Luận án Tiến sĩ Lịch sử: Thực hiện Chính sách ASXH tại Hải Phòng 2001-2015

Phân tích chi tiết quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội (ASXH) tại Hải Phòng từ năm 2001 đến 2015. Bài viết đánh giá hiệu quả và những thành tựu đạt

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

222
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách an sinh xã hội tại Hải Phòng

An sinh xã hội (ASXH) là hệ thống chính sách nhằm bảo vệ cuộc sống, đảm bảo phúc lợi cho mọi tầng lớp nhân dân. Tại thành phố Hải Phòng, quá trình thực hiện chính sách ASXH giai đoạn 2001-2015 được đặt trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, có vị trí chiến lược về kinh tế và quốc phòng. Thành phố sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu cận nhiệt đới, gió mùa ẩm, nguồn tài nguyên đất và nước phong phú. Mạng lưới sông ngòi dày đặc gồm sông Thái Bình, sông Văn Úc, sông Lạch Tray tạo nền tảng phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Đảng bộ và chính quyền thành phố đã ban hành nhiều chủ trương, chương trình hành động cụ thể để triển khai các chính sách ASXH của Trung ương. Các lĩnh vực trọng tâm bao gồm giải quyết việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và đảm bảo dịch vụ xã hội cơ bản. Kết quả đạt được góp phần ổn định đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

1.1. Khái niệm và trụ cột của chính sách an sinh xã hội

Chính sách ASXH bao gồm hệ thống các biện pháp, quy định pháp luật nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và cơ hội phát triển cho mọi công dân. Theo cách tiếp cận hiện đại, ASXH được xây dựng trên bốn trụ cột chính. Trụ cột thứ nhất là bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện. Trụ cột thứ hai là hệ thống trợ giúp xã hội dành cho đối tượng yếu thế. Trụ cột thứ ba là bảo hiểm y tế toàn dân. Trụ cột thứ tư là đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở. Cách tiếp cận đa trụ cột này vừa phù hợp với đặc điểm Việt Nam vừa phù hợp với xu thế quốc tế.

1.2. Đường lối của Đảng và chính sách pháp luật về an sinh xã hội

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi ASXH là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển đất nước. Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương đã khẳng định quan điểm xây dựng hệ thống ASXH toàn diện, đa tầng. Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Người khuyết tật và nhiều văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý vững chắc. Tại Hải Phòng, thành phố đã cụ thể hóa bằng các chương trình hành động, kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện địa phương. Hệ thống pháp luật này đảm bảo quyền lợi an sinh cho mọi tầng lớp nhân dân.

II. Phân tích thực trạng thực hiện ASXH tại Hải Phòng

Giai đoạn 2001-2010, Hải Phòng tập trung triển khai chính sách ASXH trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng nhưng còn nhiều bất cập. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị tuy giảm nhưng vẫn ở mức đáng kể. Hệ thống bảo hiểm xã hội mở rộng đối tượng tham gia nhưng tỷ lệ bao phủ còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực nông thôn và lao động phi chính thức. Công tác trợ giúp xã hội chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động hiệu quả nguồn lực xã hội. Giai đoạn 2011-2015, tình hình có chuyển biến tích cực hơn. Số người tham gia bảo hiểm tăng đáng kể. Hệ thống bảo hiểm y tế tiến gần mục tiêu bao phủ toàn dân. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ y tế cơ sở và giáo dục ở một số huyện còn thấp. Khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn trong tiếp cận dịch vụ ASXH vẫn là thách thức lớn cần giải quyết.

2.1. Kết quả đạt được trong giải quyết việc làm và bảo hiểm

Trong lĩnh vực giải quyết việc làm, Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Hàng năm thành phố tạo việc làm mới cho hàng chục nghìn lao động. Các chương trình đào tạo nghề được mở rộng, gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Về bảo hiểm xã hội, số người tham gia tăng trưởng liên tục qua các năm. Bảo hiểm y tế được triển khai mạnh mẽ, tỷ lệ tham gia tăng từ hơn sáu mươi phần trăm lên hơn chín mươi phần trăm dân số. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế phát huy hiệu quả rõ rệt.

