Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13) với đề tài "Quan hệ Việt - Xiêm trong thế kỉ XIX" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Luận thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Thanh Thanh và TS. Nguyễn Đức Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Xiêm La (Thái Lan) có cội nguồn từ thế kỉ XII, song bước sang thế kỉ XIX, mối quan hệ này diễn biến phức tạp và có tác động trực tiếp đến an ninh khu vực Đông Nam Á. Sau khi thành lập năm 1802, triều Nguyễn củng cố tiềm lực quân sự, tạo ra thế cân bằng chiến lược mới đối với Vương triều Rattanakosin (Chakri) của Xiêm La. Cả hai quốc gia đều xem hai nước láng giềng Chân Lạp và Ai Lao là "tấm lá chắn" chiến lược để phòng thủ từ xa và bảo vệ chủ quyền. Về phía Việt Nam, triều đình vừa phải ứng phó với phương Bắc, vừa phải ngăn chặn quá trình "đông tiến" của Xiêm La. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây phần lớn tập trung vào nửa đầu thế kỉ XIX (giai đoạn 1802 - 1847) hoặc giai đoạn chiến tranh 1833 - 1845, trong khi quan hệ song phương dưới triều Tự Đức (1847 - 1883) và thời kì thực dân Pháp can thiệp, tước quyền bang giao của triều Nguyễn (1883 - 1896) chưa được khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Khôi phục lại bức tranh toàn diện về quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Xiêm La trong suốt thế kỉ XIX dưới các triều vua Nguyễn: Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883) và thời kì Pháp thiết lập bảo hộ (1883 - 1896).
    2. Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử bang giao, lịch sử quan hệ quốc tế và khoa học xã hội nhân văn.
    3. Bổ sung, làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm và sự chuyển biến của quan hệ Việt - Xiêm trong bối cảnh các nước phương Tây gia tăng xâm lược khu vực nửa sau thế kỉ XIX.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Xiêm La trong thế kỉ XIX trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự, đặt trong mối tương tác quyền lực đối với hai vùng đệm Chân Lạp và Ai Lao.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam (Đại Nam) dưới thời Nguyễn và Xiêm La dưới thời Vương triều Rattanakosin, cùng địa bàn có tranh chấp ảnh hưởng là Chân Lạp và Ai Lao.
    • Thời gian: Từ năm 1802 (năm triều Nguyễn thành lập, xác lập nền thống nhất quốc gia) đến năm 1896 (năm phong trào Cần Vương chấm dứt, thực dân Pháp cơ bản hoàn thành bình định quân sự và nắm quyền đại diện ngoại giao của triều đình Huế).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã thu thập, khảo cứu hơn 200 đơn vị tư liệu trong và ngoài nước, phân loại thành các nhóm công trình chính:

Nhóm nguồn tư liệu Các tác giả, công trình và tài liệu tiêu biểu
Chính sử và văn bản triều Nguyễn Đại Nam thực lục (10 tập), Đại Nam liệt truyện (4 tập), Đại Nam nhất thống chí (5 tập), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (10 tập), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (10 tập), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc triều chánh biên toát yếu (Cao Xuân Dục), Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Minh Mạng chính yếu, Khâm định tiễu bình Nam/Bắc kỳ nghịch phỉ phương lược chính biên.
Thư tịch cổ và thông sử Việt Nam Đại Việt sử ký toàn thư, Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Quốc sử di biên (Phan Thúc Trực), Việt sử thông giám (Vũ Quỳnh), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Thư tịch cổ Việt Nam về Đông Nam Á (Nguyễn Lệ Thi).
Nghiên cứu của học giả trong nước Lưu Văn Lợi (2007, Bản sắc quan hệ Việt - Xiêm qua các hiến chương, hợp đồng); Trần Trọng Kim (1971, Quan hệ Việt - Xiêm: Lịch sử, văn hóa và xã hội); Đinh Thị Dung (2001, Luận án Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX); Đặng Văn Chương (Luận án Quan hệ Xiêm - Việt từ năm 1782 đến 1847); Trần Thị Mai (2007, Lịch sử Bang giao Việt Nam Đông Nam Á); Lê Văn Quang (1995, Lịch sử Thái Lan); Trần Thị Thanh Thanh (2010, Đề tài Quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong các thế kỉ X - XX); Hoàng Khắc Nam (2007, Quan hệ Việt Nam - Thái Lan 1976 - 2000); Phan Khoang (Việt sử xứ Đàng Trong); Đào Minh Hồng (2000, Luận án về chính sách đối ngoại của Xiêm).
Nghiên cứu của học giả quốc tế Li Tana (1999, Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII); Peter Poole (1970, Người Việt ở Thái Lan); Charles B. Maybon (2011, Những người châu Âu ở nước An Nam); William Dampier (2011, Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688); Choi Byung Wook (2011, Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng); Thadeus Flood và Chadin Flood (The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, The First Reign); Rong Syammananda (A History of Thailand); Chulacheeb Chinwanno (Thailand-Vietnam Relations: An Overview); Christopher E. Goscha (Thailand and Southeast Asian Network of the Vietnamese Revolution).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:

  1. Khoảng trống về tiến trình lịch sử nửa sau thế kỉ XIX: Các nghiên cứu hiện có hầu như dừng lại ở mốc 1847. Luận án đi sâu nghiên cứu giai đoạn 1847 - 1883 dưới triều Tự Đức khi hai nước chuyển từ đối đầu quân sự sang bang giao hòa hoãn để theo dõi nguy cơ từ chủ nghĩa thực dân phương Tây.
  2. Khoảng trống về giai đoạn Pháp chuyển giao và áp đặt ngoại giao (1883 - 1896): Làm rõ sự thay đổi căn bản về tính chất ngoại giao khi thực dân Pháp tước quyền đối ngoại độc lập của triều Nguyễn, xác lập cơ chế bang giao Việt - Xiêm theo mô hình thực dân phương Tây tập trung vào phân định biên giới và quyền lợi kinh tế.
  3. Tính hệ thống và nguồn sử liệu mới: Khai thác và đối chiếu hệ thống Châu bản, Mộc bản triều Nguyễn, các bộ Hội điển sự lệ và biên niên sử nhằm tái hiện toàn cảnh mối quan hệ xuyên suốt cả thế kỉ XIX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung phân tích lý thuyết và khái niệm: Luận án tiếp cận trên quan điểm lịch sử mác-xít về quan hệ quốc tế thời phong kiến và cận đại; áp dụng các khái niệm bang giao truyền thống phương Đông (quan hệ triều cống, lân bang hữu hảo, quan hệ nước lớn - nước nhỏ, cơ chế bảo hộ/phiên thuộc đối với Chân Lạp và Ai Lao) và sự biến đổi của trật tự khu vực dưới tác động của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp lịch sử: Đóng vai trò chủ đạo, tái hiện diễn tiến quan hệ bang giao Việt - Xiêm theo trình tự thời gian từ năm 1802 đến năm 1896 qua từng bối cảnh cụ thể của hai vương triều và khu vực.
    • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, các nhân tố chi phối, tìm ra quy luật thăng trầm, đánh giá tương quan lực lượng và vị thế địa chính trị của Đại Nam trong tương tác với Xiêm La.
    • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp sử liệu học (phân tích, giám định, đối chiếu văn bản Hán Nôm và tài liệu dịch thuật), phương pháp so sánh lịch sử, thống kê tư liệu.
  • Nguồn tư liệu thực tế:
    • Nguồn văn thư lưu trữ: Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; tài liệu lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
    • Nguồn biên niên sử, hội điển của Quốc sử quán và Nội các triều Nguyễn.
    • Nguồn hồi ký, ghi chép du hành của thương nhân, giáo sĩ, học giả phương Tây và các công trình nghiên cứu sử học của Thái Lan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo hai nhóm: nghiên cứu trong nước và nghiên cứu nước ngoài; phân loại theo các nhánh đề tài về thương mại, xung đột quân sự và vấn đề bảo hộ Chân Lạp, Ai Lao. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn học giả thống nhất chia quan hệ Việt - Xiêm nửa đầu thế kỉ XIX làm hai giai đoạn: giai đoạn hòa hiếu (1802 - tháng 10/1833) và giai đoạn xung đột chiến tranh (1833 - 1845/1847). Trên cơ sở đó, chương 1 xác định ba vấn đề luận án tập trung giải quyết: lấp đầy khoảng trống lịch sử giai đoạn 1847 - 1883 dưới triều Tự Đức; phân tích thời kì 1883 - 1896 khi thực dân Pháp tước quyền bang giao của triều Nguyễn; và cập nhật các nguồn tư liệu mộc bản, châu bản, văn bản ngoại giao mới phát hiện.

