Luận án: Cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII tại Hà Tĩnh

Khám phá các cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII tại Hà Tĩnh, phản ánh đậm nét giá trị lịch sử và nghệ thuật truyền thống.

Trường đại học

Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam

Chuyên ngành

Văn hóa học

Tác giả

Trần Phi Công

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2025

251
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống cổ vật thời Trần Lê tại Hà Tĩnh

Hà Tĩnh lưu giữ kho tàng cổ vật phong phú từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII. Đây là giai đoạn lịch sử chứng kiến nhiều biến động chính trị và văn hóa của nước Đại Việt. Hệ thống di sản hiện diện tại Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh, bảo tàng tư nhân Hoa Cương và hàng trăm di tích tín ngưỡng địa phương. Các hiện vật phản ánh trung thực quá trình hình thành cộng đồng làng xã ven biển và vùng đồng bằng. Bộ sưu tập bao gồm nhiều chất liệu đa dạng như đá, đồng, gốm sứ, gỗ và giấy. Mỗi chất liệu đại diện cho một trình độ thủ công chế tác riêng biệt của thời đại. Đồ gốm gia dụng và đồ thờ bằng đồng xuất hiện phổ biến trong đời sống dân gian. Hệ thống văn bia đá giữ vai trò tư liệu văn tự đặc biệt quan trọng. Những cổ vật này cung cấp nguồn sử liệu gốc có độ tin cậy khoa học cao. Hiện vật thời Trần mang đậm phong cách phóng khoáng, thực dụng. Ngược lại, cổ vật thời Lê sơ và Lê Trung hưng thể hiện tính quy chuẩn chặt chẽ của Nho giáo. Toàn bộ kho tàng là bằng chứng vật chất về sự phát triển văn minh Đại Việt tại dải đất miền Trung.

1.1. Bối cảnh lịch sử và phân bố không gian di sản

Hà Tĩnh giữ vị trí chiến lược trọng yếu trên con đường thiên lý Bắc - Nam. Vùng đất này từng là biên viễn quân sự thời Trần và trung tâm văn hóa lớn thời Lê. Hệ thống cổ vật phân bố chủ yếu dọc theo các lưu vực sông Lam, sông La và dải ven biển. Các huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Đức Thọ tập trung mật độ di vật cao nhất. Tại đây, mật độ dày đặc của đền miếu, từ đường dòng họ tạo môi trường bảo quản tự nhiên cho cổ vật. Nhiều hiện vật được cất giữ cẩn thận qua nhiều thế hệ gia tộc. Sự phân bố không gian gắn liền với lịch sử tụ cư và mở mang điền trang thời trung đại.

1.2. Phân loại hình thái theo chất liệu và niên đại

Phân loại cổ vật theo chất liệu cho thấy sự phong phú của kỹ thuật chế tác. Đồ đá chiếm số lượng lớn với các tấm bia ký, chân tảng, tượng thú và đồ thờ tự. Nhóm kim loại đồng gồm chuông, khánh, đỉnh hương, lư hương và vũ khí. Đồ gốm sứ xuất hiện dưới dạng gốm hoa nâu thời Trần, gốm men lam và men trắng thời Lê. Cổ vật bằng gỗ chủ yếu là kiệu rước, long ngai, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Về niên đại, hiện vật thời Trần có số lượng ít hơn do tác động khắc nghiệt của thời gian và chiến tranh. Di vật thời Lê chiếm ưu thế áp đảo về số lượng lẫn sự nguyên vẹn hình dáng.

