Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS), nội dung trọng tâm của cải cách tư pháp là nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về chủ thể tiến hành tố tụng, bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra - CQĐT, Viện kiểm sát - VKS, Tòa án nhân dân - TAND) và những người tiến hành tố tụng trong các cơ quan này.

Sau gần 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, các quy định về chủ thể tố tụng nói chung và chủ thể tiến hành tố tụng nói riêng đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, làm hạn chế chất lượng và hiệu quả của các hoạt động tố tụng hình sự trên thực tế.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp; tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) và Thẩm phán để nâng cao tính độc lập và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định tố tụng. Ngày 12/03/2014, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp, làm rõ nội hàm quyền tư pháp và chuẩn bị cơ sở cho việc kiện toàn tổ chức cơ quan tư pháp giai đoạn 2016–2020.

Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được thông qua với các chế định mới về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và thủ tục rút gọn. Điều này đòi hỏi phải cụ thể hóa các nguyên tắc Hiến định vào BLTTHS và các luật tổ chức liên quan. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật TTHS Việt Nam là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn lập pháp và cải cách tư pháp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật TTHS Việt Nam; đánh giá mức độ phù hợp, những hạn chế và khiếm khuyết của pháp luật TTHS hiện hành trong hoạt động thực tiễn; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định liên quan đến các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và góp phần phát triển lý luận chuyên ngành.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về các chủ thể TTHS nói chung và các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật TTHS Việt Nam nói riêng trên cơ sở lý thuyết về chức năng TTHS và mô hình TTHS.
    2. Khảo cứu lịch sử hình thành, phát triển của các quy định pháp luật TTHS Việt Nam về các chủ thể tiến hành tố tụng từ năm 1945 đến nay và kinh nghiệm quốc tế thuộc các truyền thống pháp luật khác nhau.
    3. Khảo sát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật TTHS hiện hành và thực tiễn áp dụng đối với từng nhóm chủ thể tiến hành tố tụng thuộc CQĐT, VKSND, TAND và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
    4. Xác định các yêu cầu của cải cách tư pháp và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về chủ thể tiến hành tố tụng trong BLTTHS và các văn bản liên quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật TTHS Việt Nam, bao gồm CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Tòa án và những người có nhiệm vụ, thẩm quyền tố tụng trong các cơ quan này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan và người có thẩm quyền tố tụng thuộc CQĐT, VKS, Tòa án dưới góc độ Luật TTHS; đồng thời xem xét một số vấn đề tổ chức bộ máy có ảnh hưởng trực tiếp đến tính độc lập của chủ thể tiến hành tố tụng.
    • Về thời gian: Khảo cứu hệ thống văn bản pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2014); số liệu thực tiễn được trích xuất từ kết quả tổng kết 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (giai đoạn 2004 – 2012).
    • Về khái niệm: Thuật ngữ "Luật Tố tụng hình sự Việt Nam" được tiếp cận dưới góc độ một ngành luật, bao gồm hệ thống lý luận và pháp luật thực định được quy định trong Hiến pháp, BLTTHS và các luật tổ chức cơ quan tư pháp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Vấn đề chủ thể tiến hành tố tụng và cải cách tư pháp đã được tiếp cận qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đề án và bài báo chuyên ngành:

  • Các đề án cấp nhà nước và đề án ngành: Đề án "Tổ chức lại hệ thống Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối" của Bộ Công an [33]; Đề án "Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam" và Đề án "Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố" do VKSND tối cao chủ trì nghiệm thu năm 2012 [6, 7]; Đề án "Viện kiểm sát trong cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp..." [8, 148]; các đề án đổi mới tổ chức hệ thống TAND của TAND tối cao.
  • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Lê Thị Tuyết Hoa (2005) nghiên cứu về Quyền công tố ở Việt Nam [48]; Đào Hữu Dân (2007) và Nguyễn Tiến Sơn (2010) nghiên cứu chuyên sâu về Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự [27, 97]; Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2004) nghiên cứu về Cải cách hệ thống cơ quan tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền [107]; Nguyễn Tiến Châu (2008) với đề tài Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam [12]; Nguyễn Hải Ninh (2013) nghiên cứu Các yếu tố đảm bảo độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay [66].
  • Đề tài khoa học và sách chuyên khảo: Đề tài cấp bộ của Vũ Văn Mộc (2008) về Phân biệt thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng của những người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng và việc tăng quyền hạn, trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán... [58]. Các sách chuyên khảo của Đào Trí Úc (1995), Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (1994), VKSND tối cao (2000), Nguyễn Đăng Dung (2005), Lê Hữu Thể (2008), Lê Hữu Thể - Đỗ Văn Đương - Nguyễn Thị Thủy (2013).
  • Các bài báo tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Đào Trí Úc, Trần Văn Độ, Lê Văn Cảm, Nguyễn Thái Phúc, Nguyễn Đức Mai, Đinh Văn Quế, Nguyễn Thị Thủy, Đỗ Văn Đương, Trần Đình Nhã... trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân và Tạp chí Kiểm sát.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Vấn đề phân định chức năng và mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp được phân tích thông qua nhiều công trình kinh điển và nghiên cứu so sánh:

