Luận án Tiến sĩ Đặng Thị Huế: Phong trào yêu nước chống Pháp Nam Kỳ (1885-1918)

Nghiên cứu sâu sắc về phong trào yêu nước chống Pháp tại Nam Kỳ từ năm 1885 đến 1918. Phân tích bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa lịch sử của các cuộc kháng chiến.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

214
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ 1885 1918

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1885-1918 là một chương quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Giai đoạn này bắt đầu từ sau Hiệp ước Patenôtre năm 1884, khi triều đình Huế ký hòa ước với Pháp, chấm dứt triều Nguyễn cai trị trên danh nghĩa. Nam Kỳ trở thành thuộc địa hoàn toàn. Phong trào phát triển qua hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn 1885-1896, phong trào mang tính chất phong kiến yêu nước với các cuộc khởi nghĩa vũ trang. Giai đoạn 1897-1918, phong trào chuyển sang hướng mới với ảnh hưởng tư tưởng tư sản. Các phong trào tiêu biểu bao gồm khởi nghĩa Phan Văn Hớn, Ngô Lợi, Đào Công Bửu, phong trào Đông Du, Minh Tân và Hội kín. Nhân dân Nam Kỳ từ sĩ phu, nông dân đến thương nhân đều tham gia chống Pháp. Truyền thống yêu nước của vùng đất phương Nam là động lực quan trọng. Thực dân Pháp đã đàn áp khốc liệt nhưng không thể dập tắt ý chí đấu tranh.

1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành phong trào

Nam Kỳ là vùng đất phía Nam Việt Nam, được khai phá từ thế kỷ XVII. Vùng đất này có truyền thống yêu nước sâu sắc, thể hiện qua các phong trào chống ngoại xâm từ thời chống Chân Lạp, Xiêm. Năm 1859, Pháp tấn công Gia Định, bắt đầu quá trình xâm lược. Đến năm 1867, Pháp chiếm toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ. Hiệp ước Patenôtre năm 1884 đặt Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa hoàn toàn. Triều đình Huế mất quyền quản lý. Thực dân Pháp áp đặt hệ thống cai trị mới, bóc lột kinh tế nặng nề. Đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Đây là nguyên nhân sâu xa làm bùng phát phong trào chống Pháp.

1.2. Đặc điểm chung của phong trào giai đoạn 1885 1918

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1885-1918 có nhiều đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, phong trào liên tục diễn ra, không có thời kỳ gián đoạn dài. Thứ hai, thành phần tham gia đa dạng, từ sĩ phu nho học, nông dân đến thương nhân, binh lính. Thứ ba, phương thức đấu tranh phong phú, từ khởi nghĩa vũ trang đến vận động chính trị, tuyên truyền văn hóa. Thứ tư, phong trào chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống yêu nước của vùng đất Nam Bộ. Thứ năm, từ năm 1897 trở đi, phong trào tiếp nhận tư tưởng mới từ Nhật Bản, Trung Quốc. Dù bị đàn áp, phong trào để lại bài học quý giá cho cách mạng sau này.

II. Phân tích hai giai đoạn phát triển của phong trào chống Pháp

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ trải qua hai giai đoạn phát triển rõ rệt. Giai đoạn thứ nhất từ 1885 đến 1896, phong trào mang tính chất phong kiến yêu nước. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra liên tục ngay sau khi triều đình Huế đầu hàng. Tiêu biểu là khởi nghĩa Phan Văn Hớn năm 1885 tại Gia Định. Khởi nghĩa Ngô Lợi kéo dài từ 1885 đến 1890 ở vùng Tây Ninh, Bình Dương. Cuộc vận động Đào Công Bửu từ 1885 đến 1894 cũng thu hút đông đảo nhân dân. Giai đoạn thứ hai từ 1897 đến 1918, phong trào chuyển sang hướng mới. Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đưa thanh niên sang Nhật học. Cuộc vận động Minh Tân xây dựng tổ chức cách mạng. Phong trào Hội kín tập hợp lực lượng quần chúng. Tư tưởng tư sản bắt đầu ảnh hưởng đến phong trào.