II. Phân tích đặc điểm và giá trị cổ vật thời Trần Lê tại Hà Tĩnh

Cổ vật thời Trần - Lê tại Hà Tĩnh chứa đựng giá trị lịch sử và văn hóa to lớn. Mỗi hiện vật là một chứng nhân xác thực phản ánh đời sống chính trị, xã hội xưa. Văn bia tại đền miếu ghi chép sự nghiệp của danh nhân, quá trình khẩn hoang và công cuộc bình định trật tự. Tiêu biểu như bia đền Nam Giới thờ Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi ghi dấu chiến công hiển hách. Bia đền Tả Ao tại Nghi Xuân minh chứng cho công lao trị nhậm của Lý Nhật Quang. Về mặt kinh tế, gốm sứ và đồ đồng trục vớt tại các cửa sông phản ánh hoạt động giao thương hàng hải nhộn nhịp. Cửa Hội, Cửa Nhượng từng là điểm trung chuyển thuyền bè sầm uất. Tuy nhiên, nhiều di vật hiện nay đối mặt với nguy cơ xuống cấp cơ học và biến đổi môi trường. Hiện tượng phong hóa đá tự nhiên làm mờ dần nét chạm khắc văn bia. Đồ gỗ và giấy sắc phong chịu hư hại nặng nề bởi khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Công tác kiểm kê và giám định khoa học tại một số địa phương còn thiếu tính đồng bộ.

2.1. Phản ánh đời sống tín ngưỡng và biến chuyển xã hội

Cổ vật là phương tiện biểu đạt thế giới tinh thần của cư dân Hà Tĩnh thời trung đại. Tượng Phật, chuông đồng và bệ đá hoa sen thời Trần thể hiện vị thế Phật giáo thời bấy giờ. Sang thời Lê, sự thống trị của Nho giáo in hằn trên văn bia và đồ tế tự tại văn chỉ, từ chỉ. Văn bia miêu tả tập tục thờ cúng thần hoàng và các vị tiền hiền khai hoang mở đất. Những ghi chép về công đức tu sửa đền chùa minh chứng cho tính gắn kết cộng đồng làng xã. Chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn cũng để lại dấu ấn qua vũ khí gươm giáo và sắc chỉ ban thưởng. Hiện vật trở thành chứng tích phản ánh biến động lịch sử sâu sắc.

2.2. Dấu ấn truyền thống khoa bảng và các dòng họ danh nhân

Hà Tĩnh nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng vẻ vang qua nhiều triều đại. Cổ vật văn bia là minh chứng thuyết phục nhất cho truyền thống này. Tiêu biểu có bia Sùng Chỉ tại Can Lộc dựng năm 1696 vinh danh Tiến sĩ Hà Tông Mục. Bia Văn hội huyện La Sơn lập năm 1735 ghi tên các vị đại khoa như Phan Như Khuê và Nguyễn Hành. Bia chợ Quan tại Trường Lưu do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh soạn phản ánh tư tưởng khuyến thương tiến bộ. Các dòng họ lớn như dòng họ Nguyễn Huy, dòng họ Hà, dòng họ Phan lưu giữ nhiều gia phả và hiện vật quý giá. Di vật khẳng định vai trò tri thức của đất Nghệ trong bộ máy quản lý quốc gia.

III. Giải pháp bảo tồn và phát huy cổ vật thời Trần Lê tại Hà Tĩnh

Bảo tồn di sản cổ vật đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa ngành và đồng bộ. Cơ quan chuyên môn cần kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa học, khảo cổ học và bảo tàng học. Việc lập hồ sơ khoa học chi tiết cho từng hiện vật là bước đi tiên quyết. Hồ sơ cần ghi nhận đầy đủ kích thước, chất liệu, niên đại, kỹ thuật chế tác và độ hư hại. Quy trình bảo quản vật lý cần ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm ngăn chặn quá trình oxy hóa kim loại và phong hóa đá. Nhà quản lý cần thiết lập các tiêu chuẩn kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ nghiêm ngặt trong kho lưu trữ bảo tàng. Đối với cổ vật lưu giữ trong dân gian, cơ quan chức năng cần hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ trực tiếp cho người dân. Sự phối hợp giữa nhà nước và cộng đồng địa phương tạo ra mạng lưới giám sát hiệu quả. Đồng thời, công tác tuyên truyền nâng cao ý thức giữ gìn di sản cho thế hệ trẻ cần được đẩy mạnh liên tục.

