Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 qua nghiên cứu kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam" của nghiên cứu sinh Vũ Thị Việt Nga, do PGS. Phạm Lan Oanh hướng dẫn khoa học, được bảo vệ năm 2024 tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên ngành Văn hóa học, mã số 9229040.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong cấu trúc chính sách đối ngoại của Việt Nam, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là một trong ba trụ cột không thể tách rời, cùng với kinh tế và chính trị. Hoạt động văn hóa đối ngoại giữ vai trò quảng bá hình ảnh quốc gia, thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc của cộng đồng quốc tế về đất nước, con người và các giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời hỗ trợ giao lưu kinh tế và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) đã nhấn mạnh yêu cầu: "Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài".
Trong các phương thức truyền thông đối ngoại, truyền hình chiếm vị trí quan trọng do khả năng truyền tải dung lượng thông tin lớn, tính tương tác nhanh và không bị giới hạn bởi biên giới không gian. Kênh Truyền hình Đối ngoại (VTV4) của Đài Truyền hình Việt Nam (phát sóng 24h/ngày từ năm 2002) là kênh truyền hình thông tin tổng hợp đối ngoại chính thức, hướng tới khán giả mục tiêu là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây về văn hóa đối ngoại chủ yếu tiếp cận từ góc độ quan hệ quốc tế, ngoại giao học hoặc lịch sử. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện về văn hóa đối ngoại từ góc độ chuyên ngành Văn hóa học trên phương tiện truyền thông báo chí cụ thể là kênh truyền hình đối ngoại VTV4 trong giai đoạn triển khai Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 qua hoạt động của kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam dưới góc độ văn hóa học; chỉ ra những thành quả và bất cập trong hoạt động thông tin văn hóa đối ngoại; đồng thời xem xét xu hướng vận động của văn hóa đối ngoại tại Việt Nam trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa đối ngoại, chỉ rõ nội hàm, cấu trúc và đặc điểm của văn hóa đối ngoại để vận dụng vào đề tài.
- Phân tích bối cảnh văn hóa đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2020 khi triển khai Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Nghiên cứu những nhân tố tác động đến công tác văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 trên kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam.
- Nghiên cứu xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động văn hóa đối ngoại của Việt Nam nhìn từ trường hợp kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 thông qua hoạt động của kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam đến nay đã đạt được những kết quả gì, còn hạn chế gì?
- Văn hóa đối ngoại của Việt Nam qua hoạt động của kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam có vai trò như thế nào trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới?
- Xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động văn hóa đối ngoại thông qua các kênh truyền hình trong thời gian tới?
- Giả thuyết nghiên cứu: Văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 có bước tiến khi có Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Kênh VTV4 đã đóng góp quan trọng vào phổ biến chủ trương, chính sách và mở rộng thông tin văn hóa đối ngoại. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn tồn tại những hạn chế về nội dung, dung lượng thông tin, sự thiếu đồng bộ giữa ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh, cùng vấn đề nguồn nhân lực, làm giảm sức hấp dẫn trong bối cảnh cạnh tranh thông tin quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động văn hóa đối ngoại, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới trong giai đoạn từ năm 2015 - 2020 thông qua các chương trình được phát trên kênh truyền hình đối ngoại VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến hết năm 2020 (gắn với mốc thời gian thực hiện Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030).
- Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát 03 chương trình trên kênh VTV4 gồm: Khám phá Việt Nam - Vietnam Discovery, Ẩm thực ngon - Fine Cuisine, và Mảnh ghép văn hóa - Culture Mosaic.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các học giả quốc tế đã tiếp cận vấn đề đối ngoại, ngoại giao và văn hóa qua nhiều khía cạnh:
- Hướng phân tích việc ra quyết định chính sách đối ngoại: Richard Snyder, H. Bruck và Burton Sapin (2021) trong Foreign Policy Decision Making: an Approach to the Study of International Politics; James Rosenau (1996) trong Pre-Theories and Theories of Foreign Policy đã hệ thống hóa các nhân tố quyết định hành vi quốc gia và cách tiếp cận chính sách đối ngoại so sánh.
