Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đào Anh Tới, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Anh, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9 38 01 04) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tố tụng hình sự (TTHS), mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát (VKS) là mối quan hệ đặc thù giữa hai cơ quan cùng thực hiện chức năng buộc tội, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Trong hệ thống các cơ quan điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) giữ vai trò chủ lực khi đảm nhận thẩm quyền điều tra các tội phạm quy định tại 262/314 điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự (chiếm tỷ lệ 83,4%).
Theo số liệu thống kê của Bộ Công an trong 10 năm (2008–2018), trung bình mỗi năm CQCSĐT tiếp nhận, thụ lý và giải quyết hơn 78.500 nguồn tin về tội phạm (chiếm khoảng 93% lượng tin báo trên toàn quốc), đồng thời trực tiếp khởi tố, điều tra khoảng 70.000 bị can (chiếm 95% tổng số vụ án hình sự và 97% tổng số bị can đã khởi tố của cả nước). Dù đạt được nhiều kết quả, hoạt động điều tra của CQCSĐT vẫn bộc lộ hạn chế như khởi tố, điều tra oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc xảy ra tình trạng bức cung, nhục hình. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) chậm đổi mới, cơ chế phối hợp và kiểm soát chưa thực sự hợp lý, quy định pháp luật về thẩm quyền của hai cơ quan còn vướng mắc.
Bên cạnh đó, việc thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014, Văn kiện Đại hội XI, XII) và cụ thể hóa Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã dẫn đến sự ra đời của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các đạo luật này bổ sung nhiều thẩm quyền và trách nhiệm mới nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND dưới góc độ lý luận lẫn thực tiễn trong bối cảnh pháp lý mới.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS; đánh giá thực trạng mối quan hệ này theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quan hệ tố tụng giữa hai cơ quan theo định hướng cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Luận án xác định và giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKSND ở nước ngoài và ở Việt Nam; xác định những kết quả đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
- Phân tích mô hình, đặc trưng của TTHS Việt Nam; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQCSĐT và VKSND; xây dựng khái niệm, xác định đặc điểm, hình thức, nội dung mối quan hệ tố tụng giữa hai cơ quan trong điều kiện hiện nay.
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tương trợ tư pháp hình sự; làm rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong quá trình thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quy định của Hiến pháp năm 2013 và pháp luật tố tụng liên quan; đề xuất phương hướng, giải pháp, nhiệm vụ hoàn thiện trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam hiện nay, bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt nội dung và giai đoạn tố tụng: Luận án nghiên cứu mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND từ khâu tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự và trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về TTHS.
- Về mặt thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2018.
- Về nguồn dữ liệu: Sử dụng số liệu thống kê thu thập từ Cục Thống kê tội phạm VKSND tối cao và Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và điểm luận các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu thành các nhóm cụ thể:
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Nhóm nghiên cứu về mô hình TTHS và tổ chức bộ máy tư pháp: Hơn 30 công trình nghiên cứu về quan hệ giữa CQĐT/Cảnh sát và cơ quan Công tố/VKS gắn với các mô hình TTHS trên thế giới, tiêu biểu như: Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới của Michel Fromont (2006); Hệ thống pháp luật nước Anh của G. Kelly; Mô hình tố tụng và tố tụng của Jolowick; công trình Tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga của nhóm tác giả Simon Butt, Luke Nottage, Kent Anderson, Makoto Ibusuki, David Johnson, Byung-Sun Cho, Tom Ginsburg, Butler; Vượt qua tranh tụng tại phiên tòa hình sự nước Mỹ của G. Kessel; So sánh pháp luật tố tụng hình sự của Donald Chiasson (2003). Qua đó phân tích rõ đặc trưng quan hệ trong mô hình TTHS thẩm vấn (Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc...), mô hình TTHS tranh tụng (Anh, Mỹ, Australia, Indonesia...) và mô hình các nước tổ chức VKS (Nga, Trung Quốc, Lào, Hungary, Bulgaria, Phần Lan, Belarus, Ukraine...).