3.1. Ứng dụng công nghệ số hóa trong quản lý di sản

Số hóa cổ vật là giải pháp bảo tồn thông tin gốc tối ưu hiện nay. Phương pháp quét ba chiều (3D laser scanning) giúp ghi lại hình dáng và hoa văn với độ phân giải siêu cao. Toàn bộ chữ Hán Nôm trên các bia đá thời Trần và thời Lê cần được dập bản thảo và dịch thuật số hóa. Cơ sở dữ liệu điện tử cho phép lưu trữ và tra cứu thông tin hiện vật nhanh chóng. Mô hình này giúp giảm thiểu sự tiếp xúc vật lý trực tiếp với các hiện vật cổ nhạy cảm. Công nghệ thực tế ảo tạo điều kiện đưa hiện vật đến gần hơn với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

3.2. Đẩy mạnh xã hội hóa và gắn kết cộng đồng

Phần lớn cổ vật tại Hà Tĩnh hiện nằm rải rác trong di tích làng xã và tư gia. Do đó, chính sách xã hội hóa công tác bảo tồn giữ vai trò then chốt. Cần khuyến khích các nhà sưu tập tư nhân như Bảo tàng Hoa Cương đóng góp nguồn lực và hiện vật. Ban quản lý các di tích cơ sở cần được đào tạo bài bản về kỹ năng bảo quản phòng ngừa. Các dòng họ lớn cần được hỗ trợ chuyên môn để gìn giữ gia bảo tổ tiên để lại. Cơ chế khen thưởng xứng đáng cho người phát hiện và hiến tặng cổ vật cần được thực thi nghiêm túc. Cộng đồng địa phương phải là chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ kho tàng lịch sử.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cổ vật thời Trần Lê tại Hà Tĩnh

Nghiên cứu cổ vật thời Trần - Lê tại Hà Tĩnh mang lại những giá trị học thuật và thực tiễn to lớn. Kho tàng hiện vật khẳng định sức sống bền bỉ và bản sắc văn hóa độc đáo của con người xứ Nghệ. Di sản không chỉ phản ánh bề dày truyền thống mà còn là nguồn lực phát triển kinh tế xã hội hiện đại. Việc ứng dụng giá trị cổ vật vào du lịch văn hóa tạo ra sản phẩm trải nghiệm đặc sắc. Du khách có thể khám phá chiều sâu lịch sử qua các tuyến tham quan di tích lịch sử và văn bia cổ. Ngoài ra, nguồn tư liệu này phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục truyền thống trong học đường. Học sinh và sinh viên có cơ hội tiếp cận trực quan với hiện vật cha ông để lại. Nhận thức đúng đắn về di sản sẽ nuôi dưỡng lòng tự hào quê hương và ý thức trách nhiệm dân tộc. Tương lai của di sản phụ thuộc vào sự kết nối hài hòa giữa bảo tồn nguyên trạng và khai thác bền vững.

4.1. Phát triển du lịch văn hóa và trải nghiệm di sản

Cổ vật là tài nguyên văn hóa vô giá để phát triển ngành công nghiệp không khói. Hà Tĩnh có thể xây dựng các tuyến du lịch chuyên đề kết nối di tích văn bia và đền đài danh nhân. Tuyến du lịch văn hóa Nghi Xuân - Can Lộc - Đức Thọ giúp du khách hiểu sâu về văn hóa làng xã xưa. Bảo tàng tỉnh và Bảo tàng Hoa Cương cần mở rộng không gian trưng bày chuyên đề cổ vật thời Trần - Lê. Ứng dụng thuyết minh tự động và mã QR tại các điểm di tích nâng cao tính tương tác. Khai thác du lịch gắn liền với trách nhiệm bảo tồn tạo nguồn tài chính tái đầu tư cho di sản địa phương.