2.1. Giai đoạn phong kiến yêu nước 1885 1896

Giai đoạn 1885-1896 là thời kỳ phong trào chống Pháp mang đậm tính chất phong kiến yêu nước. Sau Hiệp ước Patenôtre, nhiều quan lại và sĩ phu không chịu quy phục. Họ phát động khởi nghĩa vũ trang với mục tiêu khôi phục triều Nguyễn. Khởi nghĩa Phan Văn Hớn năm 1885 tại Gia Định là tiếng súng đầu tiên. Ngô Lợi xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng rừng núi Tây Ninh, thu hút hàng ngàn nghĩa quân. Đào Công Bửu tổ chức lực lượng ở vùng Gia Định, Chợ Lớn. Các cuộc khởi nghĩa này có điểm chung là lấy danh nghĩa phò vua, cứu nước. Tuy nhiên, do thiếu tổ chức thống nhất và vũ khí thô sơ, các cuộc khởi nghĩa lần lượt bị Pháp đàn áp.

2.2. Giai đoạn chuyển biến mới 1897 1918

Từ năm 1897, phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ bước sang giai đoạn mới. Sự thất bại của phong trào Cần Vương và khởi nghĩa vũ trang khiến nhiều sĩ phu nhận ra cần tìm con đường khác. Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du, đưa thanh niên sang Nhật Bản du học. Ở Nam Kỳ, phong trào này thu hút sự tham gia nhiệt tình. Cuộc vận động Minh Tân xây dựng tổ chức cách mạng có kỷ luật. Phong trào Hội kín tập hợp đông đảo nông dân, binh lính. Tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu thay thế tư tưởng phong kiến. Tuy nhiên, thực dân Pháp đã nhanh chóng đàn áp các phong trào này, bắt bớ, đày ải nhiều nhà yêu nước.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố đầu tiên là truyền thống yêu nước của vùng đất Nam Bộ. Từ khi khai phá, nhân dân Nam Kỳ đã có tinh thần chống ngoại xâm mãnh liệt. Yếu tố thứ hai là chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp. Pháp áp đặt thuế nặng, cướp đất đai, bóc lột sức lao động. Đời sống nhân dân cực khổ, phẫn uất dâng cao. Yếu tố thứ ba là ảnh hưởng tư tưởng từ bên ngoài. Chiến thắng của Nhật Bản trước Nga năm 1905 tạo làn sóng cách mạng châu Á. Trung Quốc có phong trào cách mạng dân chủ. Các tư tưởng mới du nhập vào Nam Kỳ, thúc đẩy phong trào phát triển theo hướng tiến bộ hơn. Yếu tố thứ tư là vai trò của các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thần Kim.

3.1. Truyền thống yêu nước và điều kiện kinh tế xã hội

3.2. Ảnh hưởng tư tưởng mới từ Nhật Bản và Trung Quốc

Đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng mới. Chiến thắng của Nhật Bản trước Nga năm 1905 chứng minh người châu Á có thể đánh bại châu Âu. Điều này khích lệ lớn lao cho phong trào cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu chủ trương đưa thanh niên sang Nhật học, gọi là phong trào Đông Du. Ở Trung Quốc, phong trào cách mạng dân chủ phát triển mạnh. Tôn Trung Sơn thành lập đồng minh hội, lật đổ nhà Thanh năm 1911. Các tổ chức cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc được thành lập. Tư tưởng dân chủ, cộng hòa thay thế tư tưởng phong kiến. Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ tiếp nhận ảnh hưởng này, xây dựng tổ chức theo mô hình cách mạng mới.