Chương 2. Khái quát mối quan hệ Việt - Xiêm trước thế kỉ XIX

Chương này phác thảo tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Đại Việt và Xiêm La từ thế kỉ XII đến cuối thế kỉ XVIII:

  • Bối cảnh Đại Việt: Quá trình củng cố thiết chế quân chủ tập quyền qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ (với các bộ luật như Hình thư năm 1042, Hình luật, Quốc triều hình luật); giai đoạn phân liệt Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh (thế kỉ XVI - XVIII); phong trào nông dân Tây Sơn và quá trình Nguyễn Ánh khôi phục quyền lực, thống nhất đất nước vào năm 1802.
  • Bối cảnh Xiêm La: Sự hình thành của các tộc người Thái, quá trình hợp nhất lãnh thổ, phát triển vương quốc Ayutthaya và sự phục hưng dưới thời Thonburi rồi Vương triều Chakri (Rattanakosin) từ năm 1782 sau khi đánh bại quân Miến Điện.
  • Tiến trình quan hệ trước thế kỉ XIX:
    • Giai đoạn thế kỉ XII - XV: Bang giao sơ khai, chủ yếu là tiếp nhận thuyền buôn, trình quốc thư và trao đổi sản vật địa phương.
    • Giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII: Mối quan hệ mở rộng qua hoạt động thương mại hàng hải giữa Xiêm với Đàng Ngoài (qua Phố Hiến, Kẻ Chợ - như ghi chép của William Dampier năm 1688 về việc đúc chuông đồng cho thượng thư Xiêm) và Đàng Trong (qua các cảng thị Nam Hà - như phản ánh trong Phủ biên tạp lục và ghi chép của Charles B. Maybon, Li Tana). Cuối thế kỉ XVIII, quan hệ mang màu sắc liên minh chính trị - quân sự khi Xiêm giúp đỡ Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, song đồng thời dẫn đến cuộc đối đầu quân sự trực tiếp tại Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785.
Thời kì lịch sử Đặc điểm bang giao Việt - Xiêm trước thế kỉ XIX Sự kiện và tư liệu tiêu biểu
Thế kỉ XII - XV Tiếp xúc ngoại giao sơ khai, thông thương cống phẩm theo đường biển. Ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, sứ đoàn dâng quốc thư và trao đổi lâm thổ sản.
Thế kỉ XVI - XVII Mở rộng buôn bán với cả Đàng Ngoài (vua Lê - chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn). Giao thương qua Phố Hiến (vụ việc 2 quả chuông năm 1688) và các cảng biển Đàng Trong; quy định ngạch thuế thuyền buôn năm 1702 ghi trong Đại Nam thực lục.
Nửa sau thế kỉ XVIII Can thiệp quân sự, tranh giành ảnh hưởng ở Chân Lạp; liên minh với Nguyễn Ánh. Trận Sầm Khê năm 1705; trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785; cộng đồng người Việt định cư tại Bangpho (Xiêm) từ thập niên 1780.

Chương 3. Quan hệ Việt - Xiêm từ năm 1802 đến năm 1847

Chương 3 là trọng tâm khảo sát giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX:

