Bài 12: Phong trào Dân tộc Dân chủ Việt Nam từ 1919 đến 1925

Bài viết này cung cấp nội dung chi tiết về sách giáo khoa Lịch sử lớp 8, tập 2, với mã số tham khảo 0812 sgk lichsu2 rzrz 48202110. Hỗ trợ học sinh và giáo

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2021

151
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phong trào dân tộc dân chủ 1919 1925 Bối cảnh lịch sử quan trọng

Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1919-1925 đánh dấu sự chuyển mình quan trọng trong lịch sử cận đại. Những biến động toàn cầu sau Thế chiến thứ nhất cùng chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tạo điều kiện cho sự phát triển của phong trào yêu nước. Phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn này không chỉ phản ánh khát vọng độc lập dân tộc mà còn thể hiện sự thức tỉnh về quyền lợi kinh tế-xã hội của nhân dân. Những thay đổi trong hệ thống giáo dục, sự xuất hiện của giai cấp công nhân và tư sản dân tộc đã góp phần hình thành nền tảng cho các phong trào sau này. Chuyên gia lịch sử ghi nhận đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, kết nối giữa các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX với cao trào cách mạng 1930-1945.

1.1. Bối cảnh quốc tế tác động đến phong trào dân tộc

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), trật tự thế giới mới được thiết lập tại Hội nghị Versailles năm 1919. Những thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống thuộc địa, đặc biệt là Đông Dương. Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công đã truyền bá tư tưởng cộng sản vào châu Á, trong đó có Việt Nam. Quốc tế Cộng sản được thành lập năm 1919 đã cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Tại Đông Dương, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa để bù đắp tổn thất chiến tranh, dẫn đến sự bần cùng hóa nông dân và sự trỗi dậy của giai cấp công nhân.

1.2. Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp

Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) được thực dân Pháp triển khai nhằm khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Pháp đầu tư mạnh vào nông nghiệp (đồn điền cao su, cà phê) và công nghiệp nhẹ (dệt, xay xát, khai thác mỏ). Tổng vốn đầu tư vào Đông Dương giai đoạn này lên tới 4 tỷ phrăng, chủ yếu tập trung vào Việt Nam. Hệ thống ngân hàng Đông Dương nắm quyền kiểm soát toàn bộ nền kinh tế thuộc địa. Chính sách tăng thuế và độc quyền thương mại (rượu, thuốc phiện, muối) càng đẩy nhân dân vào cảnh khốn cùng.

II. Những chuyển biến kinh tế xã hội thúc đẩy phong trào dân chủ

Sự phát triển của nền kinh tế thuộc địa đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong xã hội Việt Nam giai đoạn 1919-1925. Chuyển biến kinh tế xã hội trở thành động lực thúc đẩy phong trào yêu nước, đặc biệt là sự xuất hiện của giai cấp công nhân và tư sản dân tộc. Những chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp cùng sự bần cùng hóa nông dân đã dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh tự phát. Các đô thị phát triển kéo theo sự gia tăng của tầng lớp tiểu tư sản thành thị, những người sau này trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào dân chủ.

2.1. Sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, chủ yếu tập trung tại các trung tâm công nghiệp như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng. Đến năm 1929, số lượng công nhân đã lên tới 22 vạn người. Họ chịu sự bóc lột nặng nề từ tư bản Pháp và là lực lượng tiên phong trong các cuộc đấu tranh kinh tế. Phong trào đấu tranh của công nhân giai đoạn 1919-1925 chủ yếu dưới hình thức bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm. Những cuộc đấu tranh này tuy còn mang tính tự phát nhưng đã đặt nền móng cho sự phát triển của phong trào cách mạng sau này.

2.2. Sự trỗi dậy của tư sản dân tộc

Tầng lớp tư sản dân tộc bắt đầu hình thành từ những năm 1920, chủ yếu thông qua hoạt động thương mại và công nghiệp nhẹ. Họ có tinh thần dân tộc nhưng bị thực dân Pháp kìm hãm phát triển. Một số doanh nghiệp tư nhân như hãng buôn của các gia đình họ Nguyễn (Bình Định), họ Trương (Phú Yên) đã góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương. Mặc dù còn non yếu, tầng lớp tư sản dân tộc đã tham gia vào phong trào yêu nước thông qua các hoạt động kinh tế và văn hóa.

III. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản giai đoạn 1919-1925 có sự đa dạng về hình thức và tổ chức. Những nhà yêu nước tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản từ phương Tây đã thành lập các tổ chức chính trị nhằm đấu tranh cho độc lập dân tộc. Các phong trào này tuy chưa có đường lối rõ ràng nhưng đã đặt nền móng cho sự ra đời của các đảng phái cách mạng sau này. Sự thất bại của các phong trào này đã cho thấy sự hạn chế của khuynh hướng dân chủ tư sản trong điều kiện Việt Nam lúc bấy giờ.

3.1. Hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng

Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập năm 1927 theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Đảng chủ trương đấu tranh vũ trang giành độc lập, tiêu biểu là Khởi nghĩa Yên Bái (1930). Mặc dù thất bại, hoạt động của Quốc dân Đảng đã cổ vũ tinh thần yêu nước trong nhân dân. Đảng đã xây dựng được hệ thống tổ chức rộng khắp cả nước, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội, đặc biệt là thanh niên trí thức.

3.2. Vai trò của tư tưởng dân chủ tư sản trong phong trào

Tư tưởng dân chủ tư sản được truyền bá vào Việt Nam thông qua các sách báo tiến bộ như báo "Người cùng khổ", "Đông Pháp thời báo". Những tác phẩm của các nhà tư tưởng như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu đã góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, sự hạn chế của khuynh hướng này thể hiện ở việc không đề ra được đường lối đấu tranh phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, dẫn đến sự thất bại trong việc tập hợp lực lượng quần chúng rộng rãi.

IV. Những đóng góp của phong trào dân tộc dân chủ 1919 1925

Phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn 1919-1925 đã để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Đóng góp quan trọng nhất của phong trào là đã thức tỉnh tinh thần dân tộc trong nhân dân, tạo tiền đề cho sự phát triển của phong trào cách mạng sau này. Những tổ chức chính trị đầu tiên được thành lập đã đặt nền móng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Phong trào cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành ý thức giai cấp và giai cấp đấu tranh, đặc biệt là giai cấp công nhân.

4.1. Tiền đề cho sự ra đời Đảng Cộng sản

Sự thất bại của các phong trào dân chủ tư sản đã cho thấy sự cần thiết phải có một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Những nhà cách mạng tiên phong như Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nhận thức rõ vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.

4.2. Ảnh hưởng đến phong trào cách mạng sau 1930

Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925 đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho phong trào cách mạng sau này. Sự thất bại của các phong trào đã cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng tổ chức vững mạnh và đường lối đấu tranh đúng đắn. Những phong trào đấu tranh tự phát đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng 1930-1945.

V. Những hạn chế và bài học từ phong trào dân tộc dân chủ

Hạn chế chủ yếu của phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn 1919-1925 là thiếu sự lãnh đạo thống nhất và đường lối đấu tranh rõ ràng. Các phong trào chủ yếu mang tính tự phát, thiếu sự liên kết giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội. Bài học quan trọng rút ra từ phong trào này là sự cần thiết phải có một đảng cách mạng tiên phong, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Sự thất bại của các phong trào đã cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng khối liên minh công nông vững chắc trong cách mạng giải phóng dân tộc.

5.1. Nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào

Nguyên nhân chủ quan bao gồm sự thiếu thống nhất trong lãnh đạo, thiếu đường lối đấu tranh rõ ràng. Nguyên nhân khách quan là sự đàn áp quyết liệt của thực dân Pháp, sự hạn chế của khuynh hướng dân chủ tư sản trong điều kiện Việt Nam. Những hạn chế này đã dẫn đến sự thất bại của các phong trào như khởi nghĩa Yên Bái (1930) và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931).

5.2. Tầm quan trọng của giai cấp công nhân trong cách mạng

Giai cấp công nhân tuy còn non trẻ nhưng đã thể hiện vai trò tiên phong trong đấu tranh kinh tế. Sự trưởng thành của giai cấp công nhân đã tạo điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Bài học quan trọng rút ra là sự cần thiết phải xây dựng khối liên minh công nông vững chắc, kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị nhằm giành độc lập dân tộc.

