển Ma Tổ"; Trần Xuân Dương và Lâm Quốc Bình phân tích tác động hành chính hóa và giải trí hóa trong lễ hội; Vương Tiêu Băng và Lâm Hải Thông bàn về sự tái cấu trúc tín ngưỡng khi trở thành di sản phi vật thể nhân loại.

Thứ ba, các nghiên cứu về tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Hải Nam:

  • Nguồn thư tịch cổ: Quỳnh Đài Chí (niên hiệu Chính Đức 1506-1521) ghi nhận các đền Thiên Hậu có từ thời Nguyên tại Quỳnh Sơn, Vạn Châu, Nhai Châu, Cảm Ân; Hải Nam đảo sử của học giả Nhật Bản Kobayashi ghi nhận đền Bạch Sa Luật thời Nguyên; Tổng quan địa chí của địa chí đảo Hải Nam thống kê thời Nguyên có 5 đền, thời Minh - Thanh tăng thêm 42 đền ở 13 châu huyện (Văn Xương có 11 ngôi, Vạn Ninh có 7 ngôi); cận đại vùng ven biển có hơn 100 đền (riêng cảng Tân Phụ có 6 đền).
  • Các tác giả đương đại: Vương Nguyên Lâm khảo cứu 70 nhân vật xây dựng đền thời Minh - Thanh (gồm 58 quan chức triều đình và gần 10 thương nhân); Lý Quyên và Vương Nguyên Lâm so sánh tín ngưỡng Ma Tổ với Tiển Phu Nhân; Hồ Đông Chí, Tiết Thế Trung (khảo cứu hơn 60 địa chí Quảng Đông - Hải Nam); Lý Hiến Chương, Lý Lệ Lệ, Lý Khánh Tân, Châu Vĩ Dân, Lý Nhất Minh (phân tích vai trò Con đường Tơ lụa trên biển và hải trình Trịnh Hòa); Tăng Đình khảo cứu lễ hội Ma Tổ ngày 23 tháng Ba và ngày 9 tháng Chín âm lịch với 5 bước nghi lễ. Lưu Phúc Chú tổng hợp các số liệu ước tính hơn 100 ngôi (Trần Cảnh, 2007) và hơn 200 ngôi (Hứa Xuân Mai, 2014), ghi nhận sự kiện thành lập Hiệp hội Trao đổi Văn hóa Ma Tổ tỉnh Hải Nam ngày 5/1/2011 với hơn 500 đại biểu. Châu Thông nghiên cứu quy hoạch du lịch văn hóa Ma Tổ tại 3 làng Lê Phong, Lê An, Lê Minh (hồ Lê An); Kim Vinh chỉ ra các hạn chế về quy mô miếu mạo nhỏ, giao thông bất tiện và quản lý lạc hậu.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Tổng quan tài liệu cho thấy các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả lịch sử truyền bá, thống kê địa chí rời rạc hoặc khảo sát đền miếu đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam từ góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học, khảo sát đồng bộ trên cả 3 cấp độ (gia đình, dòng họ, cộng đồng), gắn kết thực hành nghi lễ với sự biến đổi kinh tế, chính trị, xã hội và chính sách di sản đương đại. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và cơ sở lý luận

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ:

  • Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng: Tiếp thu quan điểm của Đào Duy Anh, Ngô Đức Thịnh, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Quốc Tuấn, E.B. Tylor, S.A. Tokarev, C. Lévi-Strauss và P. Mullen. Luận án xác định tín ngưỡng là hệ thống niềm tin vào cái thiêng và các thực hành thờ cúng dân gian không bị ràng buộc bởi giáo hội chặt chẽ; văn hóa tín ngưỡng là tổng hòa các giá trị vật chất, tinh thần, chuẩn mực ứng xử và sinh hoạt nghệ thuật do con người sáng tạo xoay quanh niềm tin đó.
  • Ma Tổ và Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ: Dựa trên Thiên Phi hiển thánh lục của Chiêu Thừa (ghi chép Lâm Mặc sinh năm Kiến Long nguyên niên thời Tống - 960, ngày 23/3 âm lịch; các mốc 13 tuổi đắc Phù Lục, 16 tuổi đắc Đồng Lục, tinh thông thiên văn hàng hải, hiển linh cứu nạn). Tiếp thu định nghĩa của Hoàng Hạc Quốc (2013) trong Khái luận về Ma Tổ học, Trần Nghi Yên và cách phân chia 3 cấp độ của Viện Nghiên cứu văn hóa Ma Tổ tại Phủ Điền (cấp độ thực hành nghi lễ/hiện vật; cấp độ khoa học kỹ thuật hàng hải/thương mại; cấp độ nghệ thuật, bi ký, thư tịch).