2.2. Hạn chế trong trợ giúp xã hội và dịch vụ cơ bản

Bên cạnh kết quả đạt được, nhiều hạn chế vẫn tồn tại. Công tác trợ giúp xã hội còn mang tính cứu trợ, chưa chuyển sang mô hình phát triển bền vững. Nguồn lực đầu tư cho ASXH chưa tương xứng với nhu cầu thực tế. Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục ở tuyến cơ sở chưa đồng đều. Nhiều người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được tiếp cận đầy đủ các chế độ ASXH. Việc quản lý, giám sát thực hiện chính sách còn bất cập. Nhận thức của một bộ phận người dân về quyền lợi ASXH còn hạn chế.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện ASXH tại Hải Phòng

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH, Hải Phòng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật địa phương, ban hành cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc thù thành phố cảng. Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực tài chính, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng bên cạnh ngân sách nhà nước. Thứ ba, nâng cao năng lực hệ thống quản lý ASXH, tăng cường đào tạo cán bộ chuyên trách từ thành phố đến phường, xã. Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng, chi trả trợ cấp và giám sát thực hiện chính sách. Thứ năm, phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng, từ trợ giúp xã hội cơ bản đến bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện. Các giải pháp cần gắn liền với mục tiêu giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Sự phối hợp liên ngành và sự tham gia tích cực của người dân là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Hoàn thiện chính sách và tăng cường đầu tư nguồn lực

Hải Phòng cần rà soát, điều chỉnh các chính sách ASXH cho phù hợp với thực tiễn địa phương. Việc ban hành cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tự nguyện cho người lao động là cần thiết. Thành phố nên tăng tỷ lệ chi ngân sách cho ASXH, đặc biệt ở lĩnh vực y tế và giáo dục cơ sở. Huy động nguồn lực xã hội hóa thông qua hợp tác công tư, kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công tác ASXH cũng là ưu tiên quan trọng.

3.2. Ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản lý

Chuyển đổi số là giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý ASXH. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về đối tượng thụ hưởng giúp giảm trùng lập, sai sót trong chi trả. Hệ thống thông tin liên thông giữa các cơ quan quản lý tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ. Ứng dụng công nghệ trong giám sát, đánh giá giúp phát hiện kịp thời vướng mắc. Đào tạo kỹ năng số cho cán bộ cơ sở đảm bảo vận hành hiệu quả. Mô hình một cửa điện tử trong giải quyết chế độ ASXH cần được nhân rộng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn từ kinh nghiệm Hải Phòng

Quá trình thực hiện chính sách ASXH tại Hải Phòng giai đoạn 2001-2015 là minh chứng sinh động cho sự nỗ lực của Đảng bộ và chính quyền thành phố trong chăm lo đời sống nhân dân. Từ xuất phát điểm thấp, hệ thống ASXH đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, diện bao phủ bảo hiểm mở rộng, chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản được cải thiện. Kinh nghiệm của Hải Phòng cho thấy, sự lãnh đạo đồng bộ của các cấp ủy đảng, sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền và sự tham gia tích cực của nhân dân là yếu tố quyết định. Bài học quý giá là phải gắn phát triển kinh tế với đảm bảo ASXH, không hy sinh an sinh để đổi lấy tăng trưởng. Các mô hình hiệu quả của Hải Phòng có thể áp dụng cho các địa phương khác có điều kiện tương tự. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào xây dựng hệ thống ASXH đa tầng, bền vững, thích ứng với biến đổi kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai tại Hải Phòng

Bài học đầu tiên là sự nhất quán trong lãnh đạo, chỉ đạo từ thành phố đến cơ sở. Mọi chủ trương ASXH phải được cụ thể hóa bằng kế hoạch hành động rõ ràng, có phân công trách nhiệm và thời hạn cụ thể. Bài học thứ hai là tính toàn diện trong tiếp cận, không bỏ sót đối tượng. Hải Phòng đã xây dựng mạng lưới cộng tác viên ở thôn, tổ dân phố để nắm bắt kịp thời hoàn cảnh khó khăn. Bài học thứ ba là kết hợp hiệu quả giữa nguồn lực nhà nước và xã hội, tạo sự lan tỏa trong toàn cộng đồng.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển hệ thống an sinh xã hội

Từ kinh nghiệm Hải Phòng, các địa phương có thể rút ra nhiều bài học ứng dụng thực tiễn. Mô hình hỗ trợ đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp phù hợp với các thành phố công nghiệp. Cách tiếp cận đa tầng trong trợ giúp xã hội áp dụng được ở vùng nông thôn. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào mở rộng bảo hiểm tự nguyện, phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng hệ thống ASXH linh hoạt, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau là mục tiêu xuyên suốt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận án tiến sĩ lịch sử quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố hải phòng từ năm 2001 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 5 chương. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 Chương 3. Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2010 Chương 4.