IV. Ý nghĩa lịch sử và bài học từ phong trào chống Pháp 1885 1918

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1885-1918 có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, phong trào thể hiện tinh thần bất khuất, không chịu khuất phục ngoại xâm của nhân dân Nam Kỳ. Dù bị đàn áp khốc liệt, phong trào liên tục nổ ra, không bao giờ bị dập tắt hoàn toàn. Thứ hai, phong trào là trường học cách mạng, đào tạo nhiều nhà yêu nước tiêu biểu. Nhiều người sau này trở thành lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Thứ ba, phong trào để lại bài học quý giá về đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng. Bài học về phương thức đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn. Bài học về vai trò của tổ chức cách mạng. Thứ tư, phong trào đặt nền móng cho phong trào cách mạng giai đoạn sau năm 1918, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

4.1. Ý nghĩa lịch sử của phong trào đối với cách mạng Việt Nam

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ 1885-1918 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng. Phong trào chứng minh truyền thống yêu nước bất diệt của dân tộc Việt Nam. Dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, nhân dân vẫn đứng lên chống ngoại xâm. Phong trào là cầu nối giữa phong trào Cần Vương thế kỷ XIX và phong trào cách mạng thế kỷ XX. Nhiều nhà yêu nước từ phong trào này tiếp tục hoạt động trong giai đoạn sau. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là những đại diện tiêu biểu. Phong trào cũng chứng minh sự cần thiết phải có tổ chức cách mạng thống nhất. Sự thất bại của các phong trào riêng lẻ dẫn đến việc tìm kiếm con đường mới, tổ chức mới.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc

Phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ 1885-1918 để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Bài học thứ nhất là vai trò của truyền thống yêu nước. Tinh thần dân tộc là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy nhân dân đứng lên chống ngoại xâm. Bài học thứ hai là cần đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân. Phong trào thu hút từ sĩ phu, nông dân đến thương nhân, binh lính. Bài học thứ ba là phải có tổ chức cách mạng chặt chẽ. Các phong trào thiếu tổ chức đều thất bại nhanh chóng. Bài học thứ tư là phải biết tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài. Phong trào Đông Du, Minh Tân thành công nhờ áp dụng mô hình mới. Bài học thứ năm là kiên trì đấu tranh, không sợ hy sinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận án tiến sĩ lịch sử phong trào yêu nước chống pháp ở nam kỳ giai đoạn 1885 1918

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, sách gồm có ba phần: Phần I: Vai trò của ma thuật trong những Hội kín An Nam, phần II: Vai trò của tôn giáo trong những Hội kín, phần III: Vai trò của các phàm nhân trong những Hội kín. Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến các phong trào Hội kín cùng các thủ lĩnh tiêu biểu của Hội kín, đặc biệt nhấn mạnh tính duy tâm của Hội kín, để từ đó rút ra nhận xét, đặc điểm, bản chất Hội kín. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo cho tác giả luận án. Tác giả Philippe Devillers năm 1966 cho ra cuốn “Au Sud Vietnam …il y a cent ans” (Một trăm năm ở miền Nam Việt Nam) [209].

Đây là công trình nghiên cứu khá chi tiết về quá trình thực dân Pháp đến xâm lược Việt Nam, đồng thời tác giả cũng nhắc đến các phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ. Trên cơ sở đó, giúp tác giả luận án giải quyết một số nhiệm vụ đặt ra trong đề tài. Giáo sư người Pháp Georges Boudarel, người đã dành cả tuổi trẻ của mình để ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. 8 Ông nghiên cứu nhiều về Phan Bội Châu, năm 1969ông cho ra mắt cuốn “Phan Bội Châu et la société Vietnamienne de son temps” (Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông) [41].