- Nhóm nghiên cứu về xu hướng đổi mới tổ chức, hoạt động và kiểm soát quyền lực: Gần 20 công trình, gồm báo cáo chính sách Thách thức trong cải cách công tác Cảnh sát: nâng cao hiệu quả và trách nhiệm của TS. Call (2002); báo cáo về hệ thống tư pháp Liên bang Nga và Đông Âu của GS. Butler (2010); Sổ tay dành cho những người quan tâm đến công tác chống buôn bán ma túy trái phép và các chất hướng thần của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (2000); bài viết Kiểm soát tham nhũng và hành vi lạm quyền: nghiên cứu so sánh hoạt động của Cảnh sát Hồng Kông và New York của Allan Y. Jiao (2010); các bài viết của TS. Ngô Phi Phi, J. Herrmann, David H. Bayley, Clifford D. Shearing, Stephen Johnson, Lohanna Mendelson, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí...
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về mô hình TTHS và yếu tố ảnh hưởng (24 công trình): Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước Quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do TS. Nguyễn Văn Quyền làm chủ nhiệm (2016); sách chuyên khảo của TS. Lê Hữu Thể và TS. Nguyễn Thị Thủy (2013); Đề án Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao (2011); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thủy (2014); sách Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự do GS. Võ Khánh Vinh chủ biên (2004); sách chuyên khảo của PGS. TS. Nguyễn Hòa Bình (2016); đề tài khoa học của PGS. TS. Bùi Nguyên Khánh (2010); các bài viết của PGS. TS. Trần Đình Nhã, PGS. TS. Trần Thành Hưng, TS. Đinh Thị Mai, ThS. Dư Hoàng Châu, Phí Thành Chung, GS. TS. Trần Ngọc Đường.
- Nhóm nghiên cứu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của CQCSĐT và VKSND (41 công trình): Đề tài của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Anh (2009); Đề án của Đảng ủy Công an Trung ương về tổ chức lại hệ thống CQĐT; sách chuyên khảo Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra theo định hướng cải cách tư pháp do GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Đề án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao; Luận án tiến sĩ của TS. Lê Thị Tuyết Hoa (2010), Lê Minh Long (2013), Phạm Thị Đào (2011); các bài viết của PGS. TS. Trần Vi Dân, Vũ Quang Hưng, Lê Ngọc Duy, TS. Nguyễn Kim Sáu, TS. Triệu Văn Đạt, Vũ Huy Thuận, Bùi Thị Tú Oanh, Hoàng Nghĩa Mai...
- Nhóm nghiên cứu về quan hệ giữa hoạt động điều tra và thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra (hơn 20 công trình): Sách tham khảo của TS. Nguyễn Hải Phong (chủ biên); sách của ThS. Nguyễn Thị Mai Nga; Luận án tiến sĩ của Đào Hữu Dân và Nguyễn Tiến Sơn; bài viết của TS. Vũ Mộc, TS. Nguyễn Tiến Sơn, PGS. TS. Trần Đình Nhã...
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu quan hệ giữa CQĐT nói chung và VKS trong hoạt động điều tra hoặc giải quyết từng vụ án cụ thể, phần lớn triển khai trước khi có Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tư pháp năm 2014, 2015. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong suốt toàn bộ quá trình TTHS dưới bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay; chưa đánh giá toàn diện số liệu thực tiễn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW (2008–2018) và chưa đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực tư pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cơ sở lý luận của khoa học Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
- Khung phân tích lý thuyết:
- Lý thuyết về mô hình TTHS: Phân tích mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng, xác định mô hình TTHS Việt Nam mang tính thẩm vấn là chủ yếu nhưng kết hợp các yếu tố tranh tụng theo quy định của Hiến pháp 2013 và BLTTHS 2015.
- Lý thuyết về quyền công tố và thực hành quyền công tố: Khái quát 4 quan điểm lý thuyết, xác định quyền công tố là quyền năng pháp lý do Nhà nước trao cho VKS để thực hiện việc buộc tội; thực hành quyền công tố (THQCT) là hoạt động tố tụng cụ thể nhằm hiện thực hóa quyền công tố từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án đình chỉ.