Luận án vận dụng hai khung lý thuyết chuyên sâu:

  1. Lý thuyết về sự "tái phù phép" (Re-enchantment) và tìm kiếm sự bình an trong tính hiện đại của Philip Taylor (Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-revolutionary Vietnam, 2007): Bác bỏ giả thuyết thế tục hóa tuyến tính, khẳng định hiện đại hóa không triệt tiêu tôn giáo mà tạo ra sự tái cấu trúc, "tái phù phép" đời sống tâm linh, nơi tín ngưỡng trở thành nơi chốn tinh thần giúp cá nhân và cộng đồng xử lý các khủng hoảng, lo âu và tìm kiếm sự bình an trước những bất ổn kinh tế - xã hội.
  2. Lý thuyết về nền "kinh tế nghi lễ" (Ritual Economy) của Mayfair Yang (Re-enchanting Modernity: Ritual Economy and Society, 2020): Phân tích cách thức các nguồn lực kinh tế được huy động, tái phân phối thông qua mạng lưới nghi lễ, đền miếu dân gian trong xã hội Trung Quốc đương đại, tạo nên mối quan hệ tương tác phức hợp giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính của Văn hóa học kết hợp tiếp cận liên ngành Khoa học Xã hội (Văn hóa dân gian, Dân tộc học, Xã hội học, Tôn giáo học):

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác văn bia, cổ tịch, địa chí (Quỳnh Đài Chí, địa chí các châu huyện), báo cáo chính sách và các công trình nghiên cứu trong, ngoài nước.
  • Phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học: Sử dụng các thao tác quan sát tham dự, ghi âm, ghi hình, phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố các trưởng ban quản lý di tích, thủ nhang, học giả và người dân bản địa.
  • Phương pháp so sánh: So sánh giữa tín ngưỡng Ma Tổ tại Phúc Kiến và Hải Nam; so sánh tín ngưỡng Ma Tổ tại Hải Nam với cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam tại Việt Nam và Đông Nam Á.
Chỉ số hoạt động khảo sát thực địa Số lượng / Dữ liệu thực tế
Thời gian khảo sát điền dã 2019 – 2024
Tổng số đợt khảo sát 23 đợt
Địa bàn khảo sát trọng tâm TP. Hải Khẩu, TP. Tam Á, Quỳnh Hải, Vạn Ninh, Lăng Thủy...
Số lượng ngôi đền khảo sát trực tiếp 15 ngôi đền
Số buổi lễ hội trực tiếp tham dự 8 buổi lễ hội
Số lượng đối tượng phỏng vấn sâu/hồi cố 46 người
Trường hợp hoãn lễ do dịch Covid-19 Đền Ma Tổ làng La Mã, thị trấn Cửu Sở, huyện Lạc Đông

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tín ngưỡng Ma Tổ ở Trung Quốc

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tín ngưỡng Ma Tổ theo ba trục không gian: khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc đương đại và đảo Hải Nam; đồng thời nhận xét, đánh giá các thành tựu và chỉ ra khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết. Tác giả xác lập khung khái niệm (tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ) và xây dựng nền tảng lý luận dựa trên lý thuyết "tái phù phép" / tìm kiếm sự bình an của Philip Taylor và lý thuyết "kinh tế nghi lễ" của Mayfair Yang.

Về mặt lịch sử, chương này khái quát bối cảnh hình thành tín ngưỡng tại Mị Châu (Phủ Điền, Phúc Kiến) vào thời Tống gắn liền với cuộc đời bà Lâm Mặc (sinh năm 960). Dưới góc độ lịch sử và nhân học, Ma Tổ từ một nhân vật nữ nhân có thật, thông thạo địa lý biển cả, khí tượng và y thuật, sau khi mất đã được thiêng hóa thành vị hải thần bảo hộ ngư dân. Trải qua các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thông qua các sắc phong của triều đình phong kiến và hoạt động hàng hải thương mại, tín ngưỡng Ma Tổ đã lan tỏa khắp vùng duyên hải Trung Quốc, hiện diện tại 6 trên 7 lục địa và trở thành Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2009.