- Hướng truyền thông và ngoại giao liên văn hóa: Hannah Slavik (2004) chủ biên công trình Intercultural Communication and Diplomacy (do DiploFoundation ấn hành), phân tích lý thuyết giao tiếp liên văn hóa trong hoạt động ngoại giao và giải quyết xung đột. Jan Melissen (2005) trong The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations giới thiệu chính sách ngoại giao công chúng mới trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn.
- Hướng lý thuyết sức mạnh mềm: Joseph Nye (1990) với Bound To Lead: The Changing Nature of American Power và (2004) với Soft Power: The Means to Success in World Politics and Understand International Conflict khẳng định văn hóa đối ngoại là thành tố cấu thành sức mạnh mềm quốc gia.
- Hướng nghiên cứu chính sách đối ngoại Việt Nam: David W. Elliot (2012) trong Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to Globalization; Eero Palmujoki (1997) trong Vietnam and the World: Marxist - Leninist, Doctrine and the Changes in International Relation; Carlyle A. Thayer và Rames Amer (2000) trong Vietnamese Foreign Policy in Transition; Carlyle A. Thayer trong Vietnam’s Regional Integration: The Costs and Benefits of Multilateralism; Alexander Vuving (2008) trong The Impact of China on Governance Structures in Vietnam; William Turley trong Vietnamese Security in Domestic and Regional Focus: The Political-Economic Nexus; Báo cáo của Nhóm chuyên trách về Đối ngoại của Quốc hội Australia với Vietnam’s Foreign Relations: Dilemma of Change.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Các công trình trong nước tập trung vào lý luận ngoại giao văn hóa và vai trò của truyền thông:
- Lý luận về ngoại giao và văn hóa đối ngoại: Vũ Dương Huân (2018) trong cuốn chuyên khảo Ngoại giao và công tác ngoại giao (Nxb Chính trị quốc gia) phân định ngoại giao và đối ngoại, xác định ngoại giao văn hóa là hoạt động cụ thể của văn hóa đối ngoại. Lê Thanh Bình và Đoàn Văn Dũng (2011) trong Giáo trình quan hệ công chúng Chính phủ trong văn hóa đối ngoại (Nxb Chính trị quốc gia) phân tích văn hóa đối ngoại như một bộ phận của chính sách đối ngoại và mối quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế. Vũ Trọng Lâm và Lê Thanh Bình (2015) trong Văn hóa đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế (Nxb Chính trị quốc gia) hệ thống hóa các kết quả và hạn chế của văn hóa đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014, đưa ra các nhóm giải pháp về nguồn nhân lực, đề án và cơ chế phối hợp.
- Mối quan hệ giữa truyền thông và văn hóa đối ngoại: Hội Nhà báo Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Nxb Thông tin và Truyền thông (2013) xuất bản kỷ yếu Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập - Những bài học kinh nghiệm cho người làm báo (với các bài viết của Nguyễn Văn Kim, Hà Minh Đức, Tống Văn Chung, Nguyễn Công Đán, Nguyễn Thúy Hoa). Phạm Thái Việt và Lý Thị Hải Yến (2012) trong Ngoại giao văn hóa - Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng (Nxb Chính trị - Hành chính) phân tích các lý thuyết truyền thông đại chúng và cơ chế tương tác trong ngoại giao văn hóa.
- Các công trình chuyên sâu khác: Nguyễn Hải Anh (2015) bảo vệ luận án Tiến sĩ Quan hệ quốc tế tại Học viện Ngoại giao với đề tài Ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế đương đại; Kỷ yếu hội thảo Văn hóa đối ngoại trong thế giới hội nhập của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2011); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Phạm Sanh Châu (2009) Hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI; cùng các công trình báo chí của Trần Ngọc Tăng, Lê Thanh Bình, Tạ Ngọc Tấn và Đinh Thị Thúy Hằng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng các công trình hiện có chưa làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa đối ngoại dưới góc nhìn chuyên ngành Văn hóa học; chưa phân biệt rành mạch giữa ba khái niệm: văn hóa đối ngoại, văn hóa ngoại giao và ngoại giao văn hóa; đồng thời chưa có công trình nào đi sâu khảo sát văn hóa đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 trên kênh truyền hình VTV4 gắn với việc triển khai các văn bản chính sách của Nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hai nhóm lý thuyết cơ bản:
- Lý thuyết giao lưu - tiếp biến và hội nhập văn hóa:
- Thuật ngữ giao lưu văn hóa do J. Powell sử dụng từ năm 1889.