4.2. Giáo dục lịch sử địa phương và gắn kết truyền thống

Đưa di sản cổ vật vào chương trình giảng dạy địa phương là hướng đi thiết thực và giàu ý nghĩa. Các bài học lịch sử trở nên sống động khi học sinh được quan sát mô hình chuông đồng hoặc văn bia cổ. Những câu chuyện về danh nhân Lê Khôi, Nguyễn Biểu hay Hà Tông Mục truyền cảm hứng mạnh mẽ về tinh thần phụng sự. Hoạt động ngoại khóa trải nghiệm làm rập văn bia kích thích tư duy nghiên cứu và lòng yêu thích sử học. Thế hệ trẻ được bồi dưỡng tình yêu quê hương qua từng dấu tích cụ thể của tổ tiên. Sự kế thừa này bảo đảm cho mạch nguồn văn hóa truyền thống luôn tuôn chảy vững bền.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/10/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, KHÔNG GIAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cổ vật thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII) tại Việt Nam và tại Hà Tĩnh 1. Tình hình nghiên cứu cổ vật thời Trần - Lê tại Việt Nam Cổ vật thời kỳ Trần - Lê tại Việt Nam từ trước tới nay đã được giới nghiên cứu quan tâm, thông qua việc khai quật khảo cổ học, nhiều hội thảo khoa học và việc biên soạn các ấn phẩm liên quan đến thời kỳ này. Việc sưu tầm các cổ vật cũng được các cơ sở công lập và ngoài công lập thực hiện, góp phần bảo tồn và phát huy loại hình di sản cổ vật quý giá của dân tộc.

Tiêu biểu cho kết quả nghiên cứu cổ vật thời Trần - Lê là việc khai quật khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long từ năm 2002 đến năm 2004 đã phát lộ dấu tích kiến trúc cung điện và phát hiện nhiều loại hình cổ vật của Hoàng cung Thăng Long qua các thời kỳ từ thời tiền Thăng Long đến thời Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn, nơi hội tụ các giá trị lịch sử văn hóa Việt Nam, thể hiện sự tiếp nối, liên tục của kinh đô Thăng Long trong chiều dài lịch sử của dân tộc. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để Việt Nam lập Hồ sơ trình Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO công nhận di tích Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là Di sản thế giới vào năm 2010. Ngoài ra, trong các cuộc khai quật đã phát hiện được nhiều cổ vật bằng gốm, kim loại có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ. Một số cổ vật sưu tầm được trong cuộc khai quật đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia.

Ngoài ra, cuộc khai quật hai di tích thời Trần năm 2016 tại tỉnh Quảng Ninh được thực hiện với sự phối hợp giữa Ban Quản lý Di tích và Danh thắng 11 Quảng Ninh và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Đó là lăng Tư Phúc thuộc xã An Sinh, thị xã Đông Triều, lăng Phụ Sơn (của vua Trần Dụ Tông) và lăng Ngãi Sơn đã phát hiện được nhiều di vật thời Trần. Trong thời gian qua, việc nghiên cứu và sưu tầm cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê trên toàn quốc cũng được tiến hành. Rất nhiều cổ vật có giá trị đã được các nhà nghiên cứu lập hồ sơ khoa học trình Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia như chuông chùa Bình Lâm thời Trần (Hà Giang), bia Vĩnh Lăng thời Lê sơ (Thanh Hóa), chuông chùa Vân Bản thời Trần, bình gốm hoa lam vẽ thiên nga thời Lê sơ (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), bia chùa Sùng Khánh thời Trần (Hà Nội), tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay thời Lê Trung hưng (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), vạc đồng thời Lê Trung hưng (Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa).