Công trình đã được Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Cuốn sách nghiên cứu khá rõ về hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu, so sánh về con đường cứu nước của Phan Bội Châu với Phan Chu Trinh, về phong trào Đông Du ở Nam Kỳ dưới dạng khái quát. Đây là nguồn tài liệu có giá trị lớn để tác giả luận án tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Sử gia người Mỹ David George Marr với công trình nghiên cứu “Vietnamese Anticolonialism 1885-1925” (Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân 1885-1925) do University of California xuất bản năm 1971 [191] đã có cái nhìn khái quát, nghiên cứu những tác động của cuộc khai thác thuộc địa đến xã hội Việt Nam, qua đó tác giả đề cập đến một số phong trào yêu nước chống thực dân Pháp tiêu biểu của nhân dân Việt Nam.

Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về phạm vi phong trào, thành phần tham gia khởi nghĩa…nhưng tác giả DavidGeorge Marr lại chưa đi sâu nghiên cứu về phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ, thậm chí tác giả chỉ nhắc đến một cách khái quátso với nhiều địa phương khác trong cả nước như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Với độ dày 313 trang, công trình “The Rise of Nationalism in Vietnam, 1900-1941” (Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, 1900-1941) của tác giả William J.Duiker, Cornell University Press, (1976) [194], đã đi sâu nghiên cứu về các thế hệ người Việt Nam yêu nước được ảnh hưởng bởi yếu tố Nho học như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…qua đó, tác giả đưa ra những nhận xét của mình về đề tài nghiên cứu. Mặc dù, những nhận xét đó đã được nhiều nhà nghiên cứu trước đưa ra nhưng đây vẫn là tài liệu có giá trị để tác giả tham khảo khi giải quyết một số vấn đề trong luận án. 9 Năm 2000, Nguyễn Như Diệm và Trần Sơn đã dịch và cho ra mắt độc giả cuốn “Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và Châu Á” [149].

Đây là công trình nghiên cứu của tác giả người Nhật Bản Shiraishi Masaya. Tác giả Shiraishi Masaya đã nghiên cứu một cách chuyên sâu, khoa học về các phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam, đặc biệt công trình đã đi sâu nghiên cứu về phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, nhất là khi Phan Bội Châu hoạt động ở Nhật Bản như tìm hiểu chủ trương, đường lối, các hoạt động… của Phan Bội Châu. Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu về phong trào Đông Du diễn ra ở Nam Kỳ. Tại Hội thảo quốc tế về Phong trào Duy Tân ở Việt Nam, được tổ chức tại Thành phố Aix en Provence (Pháp) ngày 3.2007 với chủ đề chính “Vietnam, le moment moderniste (1905-1908)” (Việt Nam, thời điểm Duy tân (1905-1908)) [81],phụ đề là “La réactivité d’une société face à I’intrusion d’une modernité exogène” (Phản ứng của một xã hội đối mặt với sự thâm nhập của xu hướng hiện đại ngoại sinh), đã có nhiều tác giả viết về Phong trào Duy Tân cùng các nhân vật tiêu biểu của phong trào như: Nhà sử học người Pháp Pierre Brocheux với tham luận “Gilbert Chiếu”, tham luận “Phong trào Đông Du và Nhật Bản” của tác giả Namba Chizuru (Đại học Tokyo), tham luận “Phan Bội Châu: một cánh tay chìa ra cho những người Gia tô giáo” của tác giả Ives Jariel.Đây là những tham luận có giá trị, giúp tác giảluận án có thêm cứ liệu để thực hiện đề tài.

Nghiên cứu của tác giả Việt Nam 1. Nghiên cứu liên quan đến phong trào yêu nước ở ViệtNam *Nhóm nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động tới phong trào Cuốn “Việt Nam thời Pháp đô hộ” của tác giả Nguyễn Thế Anh, xuất bản năm 1970 [5] gồm 3 phần: Sự chiếm cứ quân sự;Chế độ thuộc địa;Phản ứng của dân Việt Nam đối với chế độ thuộc địa. Trên cơ sở nghiên cứu nguồn 10 tài liệu gốc khá đa dạng của chính quyền thực dân Pháp, tác giả Nguyễn Thế Anh đã phân tích, lý giải một cách sâu sắc quá trình thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến các phong trào chống Pháp tiêu biểu như phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân.