- Bản Trích lục về Nghiên cứu tiếp biến văn hóa (1936) của Robert Redfield, Ralph Linton và Melville Herskovits xác định tiếp biến văn hóa (acculturation) là hiện tượng tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm có văn hóa khác nhau, dẫn đến 3 kết quả: (1) Tiếp nhận (acceptance), (2) Thích nghi (adaptation), và (3) Phản ứng lại (reaction).
- Alfred Louis Kroeber (1876 - 1960) xem tiếp biến văn hóa là những biến đổi tạo ra do ảnh hưởng tương hỗ hoặc lấn át một chiều diễn ra dần dần trong lịch sử.
- William Isaac Thomas và Florian Witold Znaniecki trong công trình The Polish Peasant in Europe and America phân chia 3 dạng thức tiếp biến: Bohemian (chấp nhận văn hóa chủ nhà, từ bỏ văn hóa gốc), Philistine (từ chối văn hóa chủ nhà, giữ văn hóa gốc), Sáng tạo (thích ứng văn hóa chủ nhà và bảo tồn văn hóa gốc); cùng mô hình 4 chiến lược tiếp biến (four-fold model): Đồng hóa (assimilation), Chia tách (separation), Hòa nhập (integration), Cô lập (marginalization).
- Khái niệm đối thoại văn hóa (cultural dialogue) giữ vai trò tác nhân trung gian quy định phương thức, mức độ chuyển hóa giữa giá trị nội sinh và ngoại sinh.
- Thuyết sức mạnh mềm (soft power): Dựa trên lý thuyết của Joseph Nye về khả năng tạo sự lôi cuốn, cảm phục thông qua nguồn lực văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại hợp pháp, không dùng vũ lực hay cưỡng bức.
- Hệ thống khái niệm công cụ:
- Đối ngoại: Cách thức một quốc gia tương tác với các chủ thể quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu và bảo vệ lợi ích quốc gia.
- Ngoại giao: Theo định nghĩa của A. Gromyko trong Từ điển Ngoại giao của Liên Xô, là tổng thể những biện pháp phi quân sự, phương pháp, thủ thuật chính thức nhằm thực hiện mục tiêu chính sách đối ngoại.
- Văn hóa đối ngoại: Bộ phận văn hóa của quốc gia có chủ quyền trong quan hệ tương tác văn hóa với quốc gia khác bằng hoạt động giao lưu - tiếp xúc, hợp tác, trao đổi, quảng bá và mua bán sản phẩm, dịch vụ văn hóa nhằm phát triển văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước.
- Ngoại giao văn hóa: Hoạt động ngoại giao dùng văn hóa làm công cụ phục vụ mục tiêu đối ngoại, đồng thời sử dụng quan hệ ngoại giao để tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc.
- Văn hóa ngoại giao: Văn hóa chính trị, văn hóa tổ chức, chuẩn mực và phong cách ứng xử của chủ thể thực hiện công tác ngoại giao.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin, trực tiếp sử dụng Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến để xem xét văn hóa đối ngoại của Việt Nam trên kênh VTV4 trong mối liên hệ bên trong và bên ngoài.
- Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp các phương pháp của Văn hóa học, Quan hệ quốc tế, Chính trị học, Ngoại giao học và Sử học.
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, so sánh và phân tích tài liệu: Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp từ sách, báo, tạp chí, văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và báo cáo lưu trữ tại Đài Truyền hình Việt Nam.