Đẩy mạnh thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến năm 2015 Chương 5. Nhận xét quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài 1. Những công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài Ngày nay ASXH đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, là một tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

Do đó, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ASHX ở nước ngoài sẽ góp phần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vấn đề này. Cuốn “An sinh xã hội ở các nước đang phát triển” (Social security in Developing Countries) [150] của các tác giả Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills và Amartya Sen, năm 1991. Công trình nhấn mạnh đến sự cần thiết của hệ thống ASXH, cho rằng đó là một vấn đề mang tính phổ quát, là mong muốn của con người trong bất kỳ một xã hội nào, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Bởi vì, các nước đang phát triển tỷ lệ dân số và mức độ thiếu hụt các điều kiện sống nghiêm trọng hơn (so với các nước phát triển), mức độ phát triển thấp của các hệ thống an sinh xã hội, đối tượng hỗ trợ ít hoặc không phù hợp, sự thiếu hụt các nguồn lực và sự bất lực của người nghèo - những đối tượng dễ bị tổn thương bởi những tác động bất lợi của hoàn cảnh.

Từ đó, các tác giả đã đề cập đến sự cần thiết can thiệp của Nhà nước trong việc thực hiện ASXH. Điều đó được lý giải là do sự thất bại của thị trường, thị trường không thể tự điều tiết tốt các vấn đề của ASXH, mặt khác nhà nước với các công cụ quan trọng (pháp luật, chính sách) và các nguồn lực (tài chính) mới có thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của ASXH. Tuy nhiên, chỉ duy nhất Nhà nước thực hiện là “điều không khả thi và không nên như thế”, mà cần có sự chia sẻ từ gia đình, cộng đồng, công ty, nhóm tôn giáo,… có vai trò hỗ trợ và sự bổ sung cho nhà nước.Diamond và Peter R.Orszag, hai trong số các nhà kinh tế hàng đầu của Mỹ với cuốn “Tiết kiệm an sinh xã hội: Một cách tiếp cận 11 cân bằng” (Saving Social Security: A Balanced Approach), năm 2005 [156]. Thông qua công trình này, một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của ASXH ở nước Mỹ là tiết kiệm tài chính.

Tác giả và các cộng sự khẳng định tầm quan trọng của tiết kiệm, yếu tố giúp cho con người vượt qua được những biến cố, những cú sốc về việc bị mất thu nhập, giúp họ duy trì và đảm bảo được cuộc sống trước những biến cố đó. Và theo các tác giả, thì yếu tố quan trọng nhất là chính phủ phải tạo điều kiện cho họ có việc làm, có nguồn thu nhập ổn định thì mới có tiết kiệm. Đi liền với vấn đề đó, cần đa dạng hóa các hình thức tiết kiệm, các loại hình bảo hiểm, sự linh hoạt trọng các gói tài chính và đảm bảo sự chi trả đúng hạn của các tổ chức tài chính… điều đó, sẽ giúp cho vấn đề tiết kiệm được trở nên dễ dàng hơn, do đó, sẽ giảm được những gánh nặng cho ngân sánh khi có những biến cố xảy ra. Cuốn „Các chương trình an sinh xã hội và hưu trí trên toàn thế giới” (Social Security Programs and Retirement around the World) của nhóm tác giả Jonathan Gruber và David A Wise có các phần: Phần 1 “Ý nghĩa của cải cách tài chính” (Fiscal implications of reform), năm 2007 [153] và phần 2 “Mối quan hệ với việc làm của thanh niên” (The relationship to youth employment), năm 2010 [154].

Công trình tập hợp nhiều bài nghiên đến từ nhiều quốc gia khác nhau (chủ yếu các quốc gia phát triển như: Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Ý, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Mỹ…). Trong phần 1, các tác giả đã chỉ ra rằng, hệ thống tài chính của ASXH ở các nước này đang thực sự gặp khó khăn khi mức chi trả ngày một lớn dẫn đến mất cân bằng giữa thu và chi. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sự gia tăng người lao động nghỉ hưu và nhận những trợ cấp hợp pháp. Trong phần 2, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa việc nghỉ hưu với việc khéo dài thời gian lao động của cao tuổi; những tác động của cải cách an sinh xã hội với tỷ lệ làm việc của người lao động cao tuổi; mở rộng lực lượng lao động với chi phí an sinh xã hội….