VI. Ảnh hưởng của phong trào đến phong trào giải phóng dân tộc sau 1925

Phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn 1919-1925 đã đặt nền móng vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc sau này. Ảnh hưởng sâu sắc nhất là sự thức tỉnh tinh thần dân tộc trong nhân dân, tạo điều kiện cho sự phát triển của phong trào cách mạng sau 1930. Những tổ chức chính trị được thành lập trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng 1930-1945. Phong trào cũng đã góp phần quan trọng trong việc hình thành ý thức giai cấp và giai cấp đấu tranh, đặc biệt là giai cấp công nhân.

6.1. Sự phát triển của phong trào cách mạng sau 1930

Sau thất bại của phong trào dân chủ tư sản, phong trào cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cao trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đã thể hiện sự trưởng thành của giai cấp công nhân và nông dân. Những bài học kinh nghiệm từ phong trào 1919-1925 đã được vận dụng trong giai đoạn mới này.

6.2. Di sản tinh thần của phong trào dân tộc dân chủ

Di sản tinh thần của phong trào dân tộc dân chủ giai đoạn 1919-1925 vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do vẫn là động lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những tấm gương hy sinh của các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc vẫn là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phải thành lập ngay đảng cộng sản để thạy thế Hội V iệt Nam Cách mạng Thanh niên, song không được chấp nhận nên đoàn đã bỏ Đ ại hội vế nước. Đại hội đã thòng qua Tuyên ngôn. Chính cương , Điều lệ của Hội V. Ngày 17 - 6 - 1929, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sán ở Bắc Kì họp Đại hội tại nhà số 312, phố Khâm Thiên (Hà N ội) quyết định thành lập Đông Dương Cộng sẩn đảng , thông qua Tuxên ngôn, Điều lệ, ra báo Búa liềm làm cơ quan ngồn luận và cử ra Ban Chấp hành Trung ương của Đảng.

Khoảng tháng 8 - 1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Tổng bô và Kì bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kì cũng đã quyết định thành lạp An Nam Cộng sắn đảng. Tờ báo Đ ỏ là cơ quan ngôn luận của Đảng. Vào khoảng tháng 11 - 1929, An Nam Cộng sán đảng họp đại hội để thông qua đường lối chính trị và bầu Ban Chấp hành Trung ương của Đảng. Tháng 9 - 1929, những người giác ngộ cộng sản trong Đảng Tân Việt tuyên bố Đòng Dương Cộng sàn liên đoàn chính thức thành lập.

Sự ra đời cúa ba tổ chức cộng sán là một xu thế khách quan của cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản. Nhưng các tổ chức đó đểu hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng với nhau, làm cho phong trào cách mạng trong nước có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc được tin Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phân liệt thành hai nhóm, mỗi nhóm tổ chức thành một đảng cộng sản. Người liền rời khỏi Xiêm, sang Trung Quốc để thống nhất các tổ chức cộng sản.

Hội nghị thảnh lập Đáng Cộng sán Việt Nam Với cương vị là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới phong trào cách mạng ở Đóng Dương, Nguyễn Ái Quốc chủ động triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng đến Cửu Long (Hương cảng, Trung Quốc) để bàn việc hợp nhất. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản bắt đầu họp từ ngày 6 - 1 - 1930 tại Cửu Long, do Nguyên Ái Quốc chủ trì. Dự Hội nghị có Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh là đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng, Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu là đại biểu của An Nam Cộng sản đảng. 87 Nguyên Ái Ọuòc phé phán những quan điểm sai !ám cua các tổ chức cộng san riêng rẽ và nêu chưmig trinh ] lội nghị Hội nghị đã thau luân và nhất trí thống nhát các tổ chức cộng sản thánh mũt đang duy nhât lây tén là Đàng Cáng sàn Việt Nơm.

thòng qua Chính cương vãn tất cua Đàng. Sách lược vãn tát cùa Dưng. do Nguyền Ai Quòc soạn thao. Đó là Cương lĩnh chinh tn dầu uen cua Đang Cộng sán Viét Nan;.