- Vị trí của CQCSĐT: Là cơ quan thuộc nhánh hành pháp (Công an nhân dân) nhưng thực hiện thẩm quyền tư pháp trong TTHS, thực hiện chức năng buộc tội thông qua hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định pháp luật, quan điểm lý luận và tổng hợp các luận điểm khoa học.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh pháp luật tố tụng hình sự và mô hình tổ chức cơ quan điều tra, công tố của các quốc gia theo mô hình tranh tụng, thẩm vấn và mô hình Viện kiểm sát (Chương 1, Chương 2).
- Phương pháp thống kê và lịch sử: Khảo sát, phân tích số liệu thực tế về giải quyết nguồn tin tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án và bị can trong 10 năm (2008–2018); theo dõi quá trình phát triển các quy định pháp luật TTHS Việt Nam (Chương 3).
- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra thực tế thu thập nhận thức, quan điểm chuyên môn của đội ngũ Điều tra viên (ĐTV) và Kiểm sát viên (KSV) về những vướng mắc trong quan hệ phối hợp và kiểm sát (Chương 3).
- Phương pháp dự báo: Phân tích bối cảnh phát triển của tội phạm và yêu cầu cải cách tư pháp để xây dựng các giải pháp hoàn thiện (Chương 4).
- Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp, liên kết các nội dung nghiên cứu theo cấu trúc logic và chặt chẽ.
Nội dung chính theo từng chương
| Chỉ tiêu / Tiêu chí thực tiễn |
Số liệu thống kê được luận án ghi nhận (Giai đoạn 2008–2018) |
Tỷ lệ tương đối |
| Phạm vi điều tra theo BLHS |
Thụ lý, điều tra 262/314 điều luật về tội phạm cụ thể |
83,4% các điều luật tội phạm |
| Tiếp nhận, thụ lý nguồn tin tội phạm |
Trung bình hơn 78.500 nguồn tin về tội phạm/năm |
~93% tổng lượng nguồn tin cả nước |
| Khởi tố, điều tra bị can |
Trung bình khoảng 70.000 bị can/năm |
~95% số vụ án, ~97% số bị can cả nước |
| Cơ quan cung cấp dữ liệu |
Cục Thống kê tội phạm VKSND tối cao & Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an |
Dữ liệu chính thức toàn quốc |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án
Chương 1 tập trung hệ thống hóa và phân tích hơn 50 tài liệu quốc tế cùng gần 90 công trình nghiên cứu trong nước. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành các nhóm chủ đề: mô hình TTHS, tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp, vị trí chức năng của CQĐT và VKS, cùng mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và thực hành quyền công tố. Trên cơ sở đánh giá kết quả của các công trình đi trước, chương này xác định rõ 4 vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận án tập trung giải quyết, khẳng định tính cần thiết của việc nghiên cứu đề tài trong điều kiện thi hành Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tư pháp năm 2014, 2015.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 làm sáng tỏ các nền tảng lý luận pháp lý:
- Mô hình TTHS: Phân tích mô hình thẩm vấn và tranh tụng trên thế giới; chỉ rõ mô hình TTHS Việt Nam sử dụng phương thức thẩm vấn là chủ yếu nhưng tiếp thu, kết hợp các nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử.
- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của CQCSĐT: CQCSĐT là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp nhưng thực hiện chức năng buộc tội thông qua 4 nhiệm vụ:
- Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Tiến hành các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ, xác định tội phạm và người phạm tội (thụ lý điều tra các tội phạm từ Chương XIV đến Chương XXIV BLHS, trừ các tội chuyển giao cho Cơ quan An ninh điều tra từ ngày 01/01/2018 theo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 như các Điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 349, 350).
- Lập và củng cố hồ sơ vụ án hình sự.
- Xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa.
- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKSND: Làm rõ 4 quan điểm về quyền công tố; khẳng định VKSND là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKSND thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn:
- Quyết định việc buộc tội và phê chuẩn/áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền công dân.
