Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 1. Sự hình thành của Tòa án Trong cuốn “Lịch sử văn minh nhân loại”, nhà sử học Hoa Kỳ Will Durant đã khái quát và luận giải sự ra đời, vai trò và ý nghĩa của thiết chế bảo vệ công lý - Tòa án. Theo đó, trong giai đoạn xã hội sơ khai, công lý được thể hiện khá rõ nét thông qua cơ chế trả thù cá nhân, bằng luật báo thù, dĩ oán báo oán, với công thức ngang bằng “răng đền răng, mắt đền mắt”.
Giai đoạn thứ hai của sự phát triển này là thay sự báo thù bằng hình thức bồi thường, phạt vạ, nhằm giữ yên ổn, hoà hảo trong nội bộ các bộ tộc, bộ lạc. Đến giai đoạn thứ ba, để ngăn chặn các cuộc trả thù cá nhân, duy trì hòa bình, trật tự, ổn định của toàn xã hội, thiết chế toà án đã được thành lập để thẩm định, đánh giá mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình cho các xung đột giữa các cá nhân trong xã hội. Công lý và tư pháp xét xử đã vững bước song hành từ những bước phát triển của lịch sử như vậy. Đến đầu thế kỷ thứ VI TCN, quan chấp chính Xôlông đã tiến hành một loạt các cải cách dân chủ của nhà nước Athen, trong đó có việc lập ra Tòa án nhân dân và tuyên bố mọi công dân đều có quyền chống án và bào chữa cho mình.
Trong giai đoạn đầu, tuy hệ thống xã hội và các tư tưởng đạo đức thời cổ đại còn có những điểm khiếm khuyết, chưa hoàn thiện nhưng việc thực hành xét xử theo kiểu tòa án dicastery, ở nhiều khía cạnh, được coi là một hình mẫu khá lý tưởng.Người thua kiện được trình bày trước tòa án, bị cáo có thể mượn luật sư cãi thay và bản án được biểu quyết, quyết định theo đa số. Người ta lập luận rằng, số đông các thẩm phán sẽ đảm bảo họ không bị hăm dọa và sẽ làm cho việc hối lộ trở lên khó khăn, do đó, đây là mô hình lý tưởng để công lý có thể đến được với người dân. 11 Cũng trong giai đoạn này, nhiều nguyên tắc xét xử ban đầu, sơ khai để bảo đảm công lý đã được đưa ra và còn được duy trì, tồn tại cho đến ngày nay như: “Mọi người, như một quy luật, đều là những quan tòa không ngay thẳng khi phán đoán những gì có liên quan đến quyền lợi riêng tư của mình”. Ngày nay, nguyên tắc này đã tiếp tục được duy trì và sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong hệ thống luật án lệ, đảm bảo những tiêu chuẩn tối thiểu cho một quyết định công bằng, hợp đạo lý.
Theo nguyên tắc này, người có thẩm quyền giải quyết vụ việc không được có những lợi ích về tài sản, tiền bạc hoặc nhân thân có thể ảnh hưởng đến kết quả tranh tụng, người đó cần phải thể hiện được hoặc chứng minh được sự công tâm, khách quan và chính trực của mình khi tham gia giải quyết vụ việc. Trong giai đoạn đầu, thủ tục tố tụng còn mang tính chất tư tố. Theo đó, quyền triệu tập một cá nhân ra tòa, quyền buộc tội thuộc về tất cả mọi người. Đối với quan hệ hình sự mang tính chất tư tố, người bị hại đồng thời cũng là người truy tố, buộc tội.
Nếu người bị hại đã chết, quyền truy tố thuộc về thân nhân người chết và cộng đồng. Bước sang giai đoạn đầu của xã hội phong kiến, các phiên tòa xét xử được tổ chức dưới dạng đại hội công dân nhưng nó bắt đầu được chủ trì bởi các quan lại hoặc chính Nhà vua, qua đó từng bước chuyển từ chế độ xét xử công cộng sang xét xử Nhà nước. Trong các nhà nước sơ khai cũng như các nhà nước phong kiến sau này, mặc dù bộ máy tư pháp có quy mô khác nhau, thậm chí có những giai đoạn là khá đồ sộ để thực hiện nhiệm vụ đàn áp nhưng đều có chung một đặc trưng nổi bật là thẩm quyền của tư pháp chưa tách rời thẩm quyền hành chính, ranh giới giải quyết hành chính và quyền tư pháp là rất mờ nhạt. Tập quyền chuyên chế phong kiến là nơi thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vào cá nhân hoàng đế với sự hỗ trợ đắc lực của niềm tin tôn giáo rằng quyền hành của hoàng đế là “thiên mệnh”.
Có thể nói, trong lịch sử văn minh nhân loại, nhà nước đã được hình thành từ rất sớm, cách đây khoảng hơn 5. Tuy nhiên, bộ máy nhà nước được 12 phân quyền với cơ quan đảm nhận nhiệm vụ tư pháp xét xử mới chỉ được thiết lập cách đây gần 300 năm, kể từ khi nổ ra các cuộc cách mạng tư sản với những học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc. Trước đó, phong trào Văn hóa Phục hưng của giai cấp tư sản với những nội dung tư sản mang tính chất tiến bộ, coi con người là trung tâm và đề cao giá trị con người, tự do cá nhân đã tạo ra những tiền đề tư tưởng vững chắc giải phóng con người về mặt ý thức và thân phận thoát khỏi sự kiềm chế của chế độ độc đoán, tạo tiền đề vững chắc cho sự thành công của các cuộc cách mạng tư sản Anh, Mỹ, Pháp sau này. Thế kỷ thứ 18, học thuyết phân quyền của Montesquieu ra đời với tên gọi “tam quyền phân lập” (Seperation of powers) và trở thành “hòn đá tảng” trong lý luận tổ chức quyền lực nhà nước tư sản, theo đó, quyền lực nhà nước được phân công và tổ chức thành ba nhánh: Lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Quyền lập pháp là quyền làm luật, sửa đổi hay hủy bỏ luật. Quyền hành pháp là quyền quyết định và thực thi những vấn đề đối ngoại, chiến tranh, quốc phòng, an ninh, kinh tế. Quyền tư pháp là quyền trừng trị tội phạm và phân xử tranh chấp. Để bảo đảm các quyền tự do thì quyền xét xử phải được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp.
Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền lập pháp thì sẽ không có tự do. Nếu quyền xét xử được nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức. Tiếp thu những tinh hoa của nền dân chủ Athen, Montesquieu cho rằng không nên có các cơ quan tư pháp và các quan chức tư pháp thường xuyên, cố định như ngành lập pháp và hành pháp mà nên do đoàn thể cử ra, trong một thời hạn nhất định. Người xét xử cũng ở địa vị đồng đẳng với bị cáo, để bị cáo không có cảm giác đang trong tay những kẻ sẵn sàng hại mình.
Trên cơ sở học thuyết tam quyền phân lập, các nhà lập hiến Hoa Kỳ cho rằng việc thiết lập công lý phải được giao cho một cơ quan có tính ổn định, lâu dài và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các yếu tố chính trị thoáng qua, nhất 13 thời như các cơ quan được hình thành trên cơ sở bầu cử, đó chính là hệ thống các cơ quan xét xử - Tòa án. Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước Nhà nước là quản lý xã hội, biến ý chí của giai cấp thống trị thành pháp luật và dùng các công cụ, biện pháp quyền lực để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Nhà nước quản lý thông qua ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích của các chủ thể pháp luật.
Như vậy, nói đến tư pháp là nói đến việc xét xử theo pháp luật và quyền tư pháp do hệ thống Tòa án độc lập thực hiện với chức năng đặc trưng là xét xử, là một phương thức thực thi quyền lực nhà nước. Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện việc xét xử, bảo vệ công lý; hiệu lực, hiệu quả xét xử của Tòa án là thước đo tính dân chủ, công bằng và lòng tin của nhân dân. Bản chất hoạt động xét xử của Tòa án là áp dụng pháp luật và thông qua đó Tòa án chuyển tải, thể hiện quyền lực nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị vào đời sống xã hội. Vì vậy, nếu Tòa án hoạt động không minh bạch, không khách quan thì công lý không được bảo vệ, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm.
Đồng thời, thông qua hoạt động xét xử, các quy định pháp luật còn được chuyển tải đến các đối tượng khác trong xã hội, giúp họ nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Bàn về vấn đề này, V. Lê Nin đã viết: “Tòa án cần phải đảm đương một nhiệm vụ khác còn quan trọng hơn nữa, đó là nhiệm vụ bảo đảm cho người lao động chấp hành một cách nghiêm chỉnh nhất kỷ luật và kỷ luật tự giác”.[38] Như vậy, xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án. Khi đảm nhận chức năng xét xử, Tòa án có vai trò, vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước.
Hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước để xem 14 xét, đánh giá và phán quyết về tính đúng đắn của hành vi theo pháp luật hay tính công bằng trong các tranh chấp giữa các bên liên quan. Đặc trưng cơ bản của hoạt động xét xử là Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước và sự nhân danh quyền lực nhà nước đã làm cho các bản án, quyết định do Tòa án ban hành được bảo đảm thực thi bởi Nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Tuy nhiên, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội, kiểu Nhà nước với chế độ chính trị khác nhau, bộ máy nhà nước được tổ chức khác nhau, trong đó Tòa án có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng khác nhau. Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp và đều do giai cấp thống trị (giai cấp chủ nô và giai cấp phong kiến) nắm giữ và sử dụng thông qua người đại diện là nhà vua.