  • Thời kì Gia Long (1802 - 1819) và những năm đầu Minh Mạng: Quan hệ duy trì trạng thái hòa hảo, hữu nghị dựa trên ân tình cũ giữa Gia Long và Rama I. Hai bên duy trì định lệ cử sứ bộ tạ ơn, chúc mừng, phúng viếng khi quốc vương qua đời (Hội điển sự lệ ghi nhận các sứ bộ trao tặng nhục quế, the lụa, sáp ong, hàng nghìn cân đường cát, đường phèn, quạt lông). Triều Nguyễn ban hành chính sách cứu trợ, bán gạo cứu đói và quy định mức thuế rõ ràng đối với thuyền buôn Xiêm bị dạt gió vào bờ biển Đại Nam. Về mặt nghi lễ, triều đình định lệ cho sứ thần Xiêm đứng tại cửa Tả Đoan chiêm ngưỡng khi diễn ra lễ tế Giao.
Mốc thời gian Sự kiện bang giao tiêu biểu Chi tiết tư liệu ghi nhận trong luận án
Năm 1803 (Gia Long năm thứ 2) Sứ bộ Xiêm do Sá Phất Ba Ni dẫn đầu sang tiến cống. Vua lệnh các dinh trấn từ Diên Khánh ra Bắc đón tiếp hậu hĩnh, đưa tới hành tại.
Năm 1806 (Gia Long năm thứ 5) Xiêm cử sứ bộ dâng tặng 3 chiếc chiến thuyền. Lưu trấn Gia Định tâu báo, triều đình đưa sứ giả về kinh chiêm bái và ban thưởng lớn.
Năm 1811 (Gia Long năm thứ 10) Sứ bộ Xiêm mang bạch đàn, trầm hương, sáp ong tạ ơn; Đại Nam cử sứ phúng điếu Phật vương Xiêm. Cấp phát tiền công, yến tiệc cho chánh phó sứ; cử sứ đoàn mang 2.000 cân đường cát, 120 tấm lụa sang viếng tang.
Năm 1824 (Minh Mạng năm thứ 5) Tiếp nhận thông báo Miến Điện cầu viện; cử sứ bộ sang Xiêm báo tin. Bộ Lễ phái phó đội Nguyễn Văn Lễ, thư lại Nguyễn Hữu Thức mang công văn, tặng phẩm giao cho Chiêu Phi Nhã Phật Lăng (Chao Phraya Phraklang).
Năm 1827 (Minh Mạng năm thứ 8) Biến cố Vạn Tượng (Lào): Vua A Nỗ cầu cứu triều Nguyễn khi bị quân Xiêm tấn công. Triều đình cử quân hộ tống A Nỗ về nước, phái sứ thần Lê Nguyên Huy mang quốc thư điều đình với Xiêm; sau đó tướng Xiêm Thung Vị Sai phục kích giết chết sứ bộ Đại Nam tại Bộ Khâm.
  • Giai đoạn xung đột quân sự (1833 - 1845): Từ cuối năm 1833, nhân biến cố Lê Văn Khôi nổi loạn tại Gia Định, Xiêm La mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Hà Tiên, Châu Đốc nhằm gạt bỏ ảnh hưởng của Đại Nam tại Chân Lạp. Triều đình Minh Mạng huy động quân đội phản công: các tướng Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm, Trần Văn Năng đánh tan đạo thủy binh Xiêm do Phi Nhã Khổ Lạc chỉ huy tại trận sông Cổ Hỗ và cửa Thuận, sau đó tiến quân lập lại quyền kiểm soát Chân Lạp (chuyển thành Trấn Tây Thành).
  • Giai đoạn Thiệu Trị (1841 - 1847) và cuộc nghị hòa: Chiến sự kéo dài gây tổn thất cho cả hai bên. Năm 1845, tại hội quán Vĩnh Long/Nam Vang, tướng Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn tiến hành hội đàm với Thống chế Xiêm La Chất Tri (Chao Phraya Bodindecha). Hai bên thống nhất giải pháp hòa bình: cùng rút quân khỏi Chân Lạp, đồng bảo hộ và công nhận Ang Duong (Nặc Ong Giun) làm vua Chân Lạp, khôi phục tình trạng "thân phục kép" (triều cống cả hai nước). Thỏa thuận này chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài 14 năm.