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT, giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra.
- Tham gia điều tra, đề ra bản yêu cầu điều tra có tính bắt buộc, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để thẩm định chứng cứ.
- Quyết định truy tố, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa và kháng nghị các bản án, quyết định sai lệch.
- Bản chất mối quan hệ tố tụng: Là mối quan hệ phối hợp và chế ước, kiểm soát lẫn nhau giữa hai cơ quan cùng thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước nhằm bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật.
Chương 3: Thực trạng mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2008–2018:
- Thực trạng quy định pháp luật và bộ máy: Phân tích các quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và các thông tư liên tịch.
- Thực tiễn quan hệ công tác: Khảo sát việc thực hiện quan hệ tố tụng qua các hoạt động: tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm; phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; đề ra và thực hiện bản yêu cầu điều tra; kiểm sát các hoạt động khám nghiệm hiện trường, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo và tương trợ tư pháp hình sự.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm: Tỷ lệ điều tra khám phá án tăng, nhiều vụ án lớn phức tạp được xử lý kịp thời, hạn chế oan sai.
- Hạn chế, tồn tại: Vẫn xảy ra tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần giữa VKS và CQCSĐT; một số trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng, chậm gửi quyết định tố tụng; KSV chưa bám sát hoạt động điều tra ban đầu, việc đề ra yêu cầu điều tra còn chung chung; vẫn còn vụ việc có dấu hiệu oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Nguyên nhân: Do nhận thức pháp luật chưa đồng đều giữa ĐTV và KSV; cơ chế kiểm soát quyền lực chưa chặt chẽ; quy định pháp luật còn một số điểm chưa đồng bộ, mâu thuẫn; khối lượng công việc của hai cơ quan quá lớn so với biên chế và điều kiện cơ sở vật chất.
Chương 4: Hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam thời gian tới
Chương 4 xác định phương hướng và các giải pháp cụ thể:
- Yêu cầu và định hướng: Đảm bảo phù hợp với Hiến pháp năm 2013, các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng; gắn công tố với hoạt động điều tra; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phân định rõ thẩm quyền và tăng cường kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tố tụng.
- Hệ thống giải pháp hoàn thiện:
- Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS năm 2015, quy định chi tiết trách nhiệm của KSV khi trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ chế giải quyết khi ĐTV không nhất trí với yêu cầu điều tra của VKS; hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành.
- Kiện toàn tổ chức và bộ máy: Sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức CQCSĐT và VKSND các cấp tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với thẩm quyền tố tụng mới.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng điều tra cho ĐTV và kỹ năng kiểm sát điều tra, tranh tụng cho KSV; rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phòng chống tiêu cực, bức cung, nhục hình.
- Tăng cường cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực: Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin định kỳ, kiểm tra chéo, tăng cường trách nhiệm giải trình giữa Thủ trưởng CQCSĐT và Viện trưởng VKSND cùng cấp.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Xây dựng và làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức và bản chất của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam, xác định đây là mối quan hệ phối hợp và chế ước quyền lực giữa cơ quan điều tra thuộc nhánh hành pháp và cơ quan thực hiện quyền công tố, kiểm sát tư pháp.
- Luận giải sâu sắc cơ sở lý luận của việc "gắn công tố với hoạt động điều tra, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra" theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tư pháp năm 2014, 2015.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện, có số liệu minh chứng cụ thể trong 10 năm (2008–2018) về thực trạng thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND từ khâu xử lý nguồn tin đến khi kết thúc điều tra.
- Nhận diện chính xác những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn phối hợp và kiểm sát, chỉ ra nguyên nhân của tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, vi phạm thời hạn tố tụng và sai sót nghiệp vụ.