Từ đó, cuốn sách đi đến bác bỏ giả thuyết: sử dụng lao động lớn 12 tuổi sẽ lấy mất việc làm của người trẻ và khẳng định đây là một biện pháp góp phần đảm bảo cho quỹ ASXH được duy trì. Cuốn “An sinh xã hội: Kinh tế và phát triển (Social Security, the Economy and development) của tác giả James Midgley, năm 2008 [151]. Thông qua phân tích về quá trình thực hiện ASXH của các nước như: Anh, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Na Uy, Singapore, Nam Phi và Hoa Kỳ… cuốn sách góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ASXH và phát triển kinh tế: An sinh xã hội góp phần tích cực vào phát triển kinh tế bằng cách thúc đẩy những khoản đầu tư xã hội. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế góp phần tăng cường phúc lợi xã hội.

Ngoài ra, tác giả James Midgley còn có cuốn (cộng tác với Mitsuhiko Hosaka) “Cơ sở an sinh xã hội ở châu Á: Hỗ trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và an sinh xã hội” (Basis of social security in Asia: mutual aid, micro-insurance and social security), năm 2012 [152]. Tác giả chỉ ra và chứng minh rằng, cơ sở của an sinh châu Á bao gồm ba yếu tố: Thứ nhất là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các tổ chức trong phạm vi quốc gia và thế giới; Thứ hai là mô hình bảo hiểm vi mô và việc phát huy hiệu quả của mô hình bảo hiểm này; Thứ ba là xây dựng chiến lược ASXH toàn diện đóng góp rõ rệt cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống. Cuốn “Sự bảo vệ: Một nguyên tắc chung của luật an sinh xã hội ở châu Âu” (Security: A General Princeple of Social Security Law in Europe) của nhóm tác giả Ulrich Becker, Danny Pieters, Friso Ross, Paul Schoukens, năm 2010 [157]. Các tác giả một mặt cho rằng, hệ thống an sinh xã hội đang trải qua sự thay đổi sâu sắc trên toàn châu Âu do các nguyên nhân từ thay đổi trong xã hội, trong thị trường lao động và các tác động của toàn cầu hóa.

Mặt khác, đã luận giải mối quan hệ giữa an sinh đối với quá trình lập pháp, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, xem đó là yếu tố hiệu quả nhất trong việc thực hiện các mục tiêu về ASXH. Bởi vì, luật pháp về ASXH không chỉ cung cấp thông tin cho 13 người dân mà nó còn là một công cụ pháp lý mang tính bắt buộc trong thực tế và vì xét cho cùng, “đó là yếu tố cốt lõi của quốc gia để bảo vệ các thành viên trong xã hội mà không thể dựa vào tôn giáo hay sự trợ giúp nhân đạo của các nhóm xã hội”. Cuốn “An sinh xã hội, chăm sóc y tế và nhà ở xã hội” (Social Security, Medicare & Government Pensions), của Joseph Matthews Attorney, Dorothy Matthews Berman, năm 2013 [155] đã làm rõ các vấn đề: ASXH, chăm sóc y tế, nhà ở xã hội. Từ việc phân tích những lợi ích của hệ thống BHYT, cách thức để đảm bảo BHYT tốt nhất và nhà ở xã hội, tác giả đi đến khẳng định: Chăm sóc y tế và đảm bảo nhà ở xã hội là yếu tố quan trọng, cốt lõi của chính sách ASXH.

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu trong nước đã tìm hiểu hệ thống ASXH ở nước ngoài và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả Đinh Công Tuấn với một loạt các công trình chuyên nghiên cứu về an sinh xã hội của các nước Châu Âu như: “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2008) [127]; “An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2013) [128]; “Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2013) [129]. Thông qua các công trình trình trên, tác giả đã cung cấp những vấn đề mang tính tổng quan về hệ thống an sinh xã hội của các nước thuộc khối EU. Trong đó có đi sâu tìm hiểu mô hình hệ thống an sinh xã hội của một số quốc gia điển hình như Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Đức.

Tác giả đã làm rõ sự tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống an sinh xã hội và sự điều chỉnh trong thực hiện chính sách an sinh xã hội của các quốc gia này. Từ những những thành công, hạn chế, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: Thứ nhất, bài học về việc lựa chọn các mục tiêu giải quyết ASXH 14 trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Cụ thể là thực hiện các chương trình về cứu trợ xã hội nhằm đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xã hội như người già, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo, người có thu nhập thấp. Thứ hai, bài học về cơ chế đóng góp tài chính và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hệ thống an sinh xã hội.

Trong đó, sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động là yếu tố chính đảm bảo cho quỹ ASXH được an toàn và ổn định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