Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYEN TAC TRANH TUNG TRONG XET XU DUOC BAO DAM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm 1. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đâm Để giải quyết, xét xử một vụ án hình sự trải qua rất nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng hoạt động Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm và tranh tụng là đột phá. Thực hiện nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm trong xét xử vụ án hình sự là thủ tục quan trọng, khi tranh tụng mọi vấn dé của vụ án được đưa ra xem xét công khai.
Hoạt động tranh tụng được bảo đảm sẽ làm sáng tỏ nội dung vụ án, từ đó tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong các thời kỳ xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay, thì chưa có van bản pháp luật nào nêu khái nệm về tranh tụng, vì vay nguyên tắc tranh tung trong xét xử được bảo dam hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau. Theo cách hiểu chung nhất “Nguyên tắc”' là hệ thống các quan điểm, tu tưởng cơ bản xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân nhất định phải tuân theo. Nguyên tắc trong khoa học pháp lý hình sự được các nhà lập pháp hiểu là những tư tưởng chỉ đạo và các định hướng đường lối, chính sách hình sự, kim chỉ nam cho toàn bộ quá trình quy định cấu thành tội phạm và hình phạt, áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.
1 Nguyễn Lân (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB Hội nha văn Việt Nam, Tr292 Tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial”” có nghĩa là đối kháng, đương đầu, mà co quan đứng ra phán xét trong cuộc đối kháng này chính là Tòa an. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Bao đảm” là tạo điều kiện can thiết để thực hiện được những nguyên tắc, làm cho những nguyên tắc theo quy định chắc chắn được thực hiện. “Tranh tung” là sự kiện cáo nhau, đối kháng nhau. Trong pháp luật tố tụng tranh tụng là sự tranh luận giữa hai bên có quan điểm đối lập, đưa ra các ý kiến, luận điểm dé bảo vệ quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm của bên đối lập trong các vụ án như dân sự, hình sự, hành chính.
Có thé hiểu: “Tranh tụng 1a việc từng bên đưa ra các quan điểm của minh va tranh luận lại dé bác bỏ một phan hay toan bộ quan điểm của phía bên kia”. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là tạo điều kiện thuận lợi nhất dé người bị buộc tội, người bảo chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyên bình ding trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu dé làm rõ sự thật khách quan của vụ án và được quyên trình bay ly lẽ, luận điểm của mình tại phiên tòa mà không bị giới hạn về mặt thời gian. Đây là một nguyên tắc chủ đạo của luật tố tụng hình sự, được các nước trên thế giới thừa nhận và quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt là các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng, làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy định của BLTTHS cũng như thực hiện quá trình giải quyết vụ án để xác định sự thật khách quan mà hoạt động tố tụng hình sự muốn hướng tới. Theo nhiễu luật gia, tranh tung là nguyên tắc co bản của pháp luật tố tụng, tổn tại khách quan va là giải pháp tốt nhấp nhất giúp tìm ra sự thật khách quan của vụ án và không dé lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phan báo vệ công lý, bảo vệ quyển con người, quyển công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp ? Từ điển Anh- Việt (2010), NXB Hồng Đức.
pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, dau tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kiện thì thủ tục tranh tụng là thủ tục tố tụng bắt buộc, công khai, bình đẳng: trọng tâm là thủ tục xét hỏi và tranh luận, với sự tham gia của các bên buộc tội và bào chữa, bi cáo và người tham gia tố tụng khác, dưới sự điều khiển, dan đắt của chủ tọa phiên tòa, các bên đưa ra quan điểm, lập luận và đối đáp lẫn nhau nhằm bảo vệ quyển và lợi ích của mình, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Theo tác giả Trần Văn Độ, tranh tụng trong tố tụng hình sự diễn ra giữa bên buộc tội và bên bảo chữa, chủ yếu là giữa công tố và người bào chữa của bị cáo'Ế. Tác giả đã nêu rõ chủ thé tiến hành tranh tụng chủ yếu là chủ thể buộc tội và chủ thể bào chữa bởi thực chất của quá trình giải quyết vụ án là để làm rõ các căn cứ xác định có tội (Buộc tội) và các căn cứ xác định ho vô tội (Gỡ tội), đảm bảo không chủ thé nao bị kết án oan, việc xét xử là đúng người, đúng tội.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử cụ thể như sau: Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử là việc các nhà lập pháp tạo ra các cơ chế, diéu kiện thuận lợi dé các bên tham gia to tung giao nộp, tiếp cận các tài liệu, chứng cứ có trong hỗ sơ vụ án, được quyên trình bày y kiến, đưa ra luận điểm phản bác và tranh luận với bên đối lập dé bảo vệ quyên lợi ích hợp pháp của minh, của cơ quan, tô chức, thông qua việc tranh luận có thê giúp tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Đặc điểm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đâm Trong quá trình xây dựng các quy định pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam có sự tiếp thu mô hình tố tụng của nước Pháp và Liên bang Xô Viết, vì vậy các nhà lập pháp ở Việt Nam ban đầu cơ bản đưa ra các quy định về pháp luật tố tụng hình sự theo mô hình tố tụng thâm van có từ lâu đời. Tuy 10 nhiên đề đáp ứng với yêu câu thực tiễn, yêu câu cải cách tư pháp, phù hợp với xu thế toàn câu, trên cơ sở tiếp thu chon loc, ưu điểm của các mô hình tố tụng tiên tiến trên thế giới, Đảng ta đã có các văn kiện, nghị quyết nhằm mục đích xây dựng đổi mới hệ thống tư pháp, bằng việc nâng cao hiệu quá, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa. Qua nghiên cứu nội ham va từ khái nệm như đã trình bay ở trên học viên đưa ra bốn đặc trưng cơ bán của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm cụ thể như sau như sau: Thứ nhất, Tranh tụng trong giải quyết, xét xử vụ án là nguyên tắc cơ bản, tổn tại một cách khách quan.
Trong lịch sử tố tụng dù mô hình tố tụng thẩm van hay mô hình tố tụng tranh tụng đều có bên buộc tội, bên gỡ tội và Tòa án là có chức năng xét xứ, làm trọng tai đưa ra phán quyết cuối cùng. Dé tìm ra sự thật khách quan của vụ án trong các giai đoạn tố tụng khác nhau cơ quan tiễn hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thé tham gia tố tụng đều có quyên và nghĩa vụ cung cấp các tài liệu chứng cứ hợp pháp, liên quan đến vụ án. Đặc biệt cơ quan tiến hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng phải có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ trong vụ án hình sự. Thứ hai: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bao dam 1a thé chế hóa quan điểm của Đáng vẻ tăng cường tranh tụng tại phiên tòa nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nguyên tắc tranh tụng thể hiện tính bình đẳng, công bằng giữa các chủ thé trong vụ án hình sự, đặc biệt tai phiên tòa xét xử vu án hình sự, Chủ tọa phải tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia tố tụng sử dụng các phương pháp để bảo vệ các quyển và lợi ích hợp pháp của mình, Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết quan điểm. Hội đồng xét xử chỉ đóng vai trò trọng tài khách quan và công minh, ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ ma các bên chứng minh tại phiên tòa. Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi 11 việc chứng minh sự thật vu án phải diễn ra xuyên suốt các giai đoạn tố tụng. Vì vậy, mục đích của tranh tụng là dé các bên được quyển chứng minh đưa ra quan điểm, lý lẽ nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba: Nguyên tắc tranh tụng hình thành các bên với những quan điểm, chức năng đối kháng rõ rệt, đó là bên buộc tội Viện kiểm sát và bên bị buộc tội bào chữa, Hội đồng xét xử giữ vai trò là “Trọng tải” vô tư, khách quan. Dia vị tố tụng, quyển nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng được thực hiện bảo đảm mục tiêu, hiệu quả dé thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự, bảo vệ quyển con người, quyền công dân một cách tối đa. Tuy nhiên tranh tụng trong các giai đoạn tố tung ở nước ta con có phần chưa bảo đảm, quyển của bên bào chữa chưa được nêu cao, mờ nhạt trước cơ quan có chức năng buộc tội vì mô hình tố tụng ở nước ta là mô hình tố tụng pha trộn giữa thẩm vấn và tranh tụng, nhưng vẫn nghiêng về mô hình tô tụng thâm van. Thứ tư: Đặc trưng của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bao dam, quy định các chủ thê tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng trong vụ án có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.
Hội đồng xét xử ban hành ban án, quyết định phải dựa vào kết qua thâm tra, đánh giá tài liệu chứng cứ và quá trình các bên tranh tụng tại phiên tòa hình sự.