- Về mặt giải pháp:
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật TTHS, văn bản hướng dẫn liên ngành đến đổi mới tổ chức bộ máy, cơ chế kiểm soát nội bộ và bồi dưỡng nghiệp vụ cho Điều tra viên và Kiểm sát viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chuyên sâu vào mối quan hệ giữa CQCSĐT thuộc Công an nhân dân và VKSND, chưa bao quát mối quan hệ giữa VKSND với các cơ quan điều tra khác (như Cơ quan An ninh điều tra, CQĐT trong Quân đội nhân dân hay CQĐT của VKSND tối cao). Ngoài ra, số liệu thực tiễn được khảo sát chủ yếu đến năm 2018, thời điểm BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 mới bắt đầu phát sinh hiệu lực thi hành đầy đủ trên thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đánh giá hiệu quả thực thi dài hạn của BLTTHS năm 2015 đối với mối quan hệ giữa VKSND và các hệ thống CQĐT; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế phối hợp trong việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và chuyển đổi số trong quản lý, chia sẻ dữ liệu án hình sự liên ngành.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các thông tư liên tịch, văn bản hướng dẫn áp dụng BLTTHS, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
- Đối với cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên): Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ giúp nhận diện các điểm nghẽn trong phối hợp giải quyết nguồn tin tội phạm, xây dựng yêu cầu điều tra, tham gia các hoạt động đối chất, khám nghiệm, thực nghiệm điều tra nhằm tránh oan sai, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập môn Luật Tố tụng hình sự, Khoa học điều tra hình sự, Kỹ năng kiểm sát tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật và học viện tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. CQCSĐT đảm nhận khối lượng công việc như thế nào trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam?
Theo thống kê trong luận án, CQCSĐT thụ lý điều tra các tội phạm thuộc 262/314 điều luật của Bộ luật Hình sự (chiếm 83,4%). Trong 10 năm (2008–2018), trung bình mỗi năm cơ quan này tiếp nhận, giải quyết hơn 78.500 nguồn tin tội phạm (chiếm 93% cả nước) và khởi tố, điều tra khoảng 70.000 bị can (chiếm 95% số vụ án và 97% số bị can toàn quốc).
2. Tác giả định nghĩa như thế nào về quyền công tố và thực hành quyền công tố?
Quyền công tố là quyền năng pháp lý do Nhà nước trao cho VKSND để buộc tội người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội từ khi tiếp nhận nguồn tin đến khi bản án có hiệu lực hoặc vụ án đình chỉ. Thực hành quyền công tố là hoạt động thực tế của VKSND theo quy định của pháp luật TTHS nhằm triển khai quyền năng buộc tội đó trên thực tế.
3. Mô hình TTHS Việt Nam có đặc trưng cơ bản nào theo phân tích của luận án?
Mô hình TTHS Việt Nam mang tính thẩm vấn là chủ yếu nhưng kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử. Các cơ quan tiến hành tố tụng chủ động xác minh, điều tra làm rõ sự thật khách quan, đồng thời bảo đảm vị trí bình đẳng giữa Kiểm sát viên và Người bào chữa tại phòng xử án, lấy kết quả tranh tụng làm căn cứ ra phán quyết.
4. Những hoạt động điều tra nào bắt buộc Kiểm sát viên phải có mặt theo quy định mới được đề cập trong luận án?
Theo các quy định pháp luật mới được phân tích, Kiểm sát viên bắt buộc phải có mặt khi Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét và thực nghiệm điều tra.
5. Từ ngày 01/01/2018, thẩm quyền điều tra của CQCSĐT có sự thay đổi cụ thể nào?
Theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 có hiệu lực từ 01/01/2018, thẩm quyền điều tra một số tội phạm cụ thể quy định tại BLHS năm 2015 đã được chuyển giao cho Cơ quan An ninh điều tra, bao gồm các tội danh tại các Điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 349 và 350.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đào Anh Tới là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam. Dựa trên phương pháp luận khoa học và nguồn dữ liệu thực tiễn 10 năm (2008–2018), tác giả đã làm rõ bản chất phối hợp và chế ước quyền lực giữa hai cơ quan cùng thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tư pháp năm 2015, góp phần nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, chống oan sai và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.