- Phương pháp điều tra xã hội học (định lượng): Sử dụng bảng hỏi trực tuyến qua Google Drive để khảo sát đối tượng khán giả và cán bộ làm truyền hình.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
Quy mô khảo sát định lượng gồm 350 phiếu phát ra, thu về 322 phiếu hợp lệ với cơ cấu mẫu cụ thể như sau:
| Tiêu chí phân loại |
Số liệu và tỷ lệ trích xuất từ văn bản |
| Quy mô phiếu khảo sát |
350 phiếu phát ra; 322 phiếu hợp lệ thu về |
| Cơ cấu giới tính |
Nữ chiếm 55%; Nam chiếm 45% |
| Nhóm đối tượng khảo sát |
- Người nước ngoài tại Việt Nam: 47% (gồm công dân Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Anh, Australia, Thái Lan, Trung Quốc... là nhân viên ngoại giao, chuyên gia, doanh nhân làm việc theo nhiệm kỳ và người định cư tại Việt Nam) - Người Việt Nam ở nước ngoài: 26% - Người Việt Nam ở trong nước: 27% |
| Nhân sự kênh VTV4 |
Cán bộ, phóng viên trực tiếp làm việc tại kênh VTV4 chiếm 12% |
| Cơ quan hỗ trợ điều tra |
Cơ quan thường trú VTV tại châu Âu, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc; Đại sứ quán Hoa Kỳ, Đại sứ quán Pháp, Phòng Thương mại châu Âu tại Hà Nội |
| Nghề nghiệp và độ tuổi |
Sinh viên, giảng viên đại học, nhân viên truyền thông, sản xuất chương trình truyền hình, phóng viên, bộ đội...; Độ tuổi từ 12 đến 65 tuổi (tập trung từ 20 đến 60 tuổi) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận cơ bản (44 trang)
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đối ngoại, ngoại giao văn hóa và văn hóa đối ngoại; xác lập cơ sở lý thuyết và công cụ phân tích của đề tài:
- Luận giải bản chất và phân định ba khái niệm: văn hóa đối ngoại, ngoại giao văn hóa và văn hóa ngoại giao.
- Xác định 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa đối ngoại:
- Là một bộ phận cấu thành của văn hóa quốc gia, thể hiện sức mạnh nội sinh.
- Có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với ngoại giao văn hóa và văn hóa ngoại giao.
- Hoạt động diễn ra theo hai chiều (ở nước ngoài và ngay trong lãnh thổ quốc gia).
- Phân tích nội dung và hai nhóm vai trò của văn hóa đối ngoại: vai trò đối với sự phát triển văn hóa quốc gia (bảo tồn, làm giàu bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại theo Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hóa năm 2002 của UNESCO) và vai trò đối với chính sách đối ngoại (kiến tạo sức mạnh mềm, tăng cường hiểu biết, thúc đẩy hợp tác chính trị - kinh tế).
- Trình bày khung lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa và thuyết sức mạnh mềm làm nền tảng cho các chương khảo sát thực tế.
Chương 2: Bối cảnh văn hóa đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 - 2020 qua nghiên cứu kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam (30 trang)
Chương 2 tập trung phân tích môi trường thực thi chính sách và thiết chế phát sóng:
- Bối cảnh quốc tế: Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, sự cạnh tranh sức mạnh mềm và cuộc cách mạng công nghệ thông tin - truyền thông đại chúng.
- Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Trọng tâm là việc triển khai Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014) và Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành năm 2015).
- Vị trí, vai trò của kênh VTV4: Kênh Truyền hình Đối ngoại Trung ương thành lập năm 2002, phát sóng 24h/ngày, là công cụ truyền thông chủ lực cung cấp thông tin chính thống về đường lối, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của Việt Nam đến cộng đồng kiều bào và bạn bè quốc tế.
Chương 3: Thực trạng văn hóa đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 - 2020 qua nghiên cứu kênh VTV4 - Đài Truyền hình Việt Nam (36 trang)
Chương 3 trình bày các dữ liệu khảo sát thực tế về hoạt động phát sóng và đánh giá của khán giả:
- Khảo sát số lượng và tần suất: Thống kê số lượng, tần suất các chương trình giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam trên VTV4 trong giai đoạn 2015 - 2020.
- Phân tích nội dung phát sóng qua 03 chương trình đại diện:
- Khám phá Việt Nam - Vietnam Discovery: Tập trung giới thiệu danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa, phong tục tập quán và đời sống các vùng miền.
- Ẩm thực ngon - Fine Cuisine: Khai thác nét đặc trưng văn hóa ẩm thực truyền thống và hiện đại của các vùng miền Việt Nam.
- Mảnh ghép văn hóa - Culture Mosaic: Phản ánh bức tranh văn hóa đa dạng, các sự kiện giao lưu văn hóa và sinh hoạt cộng đồng.
- Đánh giá của khán giả qua 322 phiếu điều tra: Phân tích các bảng số liệu về tuyến chủ đề yêu thích, lý do yêu thích, mức độ hữu ích của thông tin, tính đa dạng của nội dung, thời lượng phát sóng và chất lượng âm thanh - hình ảnh của các chương trình (đặc biệt là chương trình Fine Cuisine và Vietnam Discovery).