Chương 2: Bối cảnh địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội đảo Hải Nam và tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam

Chương 2 phân tích các điều kiện địa lý tự nhiên, sinh thái biển và cơ cấu dân cư đảo Hải Nam (diện tích lục địa 35,4 nghìn km², diện tích biển 2 triệu km², bờ biển dài 3.743,56 km, dân số 10,232 triệu người). Không gian sinh tồn phụ thuộc lớn vào biển cả đã định hình môi trường thuận lợi cho sự tiếp nhận và dung hợp tín ngưỡng hải thần. Tín ngưỡng Ma Tổ được đặt trong bức tranh tổng thể của tín ngưỡng dân gian đảo Hải Nam, tồn tại đan xen và phối thờ bên cạnh các vị thần bảo trợ khác như Tiển Phu Nhân, Thủy Vĩ Thánh Nương và 108 Huynh Đệ Công.

Thời kỳ lịch sử Diễn biến và quy mô đền thờ Ma Tổ tại Hải Nam
Thời Tống – Nguyên Tín ngưỡng theo chân di dân Phúc Kiến du nhập. Thời Nguyên xây dựng đền Bạch Sa Môn (Hải Khẩu) với lịch sử hơn 800 năm; toàn đảo có 5 ngôi đền Thiên Hậu ghi nhận trong địa chí.
Thời Minh – Thanh Phát triển thịnh vượng; xây dựng thêm 42 ngôi đền tại 13 châu huyện (Văn Xương 11 đền, Vạn Ninh 7 đền). Khảo cứu 70 người lập đền có 58 quan chức triều đình và gần 10 thương nhân.
Thời Cận đại Phổ biến tại hầu hết các cảng khẩu, bến đò; tổng số đền vượt trên 100 ngôi (riêng cảng Tân Phụ có 6 đền).
1949 – 1978 Trải qua giai đoạn suy thoái, gián đoạn do phong trào bài trừ mê tín dị đoan và Cách mạng Văn hóa; nhiều cơ sở thờ tự bị phá hủy.
1978 đến nay Hồi sinh mạnh mẽ sau Cải cách Mở cửa và mốc UNESCO ghi danh năm 2009. Thành lập Hiệp hội Trao đổi Văn hóa Ma Tổ tỉnh Hải Nam (2011); hàng chục đền thờ được phục hồi.

Chương này cũng phân tích sự lan tỏa của tín ngưỡng Ma Tổ từ Hải Nam sang các Hội quán Hải Nam tại Đông Nam Á (Việt Nam, Malaysia, Singapore, Thái Lan), nơi đền thờ Ma Tổ trở thành biểu tượng cố kết tộc người và gìn giữ bản sắc văn hóa cội nguồn của cộng đồng di dân.

Chương 3: Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ của đảo Hải Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 trình bày chi tiết kết quả khảo sát thực địa về thực hành văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đương đại trên 3 cấp độ xã hội:

  • Cấp độ gia đình: Khảo sát cấu trúc bàn thờ, vị trí bài trí tượng/ảnh Ma Tổ trong không gian thờ tự của các gia đình ngư dân ven biển; các nghi thức khấn nguyện thường nhật, nghi lễ cầu bình an trước mỗi chuyến ra khơi đánh bắt và lễ tạ ơn sau khi cập bến an toàn.
  • Cấp độ dòng họ: Phân tích thực hành tín ngưỡng trong dòng họ Lâm (dòng họ cùng huyết thống với Ma Tổ Lâm Mặc). Khảo cứu các nhà thờ họ tích hợp bàn thờ tổ tiên với điện thờ Ma Tổ (cô tổ), phân tích quy chuẩn nghi lễ gia tộc và sự kết nối giữa ý thức huyết thống với lòng tôn kính vị nữ thần bảo hộ.
  • Cấp độ cộng đồng:
    • Kiến trúc và bài trí điện thần: Khảo sát 15 ngôi đền tiêu biểu, phân tích phong cách kiến trúc đền miếu vùng Hoa Nam, nghệ thuật điêu khắc gỗ, đá, đồ thờ tự, hoành phi câu đối và trật tự phối thờ trong chính điện (Ma Tổ giữ vị trí trung tâm, bên cạnh có Thủy Vĩ Thánh Nương, Quan Âm, Tiển Phu Nhân...).
    • Cơ chế quản lý: Phân tích mô hình tự quản của cộng đồng làng xã và ban quản lý di tích, cơ chế tài chính hình thành từ tiền công đức và đóng góp tự nguyện của dân làng và thương nhân.
    • Thực hành nghi lễ lễ hội: Mô tả tiến trình lễ hội chính vào ngày 23 tháng Ba (ngày sinh) và ngày 9 tháng Chín (ngày hóa) âm lịch. Lễ hội bao gồm hệ thống 5 bước nghi lễ nghiêm ngặt: (1) Lễ rượu lớn, (2) Lễ rượu sạch, (3) Lễ dạo chơi (nghi thức rước kiệu tuần du quanh làng chài), (4) Lễ về nhà mẹ đẻ, (5) Lễ "lấy tro hương" của Lễ Phân thần.