  • Tư tưởng pháp lý kinh điển: Montesquieu với tác phẩm Tinh thần pháp luật [1996], Jean-Jacques Rousseau với tác phẩm Bàn về khế ước xã hội [1992].
  • Tố tụng hình sự so sánh: John Hatchard, Barbara Huber và Richard Vogler (1996) với Comparative Criminal Procedure; Philip Reichel (1999) với Tư pháp hình sự so sánh; Nancy Hollander (2000) với nghiên cứu so sánh hệ thống TTHS Hoa Kỳ và Việt Nam; M. Strogovich với các nghiên cứu về lý luận tố tụng tranh tụng tại Liên Xô trước đây [63].
  • Nghiên cứu cơ quan công tố và cảnh sát: Luận án tiến sĩ của Tony Paul Marguery (2008) về sự thống nhất và đa dạng của cơ quan công tố tại châu Âu (Pháp, Hà Lan, Ba Lan, Séc) [160]; Dr. Despina Kyprianou (2008) về vai trò của công tố trong hoạt động điều tra theo truyền thống án lệ và châu Âu lục địa; Jorg-Martin Jehle (2005) về chức năng công tố từ góc nhìn so sánh châu Âu; các báo cáo của UNAFEI (1997, 2002) về quan hệ giữa công tố và cảnh sát; các báo cáo nghiên cứu hệ thống tư pháp của UNDP tại Hàn Quốc, Indonesia, Trung Quốc, Liên bang Nga và Nhật Bản (2010).

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến tố tụng hình sự, phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng cơ quan riêng biệt (CQĐT, VKS hoặc TAND), từng chức năng độc lập (buộc tội, xét xử) hoặc dừng lại ở các bài viết nghiên cứu từng khía cạnh cụ thể. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tổng thể, đồng bộ và toàn diện về toàn bộ hệ thống các chủ thể tiến hành tố tụng trong mối quan hệ biện chứng giữa ba chức năng tố tụng cơ bản trước những đòi hỏi cụ thể của Hiến pháp năm 2013 và Kết luận số 92-KL/TW năm 2014. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, tạo lập cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn chỉnh cho việc sửa đổi BLTTHS năm 2003.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm chức năng TTHS: Luận án kế thừa và phát triển quan điểm lý luận về ba chức năng cơ bản của TTHS bao gồm: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử (trích dẫn quan điểm của Võ Khánh Vinh, M. Strogovich, Chenxốp, Xavitxki). Ba chức năng này có vị trí độc lập, quan hệ bình đẳng và chế ước lẫn nhau; sự vận động của chức năng này là điều kiện tồn tại của chức năng kia.
  • Khái niệm chủ thể TTHS và chủ thể tiến hành tố tụng: Chủ thể TTHS là những người tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, có địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ khác nhau nhằm thực hiện các chức năng TTHS. Chủ thể tiến hành tố tụng hình sự được xác định là cá nhân người theo luật định có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự.
  • Lý thuyết phân loại mô hình TTHS: Luận án sử dụng khung phân loại của Philip Reichel và các học giả so sánh luật học để nhận diện ba mô hình TTHS cơ bản trên thế giới: mô hình thẩm vấn (inquisitorial system), mô hình tranh tụng (adversarial system) và mô hình hỗn hợp.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu chí phân loại mô hình TTHS (Theo lý thuyết của Philip Reichel)        |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+
| Tiêu chí                 | Mô hình tranh tụng     | Mô hình thẩm vấn        |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+
| Chủ thể buộc tội         | Chuyển từ cá nhân      | Nhà nước đại diện thay  |
|                          | sang Nhà nước          | thế việc trả thù        |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+
| Phương thức xác định     | Cạnh tranh giữa hai    | Thẩm tra liên tục,      |
| sự thật vụ án            | phía đối lập tại tòa   | mấu chốt là điều tra    |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+
| Phân bổ quyền lực        | Chia sẻ giữa công tố,  | Tập trung vào thẩm phán |
| tố tụng                  | luật sư, thẩm phán,    | chỉ đạo hoạt động của   |
|                          | bồi thẩm đoàn          | điều tra viên           |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+
| Mức độ mong đợi sự       | Không bắt buộc, không  | Được mong đợi hợp tác   |
| hợp tác của bị cáo       | mong đợi hợp tác       | với CQĐT và Tòa án      |
+--------------------------+------------------------+-------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật: Sử dụng để làm rõ nội dung, ý nghĩa của các điều luật trong Hiến pháp, BLTTHS, Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự.
  • Phương pháp lịch sử - pháp lý: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về CQĐT, VKS, TAND qua các giai đoạn lịch sử từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
  • Phương pháp so sánh luật học: Nghiên cứu, đối chiếu các quy định pháp luật về chủ thể tiến hành tố tụng giữa các hệ thống pháp luật Common Law (Anh, Mỹ, Úc), Civil Law (Pháp, Đức, Hà Lan) và các nước chuyển đổi (Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia).
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Phân tích các số liệu, báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 trong giai đoạn 8 năm (2004 – 2012) để đánh giá vướng mắc và tồn tại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự, đồng thời phân tích 5 nhóm vấn đề còn tồn tại nhiều quan điểm học thuật khác nhau:

  1. Lựa chọn mô hình TTHS: Tranh luận giữa xu hướng chuyển đổi hoàn toàn sang mô hình tranh tụng và xu hướng giữ nguyên nền tảng mô hình thẩm vấn, tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tranh tụng. Quan điểm của Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương là duy trì ưu điểm mô hình hiện hành kết hợp yếu tố hợp lý của tranh tụng.
  2. Phân định chức năng tố tụng: Đánh giá tình trạng trộn lẫn giữa ba chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xử trong BLTTHS năm 2003; sự cần thiết phải phân định ranh giới giữa các chủ thể để tránh việc Tòa án làm thay chức năng của bên buộc tội.
  3. Chức năng, thẩm quyền của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Tranh luận về việc CQĐT nên trực thuộc VKS hay Bộ Công an; phạm vi điều tra của CQĐT thuộc VKSND tối cao (Điều 110 BLTTHS 2003); việc mở rộng hay thu hẹp thẩm quyền điều tra ban đầu của Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Thanh tra.
  4. Chức năng, thẩm quyền của VKSND và người tiến hành tố tụng thuộc VKS: Việc khẳng định VKS tiếp tục thực hiện hai chức năng (thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp); giải quyết mối quan hệ giữa kiểm sát xét xử và bảo đảm độc lập xét xử của Tòa án; cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra và mức độ phân quyền cho Kiểm sát viên.
  5. Chức năng, thẩm quyền của TAND và người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án: Xác định vị trí trung tâm của Tòa án và trọng tâm xét xử; việc loại bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án tại phiên tòa hoặc xét xử vượt quá giới hạn truy tố; mức độ trao quyền phán quyết độc lập cho Thẩm phán.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật Tố tụng hình sự

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chủ thể tiến hành tố tụng và phân tích tiến trình lập pháp TTHS Việt Nam:

  • Bản chất chủ thể tiến hành tố tụng: Luận án luận giải rằng chủ thể tiến hành tố tụng phải được cá thể hóa là "người" có chức danh tư pháp và thẩm quyền luật định, thay vì đồng nhất với "cơ quan". Việc xem cơ quan là chủ thể tiến hành tố tụng dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ tư pháp.
  • Đặc trưng mô hình TTHS Việt Nam: Do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống pháp luật Pháp thời kỳ thuộc địa và mô hình Xô Viết, TTHS Việt Nam mang đậm tính chất thẩm vấn: trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan nhà nước; giai đoạn xét xử là sự tiếp nối quá trình điều tra; hồ sơ vụ án được lập sẵn từ giai đoạn điều tra và chuyển giao qua các cấp.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| Lịch sử quy định về CQĐT và cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra    |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| Giai đoạn   | Văn bản nền tảng      | Đặc điểm thẩm quyền điều tra          |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1945 - 1953 | Sắc lệnh số 23/SL,    | Thẩm quyền trao cho chức danh cá nhân |
|             | Sắc lệnh số 131/SL    | "Ủy viên tư pháp công an"; viên chức  |
|             |                       | kiểm lâm, hỏa xa là ủy viên tư pháp   |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1953 - 1988 | Sắc lệnh số 141/SL,   | Thành lập Vụ Chấp pháp; chuyển thẩm   |
|             | Thông tư số 427/1963  | quyền về tổ chức CQĐT thay vì chức    |
|             |                       | danh; chưa phân định rõ quyền ĐTV     |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1988 - 2003 | BLTTHS năm 1988,      | Xác định CQĐT chuyên trách và quyền   |
|             | Pháp lệnh ĐTHS 1989   | điều tra của Biên phòng, Hải quan,    |
|             |                       | Kiểm lâm; ĐTV chưa có quyền quyết định|
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+

+-----------------------------------------------------------------------------+
| Lịch sử quy định về cơ quan Công tố / Viện kiểm sát nhân dân                |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| Giai đoạn   | Văn bản nền tảng      | Đặc điểm tổ chức và chức năng         |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1945 - 1958 | Sắc lệnh số 33c, 21,  | Công tố nằm trong Tòa án (Biện lý,    |
|             | 155, 13, 51           | Chưởng lý); quản lý độc lập với xét   |
|             |                       | xử; trực tiếp chỉ đạo tư pháp công an |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1958 - 1960 | Đề án Tòa án 1958,    | Thành lập Viện Công tố độc lập trực   |
|             | Nghị định 256-TTG     | thuộc Hội đồng Chính phủ; tách rời    |
|             |                       | hoàn toàn khỏi hệ thống Tòa án        |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
| 1960 - 2003 | Luật Tổ chức VKSND    | VKSND thực hiện kiểm sát việc tuân    |
|             | năm 1960, 1981, 1992  | theo pháp luật và thực hành quyền     |
|             |                       | công tố; có thẩm quyền tự điều tra    |
+-------------+-----------------------+---------------------------------------+
  • Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích địa vị pháp lý của Cảnh sát, Công tố và Tòa án trong hệ thống Common Law (thẩm phán đóng vai trò trọng tài, bồi thẩm đoàn phán quyết, công tố và luật sư tranh luận bình đẳng), Civil Law (Thẩm phán điều tra/dự thẩm, Viện công tố giám sát điều tra) và các mô hình chuyển đổi hỗn hợp tại Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Chương 3: Thực trạng Luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về các chủ thể tiến hành tố tụng và thực tiễn áp dụng

Chương 3 đánh giá việc áp dụng BLTTHS năm 2003 trong giai đoạn 2004 – 2012 đối với từng nhóm chủ thể:

  • Thực trạng quy định về CQĐT và cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra:
    • Sự bất cập trong quy định tại Điều 33 BLTTHS 2003 khi coi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT là người tiến hành tố tụng mang tính chất cơ quan lãnh đạo hành chính hơn là chức danh tư pháp độc lập.
    • Quyền hạn của ĐTV bị phụ thuộc nặng nề vào mệnh lệnh hành chính của Thủ trưởng CQĐT; ĐTV không có quyền quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc khởi tố bị can mà chỉ lập đề xuất.
    • Quy định về phạm vi thẩm quyền điều tra của các cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng còn hạn chế về thời hạn và biện pháp ngăn chặn, dẫn đến chậm trễ trong xử lý tội phạm ban đầu.
  • Thực trạng quy định về Viện kiểm sát nhân dân:
    • Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT còn lỏng lẻo; Kiểm sát viên chưa thực sự bám sát hoạt động điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án, dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần.
    • Quyền năng trực tiếp điều tra của KSV quy định tại BLTTHS năm 2003 chưa được áp dụng hiệu quả trên thực tế do thiếu cơ chế pháp lý bảo đảm.
    • Chức năng "kiểm sát xét xử" của VKS tại phiên tòa đôi khi tạo ra sự xung đột với nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.
  • Thực trạng quy định về Tòa án nhân dân:
    • TAND vẫn còn giữ các quyền hạn mang tính chất buộc tội như quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa (Điều 104 BLTTHS 2003), quyền xét xử vượt quá giới hạn truy tố theo hướng nặng hơn hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung không hợp lý.
    • Thẩm phán chủ tọa phiên tòa còn chịu ảnh hưởng của chế độ báo cáo án thỉnh thị đối với Chánh án, làm suy giảm tính độc lập của người tiến hành tố tụng khi ra bản án.