- Đánh giá vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc làm cầu nối quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới.
Chương 4: Văn hóa đối ngoại của Việt Nam qua kênh VTV4 - Đánh giá, xu hướng vận động và các vấn đề đặt ra (36 trang)
Chương 4 tổng kết thực tiễn, phân tích nguyên nhân và đề xuất phương hướng:
- Đánh giá thành công: Kênh VTV4 đã truyền tải hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam chân thực; nâng cao nhận thức của cộng đồng người Việt ở nước ngoài và tạo thiện cảm với người nước ngoài.
- Đánh giá hạn chế: Một số nội dung chương trình còn đơn điệu, lượng thông tin chưa phong phú; hình thức thể hiện (sự ăn khớp giữa ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh) còn bất cập; hạn chế về nguồn nhân lực chuyên môn cao phục vụ truyền hình đối ngoại.
- Phân tích nguyên nhân: Gồm các nguyên nhân khách quan và chủ quan từ phía cơ chế quản lý, đầu tư kinh phí, sự phối hợp liên ngành và năng lực đội ngũ biên tập viên, phóng viên.
- Nhận diện xu hướng vận động: Đẩy mạnh cơ chế hợp tác song phương và đa phương; đa dạng hóa hình thức truyền tải; kết hợp giữa truyền hình truyền thống và truyền thông số; đề cao bản sắc dân tộc trong dòng chảy hội nhập.
- Các vấn đề đặt ra: Hoàn thiện chủ trương, chính sách văn hóa đối ngoại; đổi mới cơ chế tài chính; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm báo chí - truyền thông đối ngoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
- Góp phần làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa đối ngoại từ góc độ chuyên ngành Văn hóa học; phân biệt tường minh khái niệm văn hóa đối ngoại với ngoại giao văn hóa và văn hóa ngoại giao.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu trúc, đặc điểm và vai trò của văn hóa đối ngoại, khẳng định văn hóa đối ngoại là bộ phận cấu thành văn hóa quốc gia, mang tính hai chiều và là nhân tố quan trọng xây dựng sức mạnh mềm.
Đóng góp về thực tiễn
- Đánh giá thực trạng triển khai hoạt động văn hóa đối ngoại trên kênh VTV4 giai đoạn 2015 - 2020 qua việc khảo sát định lượng (322 phiếu hợp lệ) và phân tích các tuyến chương trình cụ thể (Vietnam Discovery, Fine Cuisine, Culture Mosaic).
- Cung cấp cơ sở thực tiễn và các luận cứ khoa học giúp Đảng, Nhà nước và Đài Truyền hình Việt Nam tham khảo nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về văn hóa đối ngoại trên sóng truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng trong giai đoạn tiếp theo.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về chủ trương, chính sách: Tiếp tục thể chế hóa và thực hiện đồng bộ Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành liên quan (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam).
- Về nâng cao chất lượng nội dung và hình thức: Đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao tính hấp dẫn và hàm lượng thông tin của các chương trình quảng bá văn hóa; bảo đảm sự ăn khớp, chuẩn mực về ngôn ngữ, hình ảnh và âm thanh.
- Về nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên truyền hình đối ngoại có trình độ chuyên môn, năng lực ngoại ngữ và hiểu biết sâu sắc về văn hóa học cũng như quan hệ quốc tế.
- Về phương thức truyền thông: Kết hợp cơ chế hợp tác song phương và đa phương, đa dạng hóa các phương tiện truyền dẫn để mở rộng độ phủ sóng tới các nhóm đối tượng khán giả quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong mốc thời gian 2015 - 2020 (theo giai đoạn đầu của Chiến lược văn hóa đối ngoại); đối tượng khảo sát chuyên sâu tập trung vào 03 chương trình truyền hình cụ thể (Vietnam Discovery, Fine Cuisine, Culture Mosaic) trên kênh VTV4; cỡ mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở 322 phiếu hợp lệ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu văn hóa đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn sau năm 2020 đến nay nhằm theo dõi sự chuyển dịch của các chính sách văn hóa đối ngoại tới tầm nhìn 2030.