Chương 4: Chức năng, vị thế của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ đảo Hải Nam trong bối cảnh đương đại và việc bảo tồn phát huy

Chương 4 phân tích chức năng, vị thế xã hội của tín ngưỡng Ma Tổ và các chính sách quản lý đương đại:

  • Chức năng xã hội:
    • Chức năng đáp ứng nhu cầu bình an: Đóng vai trò điểm tựa tâm linh, giải tỏa âu lo tâm lý cho ngư dân trước sự bất định và hiểm nguy của biển cả.
    • Chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế: Vận hành theo mô hình "kinh tế nghi lễ", thu hút nguồn lực tài chính tái đầu tư hạ tầng cộng đồng, thúc đẩy dịch vụ hậu cần và kích cầu du lịch văn hóa tâm linh.
    • Chức năng cố kết gia đình, dòng họ, cộng đồng: Củng cố quan hệ huyết thống dòng tộc họ Lâm và thắt chặt tinh thần tương trợ giữa các hộ ngư dân trong làng chài.
  • Vị thế trong chính sách phát triển của nhà nước:
    • Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc: Tín ngưỡng được hợp thức hóa và tôn vinh thông qua danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO, thúc đẩy chính quyền công nhận và xếp hạng di tích bảo vệ.
    • Khai thác kinh tế du lịch: Tích hợp đền miếu Ma Tổ vào quy hoạch phát triển Đảo Du lịch Quốc tế Hải Nam (điển hình như kế hoạch phát triển du lịch tại khu vực 3 làng Lê Phong, Lê An, Lê Minh quanh hồ Lê An).
    • Phục vụ chính sách đối ngoại: Trở thành cầu nối ngoại giao văn hóa, tăng cường giao lưu nhân dân giữa đảo Hải Nam với cộng đồng Hoa kiều tại Đông Nam Á và thúc đẩy quan hệ hữu nghị xuyên eo biển thông qua các kỳ diễn đàn, đại hội giao lưu văn hóa Ma Tổ do Hiệp hội tỉnh Hải Nam tổ chức.
  • Vấn đề bảo tồn và phát huy: Chỉ ra các bất cập thực tế như quy mô đền miếu còn nhỏ, hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn thiện, năng lực quản lý của ban trị sự cơ sở còn hạn chế và mức độ tham gia của cộng đồng chưa đồng đều; từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản gắn với phát triển bền vững.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới trên hai phương diện:

Về mặt lý luận:

  • Vận dụng nhất quán hướng tiếp cận chuyên ngành Văn hóa học và liên ngành Khoa học Xã hội để nghiên cứu toàn diện văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ tại một không gian hải đảo đặc thù.
  • Làm rõ cấu trúc đa tầng của văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ thông qua việc phân tích đồng bộ trên 3 cấp độ: gia đình, dòng họ và cộng đồng.
  • Khẳng định quy luật giao lưu và tiếp biến văn hóa là thuộc tính cốt lõi trong quá trình dung hợp vị nữ thần biển gốc Phúc Kiến vào đời sống kinh tế - xã hội của cư dân bản địa Hải Nam.
  • Bàn luận sâu sắc về cơ chế "tái phù phép" và sự vận hành của "kinh tế nghi lễ", lý giải nguyên nhân tín ngưỡng dân gian hồi sinh mạnh mẽ và giữ vị thế quan trọng trong xã hội hiện đại thay vì bị suy giảm bởi tiến trình hiện đại hóa.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực chứng, cập nhật và có hệ thống về 15 ngôi đền Ma Tổ, 8 lễ hội và thực trạng quản lý văn hóa tâm linh tại đảo Hải Nam giai đoạn 2019-2024.
  • Đóng góp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Văn hóa học, Tôn giáo học, Nhân học và nghiên cứu so sánh văn hóa tín ngưỡng dân gian giữa Trung Quốc và Việt Nam.
  • Cung cấp cơ sở thực chứng giúp các nhà quản lý văn hóa, hoạch định chính sách du lịch đánh giá đúng chức năng, vị thế của tín ngưỡng dân gian để xây dựng phương án bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế - xã hội và công tác đối ngoại nhân dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Quá trình triển khai khảo sát điền dã thực địa trong giai đoạn 2020 – 2023 chịu tác động trực tiếp của dịch bệnh Covid-19, dẫn đến việc một số cơ sở thờ tự phải tạm dừng tổ chức lễ hội định kỳ (tiêu biểu như đền Ma Tổ tại làng La Mã, thị trấn Cửu Sở, huyện Lạc Đông), buộc nghiên cứu sinh phải thu thập tư liệu bổ trợ thông qua phương pháp phỏng vấn hồi cố và tổng hợp nguồn tài liệu thứ cấp.
  • Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ bao quát các cụm đền miếu trọng điểm tại dải ven biển phía Đông và phía Tây đảo Hải Nam, chưa thể mở rộng khảo sát toàn diện các điểm thờ tự quy mô nhỏ phân tán ở các làng xã nội địa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điền dã đến các vùng sâu nội địa đảo Hải Nam để hoàn thiện bản đồ phân bố di tích tín ngưỡng Ma Tổ trên toàn đảo.
  • Triển khai các nghiên cứu so sánh thực địa đa chiều giữa thực hành tín ngưỡng Ma Tổ tại đảo Hải Nam với hệ thống đền thờ Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam tại các tỉnh thành của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Tôn giáo học, Lịch sử học, Đông Nam Á học và Văn hóa Trung Quốc; đặc biệt hữu ích trong việc tham khảo khung lý thuyết tiếp cận về "tái phù phép" và "kinh tế nghi lễ".
  • Cán bộ quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Tham khảo các mô hình quản lý đền miếu dân gian, kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và tổ chức tín ngưỡng tự quản làng xã, giải pháp tích hợp bảo tồn di sản phi vật thể với quy hoạch phát triển kinh tế du lịch biển.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa người Hoa và quan hệ đối ngoại: Cung cấp tư liệu đối sánh về mạng lưới hội quán, tín ngưỡng thờ Mẫu/Thiên Hậu và vai trò của văn hóa tâm linh trong việc duy trì sợi dây liên kết kiều bào và giao lưu văn hóa khu vực.

Nội dung có giá trị tham khảo sâu nhất là hệ thống tư liệu thực địa tại Chương 3 (mô tả chi tiết kiến trúc, bài trí điện thần, quy trình 5 bước nghi lễ) và các phân tích chính sách bảo tồn, khai thác du lịch tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị thần Ma Tổ có lai lịch và năng lực phi thường như thế nào theo thư tịch cổ được ghi chép trong luận án?

Theo Thiên Phi hiển thánh lục của Chiêu Thừa được luận án trích dẫn, Ma Tổ vốn là con gái gia đình họ Lâm ở Phúc Kiến thời Tống, sinh vào ngày 23 tháng Ba năm Kiến Long nguyên niên (năm 960). Khi sinh ra tròn một tháng bà không hề khóc nên được đặt tên là Lâm Mặc ("Mặc" nghĩa là im lặng). Ngay từ nhỏ bà đã thông minh đĩnh ngộ, đọc hiểu kinh điển Phật giáo như Kinh Quan Âm, Kinh Kim Cang. Năm 13 tuổi bà nhận được "Phù Lục" của thần và năm 16 tuổi nhận được "Đồng Lục", từ đó có pháp lực trừ tà cứu nạn, hiểu biết thiên văn, dự đoán hiểm nguy hàng hải, cứu giúp ngư dân và tàu thuyền vượt qua bão gió, được người đời tôn kính gọi là Thần Nữ, Long Nữ và hiển thánh thành vị hải thần bảo hộ biển cả.