Chương 4. Quan hệ Việt - Xiêm từ năm 1847 đến năm 1896

  • Quan hệ dưới triều Tự Đức (1847 - 1883): Quan hệ song phương chuyển sang trạng thái hòa hoãn, không xảy ra xung đột quân sự lớn. Nguyên nhân căn bản là cả hai nước phải tập trung đối phó với hiểm họa thực dân phương Tây: Pháp tấn công Đà Nẵng và Nam Kỳ từ năm 1858; Xiêm La chịu sức ép từ thực dân Anh và phải ký kết các hiệp ước bất bình đẳng. Năm 1857, Tuần phủ Hà Tiên Lê Quang Nguyên và Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương báo cáo việc Xiêm trao trả 20 người dân Kinh gặp nạn; triều đình Tự Đức giao Bộ Lễ phúc đáp và gửi trả lại vũ khí, súng đạn thu được từ các cuộc chiến trước để duy trì hòa khí. Hai bên duy trì kênh thông tin để thăm dò, thông báo tình hình và giữ thái độ thận trọng, đề phòng lẫn nhau trước mọi biến động chính trị ở Chân Lạp.
  • Giai đoạn thực dân Pháp tước quyền bang giao (1883 - 1896): Thông qua các Hòa ước Quý Mùi (1883) và Hòa ước Giáp Thân (1884), Pháp xóa bỏ hoàn toàn quyền độc lập ngoại giao của vương triều Nguyễn, thành lập Liên bang Đông Dương (1887). Mọi quan hệ giữa Việt Nam và Xiêm La từ năm 1883 trở đi do chính quyền bảo hộ Pháp nhân danh triều đình Huế điều hành. Bang giao truyền thống Á Đông dựa trên trật tự triều cống bị thay thế bằng mô hình quan hệ quốc tế thực dân phương Tây: tập trung vào việc hoạch định ranh giới lãnh thổ dọc sông Mê Kông (dẫn tới cuộc khủng hoảng Pháp - Xiêm năm 1893) và mở rộng quyền lợi thương mại tư bản. Mốc năm 1896 khép lại thời kì nghiên cứu khi phong trào Cần Vương thất bại, đánh dấu việc Pháp hoàn tất thiết lập bộ máy cai trị trên toàn cõi Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:
    1. Luận án đã khôi phục một cách có hệ thống bức tranh toàn cảnh về quan hệ bang giao giữa hai nhà nước phong kiến lớn nhất Đông Nam Á lục địa trong suốt thế kỉ XIX, làm sáng tỏ bản chất của các mối tương tác chính trị, quân sự, thương mại và nghi lễ ngoại giao.
    2. Bổ sung nguồn tư liệu và phân tích chuyên sâu về giai đoạn 1847 - 1883 dưới triều Tự Đức – giai đoạn trước đây ít được các công trình sử học chú ý, chỉ rõ trạng thái "vừa hòa hoãn, vừa phòng thủ" của hai quốc gia trước mối đe dọa xâm lược từ phương Tây.
    3. Làm sáng tỏ sự chuyển biến về bản chất của quan hệ Việt - Xiêm trong giai đoạn 1883 - 1896, khi thực dân Pháp thay thế triều đình Huế định hình quan hệ với Xiêm La theo quy chuẩn ngoại giao cận đại phương Tây.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và bài học lịch sử:
    • Cung cấp nguồn sử liệu tham khảo chuẩn xác, có hệ thống cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử Việt Nam, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử quan hệ quốc tế.
    • Rút ra những bài học kinh nghiệm về ứng xử ngoại giao láng giềng: việc xử lý các vấn đề vùng đệm an ninh, giải quyết mâu thuẫn biên giới và tranh chấp ảnh hưởng bằng thương lượng hòa bình, phục vụ định hướng đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu lưu trữ tiếng Thái cổ và hạn chế trong việc tiếp cận các văn khố thực dân Pháp tại Pháp, một số tương tác chi tiết cấp địa phương vùng biên giới Xiêm - Chân Lạp - Nam Kỳ giai đoạn 1883 - 1896 chủ yếu được phân tích qua góc nhìn chính sử Việt Nam và các tài liệu dịch thuật quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án định hướng mở rộng nghiên cứu sang việc khai thác sâu các văn bản hiệp định thương mại, hải quan cụ thể giữa chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương với Xiêm La từ cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX; đối chiếu sâu hơn với các bộ biên niên sử Hoàng gia Thái Lan (Phraratchaphongsawadan) của các triều vua Rama IV và Rama V.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử, Quan hệ quốc tế, Đông phương học, Đông Nam Á học.
    • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu cần tài liệu chuyên khảo về lịch sử bang giao triều Nguyễn và lịch sử ngoại giao khu vực cận đại.
    • Các nhà hoạch định chính sách đối ngoại, cán bộ ngoại giao nghiên cứu về lịch sử tương tác địa chính trị Việt Nam - Thái Lan và tiểu vùng sông Mê Kông.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Hệ thống cứ liệu trích dẫn từ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Bộ Lễ, Bộ Lại) về quy chế ngoại giao, nghi thức tiếp đón sứ bộ, phẩm vật triều cống và chính sách đối với thương nhân nước ngoài.
    • Khảo cứu chi tiết về cuộc hội đàm nghị hòa năm 1845 giữa tướng Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn và Thống chế Chất Tri (Bodindecha).
    • Phân tích chuyển dịch ngoại giao dưới tác động của chủ nghĩa thực dân Pháp và Anh trong nửa sau thế kỉ XIX.