Cưưng lình xác định dường lói chiến lược cách mạng cua Đang là tiến hành "tư san dấn quyên cách mạng va tho địa cách mạng á t đi ten xà hội cọng san". Nhiẹm vụ cua cuộc cách mạng la đánh do de Hirh 30 Nguyên AI Qeớc quốc Phap, hon phong kiến vá tư san phán cách (dác nhimg riAin 30: mạng, làm cho nước Việt Nam dược độc lập tự do. láp chính phu công nòng btnh. tổ chức quân dôi công nỏng : tịch thu hết sán nghiên lớn cua đẽ quốc ; tích thu ruộng đát cua đê quõc và bon phan cách mang chia cho dán cay nghèo, tiến hãnh cách mang ruộng đất V.

Lưc lương cách mạng là công nhan, nông dân. tri thức : còn phú nông, trung, tiêu địa chu và tư san thi lợi dung hoậc trung lập. đóng thời phai liên lac với cãc dãn tộc b| áp bức và vô san the giới. Đang Cộng săn Việt Nam - dõi tiên phong cua giai cảp vô san - sẽ giữ vui trò lãnh đao cách mạng.

Cương lình chinh trị dâu tién cua Đang Cộng san Việt Nam do Nguyền Ai Quốc soạn thảo lá moi cương lĩnh cách mạng giai phóng dân tộc sáng tạo, kết hợp dũng đăn vân dẻ dân lộc và vãn đt giai cáp. Đọc lập và tư do là tư tường cốt lõi cùa cương lĩnh nàv. Nhân dip Đảnạ ra đời Nguyên Ái Quốc ra Lời kêu goi cóng nhân, nông dân. binh linh, thanh niên, hoe sinh, anh chị em b| áp bức.

Lời Kêu goi có đoan ' "Đáng Cóng sàn Việt Nam đã đươc thành lặp. Đó là Đảng của giai cấp võ sản Đảng sẽ diu dắt giai cáp vó sản lânh đạo cách mang An Nam đấu tranh nhằm giải phòng cho toàn thể anh chi em bị áp bức. bóc lột của chúng ta”(1) Hội nghị hợp nhát các tố chức cộng san Việt Nam mang tám vóc lịch sử cua một đại hội thanh lập Đảng. Ngày 8 —2 - 1930, các đại biếu dự Hội nghị vế nước.

(1) Hố Chi Minh, Tonrt tđp, Tạp 3, N"XB Chinh trị quốc gia. 88 Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng được thành lập, gổm 7 uỷ viên. Tiếp đến, các xứ uỷ Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì cũng được thành lập. Ngày 24 - 2 - 1930, theo đề nghị của Đông Dương Cộng sản liên đoàn, tổ chức này được gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (họp tháng 9 - 1960) quyết định lấy ngày 3 - 2 hằng năm là ngày kỉ niệm thành lập Đảng. Đảng Cộne sản Việt Nam ra đòi là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp quyết liệt cùa nhàn dân Việt Nam, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên con đường đấu tranh trong mấy thập kỉ đầu của thế kỉ XX. Đảng ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chù nghĩa Mác - Lênin với phong trào cống nhân và phong trào vêú nước ở Việt Nam trong thời đại mới. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

cách mạng giai phóng dân tộc cúa nhân dân ta đặt dưới sự lãnh đạo duy nhât cùa Đang Cộng san Việt Nam, một đang có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tó chức chật chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung, nguyện suốt đời hi sinh cho h tường cua Đang, cho độc lập của dãn tộc, cho tự do của nhân dan'11. Đàng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhay vọt mới trong lịch sử phát trién của dân tộc Việt Nam. ^ - A cu vai trò cua Nữuvẽn Ai Quốc đói VÓI quá Trình vận động chuân hì thành lập Đảng Cộng sán Việt Nam. - Việc thành lập D áng Cụng san Việt N am dâu năm ỉ 930 có V nghĩa lích sử như th ế nào C Ả I HỎI VA BẢI TẬP 1.

