CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE VE CƠ SỞ LÝ LUẬN BAO DAM SỰ ĐỘC LAP CUA THAM PHAN TRONG HOAT DONG XET XU O VIET NAM 1. Lich sử phat triển nguyên tắc độc lập của thâm phan trong hoạt động xét xử 1. Lịch sử phát triển nguyên tắc độc lập cia thẩm phán trong hoạt động xét xử trên thé giới Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các văn bản xa xưa nhất được phát hiện là Luật hình của nhà Hạ-Trung Quốc (2100-1600 trước Công nguyên) và bộ luật Hammurabi-Babylon (1792-1750 trước Công nguyên), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến tư pháp, đến việc xét xử và hình phạt [43]. Sang đến thời kỳ cận trung đại, quyền lực tối cao của các thế lực phong kiến cai trị bắt đầu bị chia sẻ khi các văn bản về tổ chức quyền lực nhà nước ra đời.
Đại Hién chương Anh (Magna Charta) được vua Anh ban hành vào năm 1215 tuy không có quy định trực tiếp nêu rõ về độc lập của Tham phán trong khi xét xử hoặc những yếu tổ liên quan nhưng đã nêu ra những nguyên tắc bình đăng của pháp luật. Cuối thế ky XVIII, J. Locke, nhà triết học ủng hộ quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công giữa các nhánh quyền đã tuyên bồ rằng việc hình thành các đạo luật với quyền khiếu nại đến các Thâm phán độc lập là điều cần thiết cho một xã hội văn minh và một khi xã hội mà không có họ (tức là Tham phan) thì do là xã hội vẫn còn “trong một trạng thái tự nhiên”. Locke lại không đưa ra được cách thức, mô hình cu thé dé bảo đảm cho Thâm phán độc lập.
Trong tác pham “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đưa ra tư tưởng phân quyền dựa trên phân tích cách thức tô chức quyền lực của nước Anh: Nguồn gốc của tư tưởng độc lập xét xử theo khái niệm hiện dai được phát hiện ra trong qua trình phát triển của nhà nước dân chủ lập hiến ở Châu Âu, trước hết là ở Anh. Độc lập xét xử gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của pháp quyền, với điều kiện tiên quyết của sự phân quyền và sự tồn tại của kiểm soát và cân bằng quyền lực. Tiếp đó, Đạo luật Hòa giải 1701 (Act of Setlement 1701) đã nêu rõ nguyên tắc bao đảm nhiệm kỳ Thâm phán (nếu có phâm chất tốt) và khang định rang họ chỉ có thé bi thay thế bởi hai viện của Quốc hội theo một quy trình chặt chẽ. Thâm phán Brooke cua Toa án thượng thâm Anh cho rằng quy định này chính là nguyên tắc nền tảng của độc lập xét xử.
Sang đến thời kỳ hiện đại, tư tưởng đó càng được khăng định và thể hiện sự tổ chức thực thi quyền lực nhà nước mà trong đó quyền lực xét xử phải độc lập so với các nhánh quyền lực khác [43]. Trong Nhà nước pháp quyên, tính độc lập của tư pháp là một trong những đặc trưng cơ bản. Tầm quan trọng của tư pháp độc lập từ lâu đã được ghi nhận tại Điều 10 Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 (UDHR) ghi nhận, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan”. Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) thì mọi người có “quyền được xét xử công bang, công khai bởi một Tòa án có thầm quyên, độc lập, công minh được thiết lập theo pháp luật” [14, tr.
Dé đảm bảo nền tư pháp độc lập, sự độc lập của tòa án với các cơ quan lập pháp, hành pháp, với hệ thống chính trị và chính quyền các cấp là điều kiện cần thiết. Tuy nhiên, để có nền tư pháp độc lập thật sự, trước hết phải có những thâm phán độc lập, bởi thâm phán, chứ không phải tòa án, mới là người nắm giữ quyền tư pháp, nhân danh quyền lực và công lý để đưa ra phán quyết bảo vệ lẽ phải, sự thượng tôn của pháp luật, công bằng, trật tự xã hội. Thâm phán độc lập là nguyên tắc được nhắc tới và được bàn luận nhiều nhất trong giới luật gia cũng như học thuật trên thế giới khi nói về tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án(Cụ thể: Thâm phán William Kelly (Canada) 10 trong bài tham luận An independent judiciary: the core of the rule of law (Độc lập xét xử: cốt lõi của pháp quyền), Roger K. Warren trong bài viết về The Importance of Judicial Independence and Accountability (Tam quan trong cua Độc lập xét xử va trách nhiệm giải trình) đã khang định nước Mỹ chính là nơi nguyên tắc Độc lập xét xử được phát triển ở mức độ cao hơn so với chính quốc).
Mọi nghiên cứu học thuật hiện dai đều khăng định rằng nguyên tắc thâm phán độc lập là một yêu tố không thé thiếu, vừa là yêu cau, vừa là điều kiện bảo đảm nguyên tắc nhà nước pháp quyền ở các quốc gia dân chủ [55]. Chính vì vậy, nguyên tắc độc lập của thầm phán không những được ghi nhận trong hầu hết Hiến pháp các nước mà nó còn được ghi nhận cả trong các văn kiện và cam kết quốc tế thuộc các mức độ khác nhau [55]. Ví dụ cụ thể: Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 (Điều 76) quy định: “Tat cả thẩm phán phải được độc lập trong khi thực thi quyên hạn của mình mà chỉ phải tuân thủ Hiến pháp và các luật”; Điều 249 Hiến pháp Thái Lan năm 1997 quy định: “Tham phán độc lập trong xét xử phù hợp với Hiến pháp và pháp luật°; Quốc gia Fiji ghi trong Hiến pháp năm 1998, Điều 118 nêu rõ: “Các thẩm phán của Nhà nước độc lập với các nhánh lập pháp và hành pháp của Chính phủ [48]. Điều 126 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Tòa án nhân dân độc lập thực hiện quyển xét xử theo quy định của pháp luật, không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội hay cá nhân nào” [9, tr.
Tham phán không được chấp nhận lời mời ăn tối hay quà tặng của các bên đương sự trong vụ án hoặc những người được các bên đương sự ủy quyền và không được gặp gỡ trái quy định các bên đương sự trong vụ án hoặc người được các bên đương sự ủy quyền. Nếu vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này loại bỏ việc chạy án, tham nhũng, tác động của các bên vào thâm phán. Tuy nhiên, Tòa án lại bị giám sát hoạt động 11 bởi Ủy ban Pháp luật chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tòa án phụ thuộc chính quyền địa phương về nhân sự và ngân sách. Quyết định của thâm phán được xem xét kỹ lưỡng, bị giám sát, chỉ đạo, hủy bỏ bởi ủy ban thầm phán và Chánh án mỗi tòa, do đó, thâm phán không được độc lập khi quyết định [50]. “Đạo luật về cải cách các Hội đồng thẩm phán và về hành vi và sự không đủ tư cách của thẩm phán” được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 01/10/1980, theo đó thâm phán trong phạm vi địa hạt của mình đưa ra những quy định phù hợp và cần thiết để đảm bảo việc thực thi pháp luật hiệu quả nhanh chóng. Mối quan hệ Tòa án các cấp là mối quan hệ về tố tụng, không có mối quan hệ cấp trên và cấp dưới, các cơ quan Tòa án thực hiện thâm quyền của mình một cách độc lập, không cần bản án hay báo cáo với Tòa án phía trên [49].
Có thể thấy, nguyên tắc độc lập của thâm phán được ghi nhận tại Hiến pháp và bộ luật tố tụng của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy việc quy định có khác nhau nhưng nội dung cơ bản là giống nhau. Lịch sử phát triển nguyên tắc độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử ở Việt Nam Không phải cho tới thời kỳ đương đại, chúng ta mới bàn về nguyên tắc “Tham phán độc lập và chi tuân theo pháp luật”, ma trong lịch sử, nguyên tắc này đã được đề cập tại Bộ luật Hong Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan kế trên phải xét xử cho công bằng và đúng pháp luật”.
Điều 720 cũng quy định: “Không ai được cô chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo” [54]. Tuy nhiên, đấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử độc lập. Tính độc lập của thâm phán chính là sự gắn kết tuyệt đối các thâm phán với luật pháp. Tính độc lập của thẩm phán sẽ bảo vệ quyên lực tư pháp trước sự can thiệp từ phía lập pháp, hành pháp cũng như các tổ chức khác trong xã hội.
Khi giải thích, áp dụng các chuẩn mực, thâm phán không 12 cần phải theo ý kiến đa số và cần hành động dựa vào pháp luật và niềm tin nội tâm, đề cao tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ mất đi những giá trị xã hội to lớn của nó nếu tính độc lập của thâm phán không được đảm bảo. Sự vi phạm nguyên tắc này dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sư thoái hóa của quyền lực và xã hội di nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này [57]. Khi xét xử, thâm phán và hội thâm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định là một nguyên tac hiến định và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp cũng như được thê chế trong các đạo luật về tổ chức Tòa án — cơ quan xét xử, cũng như các đạo luật về tô tụng của Nhà nước Việt Nam.
Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh 13/SL về tổ chức Tòa án và ngạch thâm phán. Sắc lệnh 13/SL lần đầu tiên quy định về độc lập xét xử, theo đó, Điều 47 Sắc lệnh 13/SL quy định: Tòa án tư pháp sẽ độc lập đối với các cơ quan hành chính, các vị thâm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý, các cơ quan khác không được can thiệp vào việc tư pháp. Đề bảo đảm sự độc lập của thầm phán, Điều 50 Sắc lệnh 13/SL quy định: Mỗi thâm phán xử án quyết định theo pháp luật và lương tâm của mình, không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án. Dé bao đảm thâm phán xét xử độc lập và công minh, Điều 75 Sắc lệnh 13/SL quy định: Không ai có thé bat bớ, giam cầm một thẩm phán bat cứ lý lẽ gi, nếu không được Bộ trưởng Bộ Tư pháp thỏa thuận trước.