Chương 4: Định hướng hoàn thiện Luật Tố tụng hình sự Việt Nam về các chủ thể tiến hành tố tụng trước yêu cầu cải cách tư pháp

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện BLTTHS và các luật tổ chức cơ quan tư pháp:

  • Hoàn thiện quy định về CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:
    • Tách bạch rõ ràng giữa thẩm quyền quản lý hành chính của người đứng đầu cơ quan công an với thẩm quyền tố tụng tư pháp của Thủ trưởng CQĐT và ĐTV.
    • Tăng thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý độc lập cho Điều tra viên trong việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ và thực hiện các hành vi tố tụng.
    • Xác định rõ ràng phạm vi điều tra của CQĐT thuộc VKSND tối cao đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp và chức vụ; củng cố thẩm quyền xử lý ban đầu của Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Biên phòng.
  • Hoàn thiện quy định về Viện kiểm sát nhân dân:
    • Thể chế hóa cơ chế "gắn công tố với hoạt động điều tra", quy định KSV phải trực tiếp tham gia và kiểm sát các hoạt động khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai, hỏi cung bị can ngay từ giai đoạn đầu.
    • Tăng quyền độc lập cho Kiểm sát viên tại phiên tòa trong việc rút quyết định truy tố, thay đổi tội danh mà không cần xin ý kiến hành chính của Viện trưởng.
    • Quy định rõ ràng giới hạn của kiểm sát xét xử nhằm tôn trọng tối đa nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm.
  • Hoàn thiện quy định về Tòa án nhân dân:
    • Xác lập vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp; bảo đảm phiên tòa là nơi kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ thông qua tranh tụng bình đẳng.
    • Bãi bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại phiên tòa để bảo đảm Tòa án giữ đúng chức năng xét xử khách quan, không làm thay chức năng buộc tội.
    • Hoàn thiện quy chế bổ nhiệm Thẩm phán dài hạn hoặc theo nhiệm kỳ đặc thù để bảo đảm tính độc lập thực chất khi ra phán quyết.
  • Hoàn thiện các quy định bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng: Mở rộng quyền thu thập tài liệu, đồ vật của người bào chữa để tạo thế cân bằng thực chất giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống đầu tiên về toàn bộ các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam đặt trong bối cảnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và triển khai Hiến pháp năm 2013.
  2. Làm sáng tỏ và xác lập luận điểm khoa học: chủ thể tiến hành tố tụng hình sự phải là cá nhân người có chức danh tư pháp được pháp luật trao quyền và chịu trách nhiệm độc lập, khắc phục cách quy định đồng nhất cơ quan với cá nhân người tiến hành tố tụng vốn tồn tại từ lâu.
  3. Phát triển lý luận về sự tương tác biện chứng giữa ba chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử), chỉ ra nguyên nhân gây ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm xuất phát từ việc vi phạm nguyên tắc phân định ranh giới giữa các chức năng này.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và lập pháp

  1. Đánh giá một cách khách quan, toàn diện bức tranh thực tiễn 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (2004 – 2012), chỉ ra các mâu thuẫn giữa quy định pháp luật thực định với yêu cầu thực tế của công tác phòng, chống tội phạm.
  2. Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ cho quá trình soạn thảo, sửa đổi BLTTHS năm 2003 (được Quốc hội thông qua năm 2015), Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
  3. Đề xuất các kiến nghị cụ thể về việc tăng quyền và trách nhiệm độc lập cho ĐTV, KSV, Thẩm phán; xóa bỏ cơ chế can thiệp hành chính vào quá trình ra quyết định tư pháp trong từng vụ án hình sự cụ thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn của luận án bị giới hạn trong khung thời gian tổng kết 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (2004 – 2012), chưa bao quát được các biến động thực tiễn phát sinh ngay trước thềm sửa đổi toàn diện các đạo luật tư pháp năm 2015.
  • Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu cơ quan và người có thẩm quyền thuộc ba thiết chế trung tâm (CQĐT, VKS, Tòa án), các nội dung về cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và mối quan hệ với các chủ thể tham gia tố tụng chỉ được phân tích ở mức độ khái quát phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu chính.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu đánh giá tác động sau khi các văn bản quy phạm pháp luật mới (như BLTTHS sửa đổi, Luật Tổ chức TAND sửa đổi, Luật Tổ chức VKSND sửa đổi) được ban hành và đi vào thực thi trên thực tế.
  • Đi sâu phân tích cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp giữa CQĐT, VKS và Tòa án trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đặc thù xâm phạm quyền con người, quyền công dân.