Trình bìiv hoàn canh lịch sử và dìcn biến cùa Hội nghị thành lạp Đang Cộng sán Việt Nam. Nèu nội dung cơ bán của Cương lĩnh chính trị đầu ticn cua Đáng Cộng san Việt Nam.1 (1) Theo báo cáo của N guvễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sàn ngày 18 - 2 - 1930, trong toàn Dàng lúc nàv có 310 đảng viên, còn các tổ chức quán chung có 3 584 hội viên. Xem : Hổ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Sđđ, tr. 89 C h ư ơ n g li VIỆT NAM Từ NAM 1930 ĐẾN NAM 1945 Bài 14 PHONG TRAO CÁCH MẠNG 1930 - 1935 Trong những nám 1929 1933, kinh tể Việt Nam phải gánh chịu nhữnq hậu quả nàng né của cuộc khủng hoảng kinh tẽ ở nước Pháp.

Đới sống cua các tầng lớp nhân dân gãp nhiều khó khăn. Trong thời gian này, thực dàn Pháp đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Yẽn Bái khiến cho tình hình xã hỏi vó cùng câng thẳng. Trong bối cảnh đó, Đáng Cộng sán Việt Nam đã kịp thời lãnh đao phong trào đấu tranh cách mang trong cả nước. Thưc dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, phong trào bi tổn thất nghiêm trọng.

Từ năm 1932 đến năm 1935, Đảng ta tiến hành cuộc đấu tranh để phục hồi tổ chức Đảng vá các cơ sở quấn chúng. I - VIỆT NAM TRONG NHƯNG NAM 1929 1933 1. T in h h ìn h k in h té Tữnảm 1930. kinh tẽ Việt Nam bước vào thời ki suy thoái, khung hoàng, bắt dâu từ nòng nghièp.

Lúa cạo bị sụt cui. ruộng đất bị bó hoang. Trong công nchiệp, sán lượng háu hết các ngành đéu suy dám. Xuilit nhập kháu dinh dốn.

hàng hoá khan hiẽm. Cuộc khủng hoàng kinh tè ớ Việt Nam rát nặng nề so với các thuộc địa khác cùa Pháp, cũng như so với các nước trong khu vực. T in h h ĩn h xa h ọ i Hậu quá lớn nhất mà cuòc khùng hoàng kinh tcgáv ra đỏi vói xã hội là làm trầm trọng thêm tinh trạng dói khổ của các tâng lớp nliAn dãn lao động. Nhiều công nhàn bị sa thài, sô người có việc làm thì đống lương ú ỏi.

nơi tập trung nhiều công nhân, có tòi 25 000 người bi sa thải, số người có việc làm thi đống lương bị cắt giảm từ 30% đến 50% Cuộc sõng của thơ thuyền ngày càng Khó khăn. Nông dân phải chịu cảnh thuế cao, vay nợ nặng lãi. nỏne phàm làm ra phái bán với giá thấp. Ruộng dítt bị dịa chú người Pháp và người Việt chiếm doạt.

Nỏng dân ngày càng bi bấn cùng hoá. Các táng iớp nhân dân lao dộng khác cũng không tránh khỏi tác dộng xấu cua khung hoang kinh tô. Thơ thủ công bi thất nghiệp, nhà buôn nhỏ phải đóng cửa hiệu, viên chức bỊ sa thải, sổ đông tư sán dân tộc gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh. Màu thuần xã hội ngày càng sãu sác.

trong đó có hai máu thuần cơ ban là mâu thuần giữa dân tộc Viội Nam vớ) thực dán Pháp và tnău thuần giừa nông dủn với dịa chủ phong kiến. Chính vi vậy, trong nhừng. năm cuối thập ki 20, phone tiào công nhan và phong trào yêu nước phát iriển mạnh mõ, lỏi cuốn dõng đảo các giai cấp, tầng lớp xã hôi tham gia. cuộc khơi nghĩa Yên Bái do ViỌt Nam Ụuỏc dãn dáng lãnh dạo dã thất bại.

Chính quvén thực dán tiến hành một chiến dịch khùng bố dã man những ncười yôu nước. Diếu dó càng làm lãng thêm những mâu thuẫn và tình trạng bất ổn trong xã hội. ĩf Hãy nêu thực trạng kinh tê - .xã hột Việt Nam trong những nám khùng hoàng kinh te th ế giới (¡929 - 19Ò. II - PHONG TRAO CACH MẠNG 1930-1931 VỜI ĐÍNH CAO x ô VìẼT NGHẸ - TỈNH 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