Câu hỏi thường gặp

1. Quan hệ Việt - Xiêm dưới triều vua Gia Long (1802 - 1819) có đặc điểm nổi bật gì?

Quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này mang tính chất thân thiện, hòa hảo do mối quan hệ cá nhân trước đó giữa Nguyễn Ánh và vua Rama I. Hai bên thường xuyên cử các đoàn sứ bộ sang thông báo tình hình, chúc mừng lên ngôi, phúng điếu tang lễ và dâng tặng sản vật (như sứ bộ Sá Phất Ba Ni năm 1803, sứ bộ dâng 3 chiến thuyền năm 1806). Triều đình Gia Long thực hiện chính sách hỗ trợ thuyền buôn Xiêm gặp bão dạt vào bờ biển Đại Nam, bán gạo cứu đói theo nhân khẩu và quy định mức thuế rõ ràng.

2. Nguyên nhân trực tiếp nào dẫn đến cuộc chiến tranh Việt - Xiêm bùng nổ cuối năm 1833?

Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi tại thành Phiên An (Gia Định). Lực lượng này đã cầu viện triều đình Xiêm La. Nhận thấy cơ hội đẩy lùi ảnh hưởng của triều đình Minh Mạng ra khỏi Chân Lạp và mở rộng tầm kiểm soát sang biên giới Tây Nam Đại Nam, vua Rama III đã điều động quân đội tấn công qua ngả Hà Tiên, Châu Đốc và tiến sâu vào lãnh thổ Chân Lạp.

3. Kết quả cuộc nghị hòa năm 1845 giữa Đại Nam và Xiêm La tại Chân Lạp được giải quyết ra sao?

Năm 1845, tại hội quán, tướng Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đã hội đàm với Thống chế Xiêm La Chất Tri (Bodindecha). Hai bên thỏa thuận đình chỉ chiến sự, rút quân đội về nước, thống nhất lập Ang Duong (Nặc Ong Giun) làm vua Chân Lạp và thiết lập cơ chế triều cống đồng thời cho cả hai nước Đại Nam và Xiêm La, chấm dứt tình trạng đối đầu quân sự kéo dài từ năm 1833.

4. Tại sao dưới triều vua Tự Đức (1847 - 1883), xung đột quân sự giữa hai nước tạm thời chấm dứt?

Dưới triều Tự Đức, hai nước tạm gác các tranh chấp quân sự trực tiếp vì cùng phải đối mặt với nguy cơ xâm lược hiện hữu từ chủ nghĩa thực dân phương Tây: Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858, trong khi thực dân Anh gia tăng áp lực ngoại giao và quân sự lên Xiêm La. Hai bên giữ thái độ hòa hoãn, trao trả dân thường trôi dạt, trao đổi thư từ và vũ khí tịch thu để duy trì hòa khí, tập trung ứng phó với phương Tây.

5. Thực dân Pháp đã thay đổi bản chất quan hệ bang giao Việt - Xiêm như thế nào từ sau năm 1883?

Sau các hòa ước 1883 và 1884, thực dân Pháp chính thức tước bỏ quyền tự chủ đối ngoại của triều đình Huế. Quan hệ giữa Việt Nam và Xiêm La không còn là mối quan hệ bang giao phong kiến truyền thống mà chuyển thành quan hệ do chính quyền bảo hộ Pháp nhân danh triều Nguyễn thực hiện. Pháp áp dụng các nguyên tắc ngoại giao phương Tây nhằm phục vụ lợi ích thương mại tư bản và phân chia ranh giới ảnh hưởng thuộc địa dọc lưu vực sông Mê Kông.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quan hệ Việt - Xiêm trong thế kỉ XIX" của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Luận là công trình sử học chuyên khảo tái hiện một cách hệ thống, toàn diện tiến trình bang giao Việt - Xiêm từ năm 1802 đến năm 1896. Dựa trên khối lượng tư liệu Hán Nôm đồ sộ từ Quốc sử quán, Nội các triều Nguyễn kết hợp với các nguồn sử liệu quốc tế, tác giả đã làm sáng tỏ quy luật vận động của mối quan hệ từ hòa hiếu, đối đầu quân sự đến hòa hoãn và biến đổi dưới thời thuộc địa. Công trình không chỉ khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu về nửa sau thế kỉ XIX mà còn cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng, có giá trị tham khảo học thuật cao đối với lịch sử ngoại giao Việt Nam và quan hệ quốc tế khu vực Đông Nam Á.