Ngoài ra, nhiều ấn phẩm có đề cập đến cổ vật thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII) cũng được xuất bản, đáng chú ý như cuốn Đại cương về cổ vật ở Việt Nam năm 2004 của tác giả Nguyễn Thị Minh Lý (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội); Tiền kim loại Việt Nam năm 2005, Cổ vật Việt Nam năm 2010 của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; cuốn Sổ tay tiền cổ kim loại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp của hai tác giả Nguyễn Quốc Hùng và Hoàng Văn Khoán xuất bản năm 2010; cuốn Tiến trình gốm sứ Việt Nam của tác giả Hoàng Xuân Chinh, Nxb Hồng Đức, năm 2011; cuốn Tiền cổ học và tiền cổ Việt Nam của tác giả Hoàng Văn Khoán, Nxb Lao động năm 2014; Cuốn Gốm hoa lam Việt Nam của tác giả Bùi Minh Trí - Kerry Nguyễn - Long, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001; Cuốn Gốm hoa nâu Việt Nam, tác giả Phạm Quốc Quân - Nguyễn Đình Chiến, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xuất bản năm 2005; cuốn Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Phan Cẩm 12 Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nxb Mỹ thuật; cuốn Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa, tác giả Nguyễn Huy Tùng, Nxb Văn hóa Sài Gòn năm 2006; cuốn Tìm chơi cổ vật, tác giả Đào Phan Long, Nxb Hà Nội năm 2015; cuốn Hoa văn Việt Nam, tác giả Nguyễn Du Chi, Nxb Hồng Đức; cuốn Hồn cổ vật, tác giả Phạm Hải Long - Nguyễn Thị Việt Hà, Nxb Tổng hợp năm 2022; cuốn Cổ vật Việt Nam của Cục Bảo tồn - Bảo tàng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, xuất bản năm 2003; cuốn Cổ vật Việt Nam, Tập 1 của Cục Di sản Văn hóa xuất bản năm 2023… Đây là những ấn phẩm do các tác giả dày công nghiên cứu có tính khoa học cao. Tiêu biểu trong những công trình nghiên cứu đó có cuốn Đại cương về cổ vật ở Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Lý chủ biên, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2004 trình bày những vấn đề chung của cổ vật như cổ vật và sưu tập cổ vật, khái niệm cổ vật, tiêu chí của cổ vật, giá trị cổ vật, đặc trưng của cổ vật, chức năng của cổ vật, phân loại cổ vật, giám định cổ vật; giới thiệu cổ vật bằng đá như bia đá một loại sử liệu - hiện vật đặc biệt, bia đá trong quá trình lịch sử ở Việt Nam, bia đá Vĩnh Lăng, trang trí con rồng bia đá cổ; giới thiêu cổ vật bằng đồng như cổ vật bằng đồng của nên văn hóa Đông Sơn, chuông đồng Việt Nam, cổ tiền học Việt Nam; giới thiệu cổ vật bằng gốm như cổ vật gốm Việt Nam; cổ vật gốm Trung Quốc ở Việt Nam; giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật cổ như tranh cổ Việt Nam, tượng thờ trong chùa; giới thiệu quản lý cổ vật ở Việt Nam. Cuốn Tiền kim loại Việt Nam do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) biên soạn, xuất bản năm 2005 giới thiệu sưu tập tiền Việt Nam sử dụng để lưu thông từ đồng tiền đầu tiên Thái Bình Hưng Bảo của vua Đinh Tiên Hoàng (năm 970) cho đến đợt phát hành gần đây (2003). Cuốn sách giới thiệu các tiền chính triều sắp xếp theo thời gian, ngoài 13 ra còn giới thiệu tiền không chính triều và tiền của tư nhân và các loại tiền chưa xác định như một nguồn tư liệu tham khảo.

Phần thứ nhất của công trình này sắp xếp, phân loại mô tả chung về tiền Việt Nam trong đó có nghiên cứu bối cảnh lịch sử và phân tích đặc điểm kỹ thuật, công nghệ, tự dạng, thư pháp, kích thước, số lượng, dị bản. Cuốn sách đề cập đến vị trí vài trò của tiền tệ đối với xã hội đương thời, và sự phát triển của tiền tệ qua quá trình lịch sử. Phần hai là ảnh tiền tệ được xắp xếp tương ứng với phần thứ nhất và được chú thích rõ ràng. Phần ba là phụ lục: niên biểu Việt Nam, bảng phân loại theo cấp độ quý hiếm, bảng tra ảnh mẫu tiền, bảng phân tích thành phần kim loại một số mẫu tiền.