2. Số lượng đền thờ Ma Tổ trên đảo Hải Nam biến đổi như thế nào qua các giai đoạn lịch sử?

Theo các thư tịch cổ và địa chí được luận án tổng hợp, thời nhà Nguyên đảo Hải Nam có 5 ngôi đền Thiên Hậu (ngôi đền cổ nhất tại Bạch Sa Môn, TP. Hải Khẩu có lịch sử hơn 800 năm). Sang thời Minh và thời Thanh, số lượng đền tăng thêm 42 ngôi phân bố khắp 13 châu huyện, trong đó huyện Văn Xương có 11 ngôi và huyện Vạn Ninh có 7 ngôi. Đến thời cận đại, số lượng đền ven biển, bến cảng tăng lên nhanh chóng, vượt qua 100 ngôi (riêng cảng Tân Phụ có 6 đền). Theo các khảo sát đương đại được tác giả điểm lại, số lượng đền thờ Ma Tổ thực tế trên đảo ước tính từ hơn 100 ngôi (Trần Cảnh, 2007) đến hơn 200 ngôi (Hứa Xuân Mai, 2014).

3. Nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát thực địa với quy mô và phương pháp như thế nào?

Để thu thập dữ liệu định tính cho luận án, nghiên cứu sinh đã tiến hành 23 đợt khảo sát điền dã từ năm 2019 đến năm 2024 tại các địa bàn ven biển trọng điểm của đảo Hải Nam như TP. Hải Khẩu, TP. Tam Á, Quỳnh Hải, Vạn Ninh, Lăng Thủy... Trong quá trình điền dã, tác giả đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 15 ngôi đền Ma Tổ, tham dự và ghi nhận trực tiếp 8 buổi lễ hội, thực hiện phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố 46 nhân vật liên quan (bao gồm các trưởng ban quản lý di tích, thủ nhang trông coi đền, người thực hành nghi lễ và các chuyên gia nghiên cứu văn hóa).

4. Nghi lễ thờ cúng Ma Tổ trong cộng đồng cư dân Hải Nam bao gồm những bước thực hành chính nào?

Lễ hội Ma Tổ tại các làng chài ven biển Hải Nam diễn ra tập trung vào ngày 23 tháng Ba và ngày 9 tháng Chín âm lịch. Lễ hội được cấu thành bởi quy trình 5 bước nghi lễ cổ truyền: (1) Lễ rượu lớn, (2) Lễ rượu sạch, (3) Lễ dạo chơi (nghi thức rước kiệu tượng thần tuần du quanh khu dân cư), (4) Lễ "về nhà mẹ đẻ", và (5) Lễ "lấy tro hương" của Lễ Phân thần. Các nghi lễ này phản ánh lòng tri ân vị thần hộ mệnh và gửi gắm ước nguyện cầu mưa thuận gió hòa, đánh bắt bội thu và gia đạo bình an của cư dân biển.

5. Luận án vận dụng những khung lý thuyết nào để phân tích chức năng và sự hồi sinh của tín ngưỡng Ma Tổ trong bối cảnh đương đại?

Luận án vận dụng hai khung lý thuyết chủ đạo từ các công trình quốc tế: (1) Lý thuyết về sự "tái phù phép" (Re-enchantment) và tìm kiếm sự bình an trong tính hiện đại của Philip Taylor (Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-revolutionary Vietnam, 2007), dùng để lý giải cách thức người dân tìm kiếm điểm tựa tinh thần để vượt qua những âu lo, bất định của cuộc sống đương đại; (2) Lý thuyết về nền "kinh tế nghi lễ" (Ritual Economy) của Mayfair Yang (Re-enchanting Modernity: Ritual Economy and Society, 2020), dùng để phân tích mối tương tác giữa nhà nước, kinh tế thị trường và các thiết chế tín ngưỡng dân gian trong việc huy động vốn xã hội và tái tạo nguồn lực cộng đồng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Văn hóa tín ngưỡng Ma Tổ ở đảo Hải Nam, Trung Quốc" của tác giả Zhu Si (Chu Tứ) là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ Văn hóa học về sự hình thành, thực hành và biến đổi của tín ngưỡng thờ nữ thần biển tại không gian hải đảo Hải Nam. Dựa trên nguồn tư liệu điền dã thực chứng tại 15 ngôi đền và 8 lễ hội kết hợp với khung lý thuyết về sự "tái phù phép" và "kinh tế nghi lễ", công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc thực hành tín ngưỡng ở cả ba cấp độ gia đình, dòng họ và cộng đồng. Luận án khẳng định vị thế quan trọng của tín ngưỡng Ma Tổ trong việc đáp ứng nhu cầu tâm linh tìm kiếm sự bình an, củng cố cố kết xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch và đóng vai trò cầu nối văn hóa đối ngoại của đảo Hải Nam trong bối cảnh đương đại.