- Mở rộng khảo sát sang các loại hình báo chí khác, đặc biệt là các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội và các kênh truyền hình, phát thanh đối ngoại khác của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao trong việc rà soát, hoàn thiện và thực thi các chiến lược, đề án về văn hóa đối ngoại và ngoại giao văn hóa.
- Đối với cơ quan báo chí - truyền hình: Đài Truyền hình Việt Nam và Ban biên tập kênh VTV4 có thể tham khảo các số liệu đánh giá của khán giả để cải tiến format chương trình, nâng cao chất lượng kỹ thuật, nội dung và đào tạo nhân lực sản xuất chương trình đối ngoại.
- Đối với giới nghiên cứu và đào tạo: Công trình cung cấp tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Quan hệ quốc tế và Ngoại giao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "văn hóa đối ngoại" và "ngoại giao văn hóa" như thế nào?
Dưới góc độ văn hóa học, luận án xác định văn hóa đối ngoại là một lĩnh vực rộng hơn, là bộ phận của nền văn hóa quốc gia thực hiện các hoạt động giao lưu, tiếp xúc, hợp tác, trao đổi, quảng bá và mua bán sản phẩm, dịch vụ văn hóa với bên ngoài nhằm phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Trong khi đó, ngoại giao văn hóa là việc sử dụng các yếu tố, giá trị văn hóa như một công cụ, phương tiện phục vụ cho các mục tiêu chính trị của chính sách ngoại giao, do Nhà nước làm chủ đạo điều phối.
2. Ba chương trình phát sóng nào của kênh VTV4 được lựa chọn làm phạm vi khảo sát nội dung của luận án?
Luận án tập trung khảo sát 03 chương trình truyền hình chuyên đề trên kênh VTV4 gồm:
- Khám phá Việt Nam - Vietnam Discovery
- Ẩm thực ngon - Fine Cuisine
- Mảnh ghép văn hóa - Culture Mosaic
3. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra xã hội học của luận án được thực hiện như thế nào?
Tác giả đã phát ra 350 phiếu khảo sát trực tuyến qua Google Drive và thu về 322 phiếu hợp lệ. Cơ cấu mẫu gồm: 55% nữ, 45% nam; 47% là người nước ngoài tại Việt Nam, 26% là người Việt Nam ở nước ngoài, 27% là người Việt Nam trong nước; trong đó có 12% số người tham gia khảo sát là cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc tại kênh VTV4. Độ tuổi người tham gia nằm trong khoảng từ 12 đến 65 tuổi (chủ yếu từ 20 đến 60 tuổi).
4. Khung lý thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng trong luận án?
Luận án sử dụng hai khung lý thuyết chủ đạo:
- Lý thuyết giao lưu - tiếp biến và hội nhập văn hóa của Robert Redfield, Ralph Linton, Melville Herskovits (1936), Alfred Louis Kroeber, William Isaac Thomas và Florian Witold Znaniecki.
- Lý thuyết sức mạnh mềm (soft power) của Joseph Nye (1990, 2004).
Cơ sở phương pháp luận trực tiếp là Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong Triết học Mác - Lênin.
5. Những hạn chế chính của kênh VTV4 trong hoạt động văn hóa đối ngoại được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra các hạn chế gồm: một số nội dung chương trình còn chưa thực sự hấp dẫn, lượng thông tin trong một số chủ đề còn ít; hình thức thể hiện giữa ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh ở một số chương trình chưa ăn khớp; và đội ngũ nguồn nhân lực làm truyền hình đối ngoại còn hạn chế về số lượng và kỹ năng chuyên sâu.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Văn hóa học của tác giả Vũ Thị Việt Nga đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa đối ngoại, xác định rõ đặc điểm, cấu trúc và vai trò của văn hóa đối ngoại đối với sự phát triển văn hóa và chính sách đối ngoại quốc gia. Thông qua việc phân tích bối cảnh và khảo sát thực tiễn 03 chương trình trên kênh VTV4 giai đoạn 2015 - 2020 gắn với mẫu điều tra 322 phiếu hợp lệ, công trình đã làm rõ những thành tựu đạt được cũng như các mặt hạn chế về nội dung, kỹ thuật thể hiện và nhân lực của truyền hình đối ngoại Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án dự báo xu hướng vận động và đề xuất các nhóm giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa đối ngoại trên sóng truyền hình trong bối cảnh hội nhập quốc tế.