Những mẫu tiền sử dụng trong cuốn sách được tập hợp từ một lượng di vật lớn, được lựa chọn, giám định để lựa chọn những cổ vật tiêu biểu thể hiện sự phong phú và đa dạng của tiền kim loại Việt Nam. Như vậy, cuốn sách là công cụ hữu hiệu để tra cứu cho những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa liên quan đến tiền tệ trong và ngoài nước [76, tr. Cuốn Cổ vật Việt Nam do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) và Bảo tàng thủ đô Bắc Kinh xuất bản năm 2008, đã giới thiệu hàng trăm cổ vật tiêu biểu từ thời tiền sử đến thời Nguyễn được phân thành các nhóm cổ vật theo chất liệu từ đá, gốm, kim loại, giấy, gỗ, vải với nhiều loại hình khác nhau như đồ dùng sinh hoạt, pháp khí Phật giáo, tượng, ấn chương, tranh, … Về các cổ vật thời Trần - Lê, phần chất liệu gốm có gốm đất nung như phù điêu rồng, đầu phượng, tượng người trên ngói bò, bệ hoa sen, gạch lát nền có hoa văn; gốm men có bát, âu, bình men ngọc, bát, ấm men nâu, thống, thạp, bình, tượng mèo, tượng cóc gốm hoa nâu; thời Lê có tượng nghê men ngà, đài, lọ hình chân đèn, ang, chậu, đĩa, bình, kendy, bình tỳ bà, tượng phụ nữ, chân đèn gốm hoa lam; lư hương, chân đèn, mô hình nhà men nhiều màu; tượng kim cương, lư hương, đỉnh, đài, bình men rạn, lư 14 hương men nâu, bình vôi men lục xám… Đồ đồng có trống Herger IV, chuông chùa Vân Bản, ấm thời Trần, tượng Phổng, tượng người trên sư tử, đài đốt trầm hình nghê thời Lê. Đồ gỗ, giấy, vải có bộ cánh cửa chạm rồng bằng gỗ của chùa Phổ Minh thời Trần, tượng Thích Ca sơ sinh bằng gỗ thời Trần - Lê, tượng Phật nhập nết bàn, tượng Phật, tượng Quan Âm Chuẩn Đề, tượng Bồ Tát, tiên cưỡi rồng, tiên cưỡi hạc thời Lê.

Đồ giấy có tranh Tam Quốc chí, tranh ngựa hồng, tranh ngựa bạch thời Lê (đền Độc Lôi, Nghệ An). Cổ vật bằng vàng có trâm, 2 vòng tay, Bắc Sơn cuối thời Lê. Nhìn chung, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê ở Việt Nam theo hướng văn hóa học, mà các cổ vật thời kỳ này thường được nghiên cứu chung với các cổ vật thuộc các giai đoạn khác nhau trong lịch sử Việt Nam. Tình hình nghiên cứu cổ vật thời Trần - Lê tại Hà Tĩnh Tỉnh Hà Tĩnh được tái lập từ tỉnh Nghệ Tĩnh cũ vào năm 1991.

Kể từ đó đến nay, tại Hà Tĩnh đã tổ chức khảo sát điền dã, khai quật khảo cổ và tiến hành hàng trăm đợt sưu tầm các cổ vật thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII). Tiêu biểu có nhiều cuộc khai quật khảo cổ ở đền Huyện, thương cảng cổ Hội Thống ở Nghi Xuân, nhà thờ Trần Tịnh, nhà thờ họ Nguyễn Huy ở Can Lộc, khảo sát ở Lộc Hà, cửa Khẩu ở Kỳ Anh… đã sưu tầm được hàng trăm cổ vật gốm sứ như gốm men ngọc, men nâu, hoa nâu được trang trí các đề tài liên quan đến Phật giáo, hoa cúc, hoa sen; đồ sành, đất nung, chuông chùa Rối bằng đồng thời Trần và gốm hoa lam, men ngà, tiền kim loại, sách bằng đồng Hậu thần thư ký thời Lê Trung hưng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trần Phi Công (2025), Cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII) tại Hà Tĩnh, Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Hà Nội.
APA 7
Trần, P. C. (2025). Cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII) tại Hà Tĩnh [Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/co-vat-viet-nam-thoi-tran-le-tu-the-ky-xiii-den-the-ky-xviii-tai-ha-tinh/9883486474
IEEE
P. C. Trần, "Cổ vật Việt Nam thời Trần - Lê (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII) tại Hà Tĩnh," Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, Hà Nội, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/co-vat-viet-nam-thoi-tran-le-tu-the-ky-xiii-den-the-ky-xviii-tai-ha-tinh/9883486474

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác