Chương 1: Lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu; Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định; Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu. 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu Quyền công tố cũng như thực hành quyền công tố là một vấn đề rất rộng và đã được nhiều nhà khoa học pháp lý trong nước cũng như quốc tế quan tâm nghiên cứu. Quyền công tố với ý nghĩa là một loại quyền năng xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng quyền công tố gắn với Nhà nước cũng như bản chất Nhà nước, là một bộ phận cấu thành của công quyền.
Với quan điểm đó, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội, chúng tôi cho rằng khi Nhà nước xuất hiện cũng là lúc xuất hiện quyền công tố. Trong lịch sử pháp luật Viện Nam, khái niệm quyền công tố xuất hiện vào năm 1980, khi Hiến pháp năm 1980 ra đời. Hiến Pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta trong việc đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKSND[23, Điều 138]. Thuật ngữ này được nhắc lại tại Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981.
Từ đó đến nay, liên quan đến khái niệm này có rất nhiều tài liệu, bài viết trên các tạp chí, Luận văn…với nhiều quan điểm khác nhau. Trong đó có một số quan điểm đáng chú ý sau: Quan điểm thứ nhất, đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này xuất phát từ tên gọi và chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố. Theo quan điểm này, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố.
Điều đó có nghĩa là khi Viện kiểm sát tiến hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm phát sinh trong các lĩnh vực phi hình sự cũng là thực hành quyền công tố. Theo đó, quyền công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật[47, tr. Dẫu rằng trong quá trình thực hiện hai chức năng này, có một số nội dung đan xem, liên hệ chặt chẽ, tác 9 động qua lại lẫn nhau trên cơ sở tính độc lập tương đối. Theo quan điểm chúng tôi, quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Vô hình chung đã gộp chung hai chức năng riêng biệt của ngành KSND đã được Hiến định thành một. Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm pháp luật, ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật. Quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở ra các lĩnh vực khác. Quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, phạm vi và nội dung của quyền công tố dẫn đến xóa nhòa đặt thù chức năng của Viện kiểm sát trong TTHS.
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó[14, tr. Với quan điểm này, quyền công tố chỉ được nhấn mạnh trong TTHS và cũng chỉ giới hạn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm này mặc dù đã chính xác trong việc giới hạn quyền công tố chỉ được thực hiện trong TTHS; tuy nhiên việc cho rằng quyền công tố chỉ được thể hiện thông qua phiên tòa xét xử sơ thẩm là đã thu hẹp phạm vi, nội dung quyền công tố và không phản ánh đầy đủ bản chất của quyền này. Bởi vì, trên thực tế hoạt động truy tố buộc tội tại tòa chỉ là một nội dung hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử.
Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Nói cách khác, quyền công tố là quyền mà Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng để điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Theo đó, quyền công tố được giao cho người đứng đầu của Cơ quan tư pháp, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp và các chức danh tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. trong việc xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội.
Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm này đã dẫn đến 10 nhầm lẫn các chức năng trong TTHS giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các quyền năng của mình. Mỗi chức năng cơ bản trong TTHS được thực hiện bởi một hoặc nhiều chủ thể, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng. Như trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều là cơ quan tiến hành tố tụng và cùng thực hiện chức năng buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội [40, tr. Nhưng hoạt động buộc tội của Cơ quan điều tra không phải là thực hành quyền công tố mà đó chỉ là hoạt động nhằm hỗ trợ cho cơ quan được Nhà nước giao thực hiện quyền công tố là Viện kiểm sát để thực hiện việc buộc tội đối với chủ thể được cho là thực hiện hành vi phạm tội.
Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó[17, tr. Với tư cách là một quyền năng đặc biệt thuộc Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật. Mỗi quan điểm nêu trên đều có những hạt nhân hợp lý riêng của nó.
Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật về quyền công tố cho thấy, các quan điểm trên hoặc đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến việc mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực TTHS sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, lao động, kinh tế, hành chính; hoặc coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp trong lĩnh vực TTHS; hoặc quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố chỉ là quyền của Viện kiểm sát trong việc truy tố người phạm tội ra tòa và thực hiện sự cáo buộc tại phiên tòa hình sự sơ thẩm đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Từ những nhận định, phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được giao cho một cơ quan thực hiện, ở nước ta cơ quan đó là Viện kiểm sát. Để thực hiện đúng, có hiệu quả quyền năng này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải được và có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm 11 tội, trên cơ sở đó, quyết định truy tố bị can ra trước tòa và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa [40, tr.
Để thực hành quyền công tố, Viện Kiểm sát phải sử dụng các quyền năng thuộc quyền công tố trong suốt quá trình tố tụng đối với vụ án. Theo từ điển Tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, “thực hành” cũng giống như “thực hiện” [42, tr. Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự. Hiện nay, quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố được quy định trong BLTTHS[26].
Theo đó, trong từng giai đoạn tố tụng, nội dung của quyền công tố mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát là khác nhau. Điều tra là một giai đoạn của quá trình TTHS, trong đó Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án [11, tr. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS, trong giai đoạn này Cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội [16, tr.