Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản Để xây dựng khái niệm hành quyền công tố trong điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trước hết phải làm sáng tỏ thế nào là vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Liên quan đến vấn đề này cần phải làm sáng tỏ thế nào là vụ án hình sự. Cần lưu ý rằng, trong khoa học pháp lý cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh khái niệm vụ án hình sự, nhưng xét trên nhiều phương diện, tác giả luận văn này chia sẻ với quan điểm cho rằng:“Vụ án hình sự là vụ án phát sinh khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Tòa án (thông qua Hội đồng xét xử) khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được quy định trong BLTTHS để xác định và xử lý người phạm tội” [30, tr.
Vậy thì vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì? Trước hết cần nhấn mạnh rằng, đó vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi vậy, để làm sáng tỏ thế nào là vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần phải nhận thức một cách đúng đắn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của tội phạm dùng thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin và giao tài sản cho tội phạm để chiếm đoạt tài sản đó. Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi 7 n phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Để nhận thức đúng đắn và sâu sắc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần phân tích các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố cấu thành tội này, theo đó: - Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, đó chính là các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của Nhà nước cũng như của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là các loại tài sản thể hiện dưới hình thức vật chất, đó là vật, tiền. Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản. - Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản + Về hành vi khách quan: Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại không biết được có hành vi gian dối.
Như vậy, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối là đặc điểm đặc trưng của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nghĩa là người phạm tội đưa ra thông tin giả, thông tin không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin rằng thông tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động, bằng hình ảnh… hoặc cũng có thể kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau. Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của các loại tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm.
Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực 8 n tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội. Hành vi gian dối bao giờ cũng phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu hành vi gian dối diễn ra sau khi người phạm tội nhận được sản, tức là ý thức chiếm đoạt tài sản diễn ra sau khi có tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần lưu ý đặc trưng này để phân biệt với một số tội phạm như lừa dối khách hàng hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Để có thể lừa dối chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, trên thực tế người phạm tội sử dụng rất nhiều các cách khác nhau như: bằng lời nói dối, bằng việc giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện để chuyển tiền, vàng hay thông qua việc ký kết hợp đồng… Thực tế để xác định hành vi gian dối có xảy ra hay không, thường căn cứ vào các chứng từ, tài liệu, giấy tờ giả (như hợp đồng mua bán, giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, giấy vay tiền…) mà đối tượng dùng để tạo dựng niềm tin đối với chủ tài sản, làm cho chủ tài sản tự nguyện giao tài sản để xác định. Cần phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có thủ đoạn gian dối, tuy nhiên thủ đoạn gian dối ở hai tội là khác nhau, đặc biệt là thời điểm thực hiện thủ đoạn này. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi phải dùng thủ đoạn gian dối trước làm cho người có tài sản tin tưởng mà giao tài sản cho người phạm tội.
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi để chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn có tính chất gian dối nhưng thủ đoạn này được thực hiện sau khi đã được chủ tài sản giao tài sản một cách hợp pháp thông qua các hình thức như vay, mượn, thuê, hợp đồng hợp pháp. + Về hậu quả: Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nếu hành vi gian dối bị phát hiện trước khi người bị lừa dối giao tài sản hoặc người bị lừa dối không phát hiện ra hành vi gian dối nhưng không thực hiện việc giao tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ 9 n đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho mình hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là giá trị tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt. Thiệt hại về tài sản bị chiếm đoạt được quy định cụ thể tại Điều 174 BLHS năm 2015.
Theo đó, khoản 1 Điều luật quy định “chiếm đoạt từ 2.000 đồng trở lên” mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”. + Về mối quan hệ nhân quả: Cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậu quả và hành vi khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối. Nếu việc thiệt hại về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách quan để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh như thế nào.
Tuy nhiên, ở đây cũng nên lưu ý là cần phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với những tội phạm có dùng thủ đoạn gian dối khác “tự nguyện” giao tài sản cho mình, còn đối với những thủ đoạn gian dối nhưng không phải do người bị hại tự động giao tài sản của mình thì phải căn cứ vào dấu hiệu khách quan để xác định tội phạm tương ứng, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hành hoặc để bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì sẽ cấu thành tội lừa dối khách hành hoặc tội buôn bán hàng giả. - Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường, có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 10 n tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.