Giá trị tham khảo

Đối với công tác lập pháp và hoạch định chính sách

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn trực tiếp cho các ban soạn thảo dự án luật, cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Tư pháp), Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương trong việc hoạch định chính sách tư pháp hình sự và hoàn thiện các chế định về người tiến hành tố tụng.

Đối với hoạt động thực tiễn tư pháp

Các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, VKSND, TAND) và đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu của luận án để nhận diện đúng thẩm quyền tố tụng, hạn chế xu hướng hành chính hóa quan hệ tư pháp và nâng cao tính chủ động, độc lập trong giải quyết án.

Đối với nghiên cứu và đào tạo

Luận án là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu môn Luật Tố tụng hình sự, Khoa học điều tra tội phạm và Tư pháp hình sự so sánh tại các cơ sở đào tạo luật học (như Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát, Học viện Tòa án, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân).


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về "chủ thể tiến hành tố tụng hình sự"?

Chủ thể tiến hành tố tụng hình sự được luận án định nghĩa là cá nhân người theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự. Luận án phân biệt rõ giữa chủ thể tiến hành tố tụng là cá nhân có chức danh tư pháp với cơ quan tiến hành tố tụng.

2. Vì sao luận án đề nghị phải tách bạch thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng?

Trong tổ chức và hoạt động của CQĐT, VKS và Tòa án hiện nay, sự can thiệp của quan hệ chỉ huy - phục tùng hành chính (giữa cấp trưởng và cấp phó, giữa thủ trưởng cơ quan với người trực tiếp thụ lý vụ án) làm triệt tiêu tính độc lập và trách nhiệm cá nhân của ĐTV, KSV, Thẩm phán. Việc phân định rõ giúp người tiến hành tố tụng trực tiếp tự chủ và chịu trách nhiệm pháp lý đối với phán quyết của mình.

3. Giai đoạn lập pháp 1945 – 1953 để lại kinh nghiệm gì cho việc quy định chủ thể điều tra?

Theo Sắc lệnh số 23/SL (1946) và Sắc lệnh số 131/SL (1946), thẩm quyền điều tra tư pháp được giao trực tiếp cho chức danh cá nhân là "Ủy viên tư pháp công an" chứ không giao chung chung cho cơ quan công an. Đây là bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị về việc cá thể hóa thẩm quyền điều tra hình sự cho chức danh tư pháp cụ thể.

4. Luận án đề xuất mô hình TTHS nào cho Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp?

Luận án ủng hộ quan điểm duy trì và phát huy nền tảng hợp lý của mô hình TTHS hiện hành (thiên về thẩm vấn), đồng thời tiếp thu có chọn lọc các yếu tố của mô hình tố tụng tranh tụng: phân định rành mạch ba chức năng tố tụng, bảo đảm vị trí trung tâm của Tòa án, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và tạo lập sự bình đẳng pháp lý giữa bên buộc tội và bên bào chữa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của NCS. Nguyễn Duy Giảng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về hệ thống các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật TTHS Việt Nam trên cơ sở lý luận chức năng tố tụng và yêu cầu cải cách tư pháp. Bằng việc phân tích toàn diện lịch sử lập pháp từ năm 1945, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (2004 – 2012), luận án đã luận giải tính tất yếu của việc chuyển dịch thẩm quyền tố tụng từ thiết chế cơ quan sang chức danh tư pháp cá nhân độc lập. Công trình đã cung cấp hệ thống cơ sở khoa học xác đáng, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện BLTTHS và hệ thống pháp luật tư pháp của Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.