Đây là cuốn sách đã cung cấp thêm những cứ liệu quan trọng, đặc biệt là chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp, giúp tác giả luận án đánh giá khách quan, chính xác về một trong những nhân tố tác động đến phong trào chống Pháp ở Việt Nam. Tác giả Chương Thâu với bài viết: “Chính sách của thực dân Pháp đối với ảnh hưởng của Tân Thư ở Việt Nam” (NCLS, số 1 năm 1997, tr.7) [163] đã nêu ra những biện pháp của chính quyền thực dân Pháp để hạn chế sự ảnh hưởng tích cực của Tân Thư vào Đông Dương, qua đó giúp tác giả luận án tìm hiểu thêm chính sách của thực dân đối với ảnh hưởng của Tân Thư cũng như những ảnh hưởng tích cực mà Tân Thư đã tác động đến các nhà yêu nước Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Trong bài: “Nhìn lại tình hình xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX” (NCLS, số 3 năm 1998, tr.29)[143], tác giả Trương Hữu Quýnh đã đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, qua đó giúp tác giả luận án có đánh giá khoa học hơn về một trong những nguyên nhân của phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam. Nghiên cứu “Tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” của tác giả Nguyễn Ngọc Cơ, in trong “Một số chuyên đề lịch sử Việt nam” do Trần Bá Đệ chủ biên, xuất bản năm 2002 [22], đã phân tích các yếu tố hình thành nên phong trào Duy Tân ở Việt Nam theo khuynh hướng dân chủ tư sản trong những năm đầu thế kỷ XX.

Đó làảnh hưởng từ cuộc vận động Duy Tân của Nhật Bản, Trung Quốc, sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX theo khuynh hướng phong kiến, những chuyển 11 biến về kinh tếxã hội ở Việt Nam dưới tác động từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Đây chính là những nhân tố quan trọng, tác động đến tư tưởng của các sĩ phu yêu nước Việt Namnhư Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.Bài nghiên cứu đã giúp tác giả luận án có những đánh giá khách quan, khoa học về các yếu tố tác động đến phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XX. Cuốn “Lịch sử Việt Nam” (tập 6: từ năm 1858 đến năm 1896),do tác giả Võ Kim Cương chủ biên, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2013 [25]. Cuốn sách đã giúp tác giả luận án tìm hiểu về các phong trào chống Pháp ở Việt Nam trước năm 1885, trong đó có đề cập đến phong trào chống Pháp trước năm 1885 ở Nam Kỳ.

Đặc biệt trong chương V, cuốn sách đã giúp tác giả tìm hiểu về chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kỳ và Việt Nam về kinh tế, chính trị, tư pháp, các đơn vị hành chính cùng những chuyển biến chính trị, kinh tế xã hội nửa cuối thế kỷ XIX ở Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây chính là nguyên nhân sâu xa nhất của phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, cuốn sách còn giúp tác giả nghiên cứu các phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam từ năm 1885 đến năm 1896, đặc biệt là phong trào Cần Vương. Cuốn “Lịch sử Việt Nam” (tập 7: từ năm 1897 đến năm 1918) do tác giả Tạ Thị Thúy chủ biên, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2013 [170].

Cuốn sách đã đề cập đến chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, những biến đổi của tình hình kinh tế văn hóa xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đây chính là cơ sởgiúp tác giả luận án phân tích, lý giải một cách khoa học về nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn đề cập đến các phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX. 12 “Tình hình thiên tai ở Việt Nam giai đoạn 1802-1883 và chính sách cứu trợ xã hội của triều Nguyễn” của tác giả Lê Quang Chắn (NCLS, số 8 năm 2017, tr.14) [14] đã giúp tác giả tìm hiểu về một trong những nguyên nhân quan trọng của phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