Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của bị hại trong Tố tụng hình sự 1. Khái niệm bị hại trong Tố tụng hình sự Bị hại là một trong hai chủ thể chính, quan trọng nhất trong pháp luật hình sự. Bị hại là người bị xâm phạm bởi tội phạm, được pháp luật hình sự quan tâm để bù đắp những tổn thất, thiệt hại, khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi bị tội phạm xâm phạm.
Bị hại là một trong những người tham gia tố tụng, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất, là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong số những người tham gia tố tụng nhưng trong các văn bản pháp luật, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có nhiều cách hiểu khác, xác định khác nhau và không đầy đủ về bị hại. Do đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và người bị hại nói riêng là một trong những nội dung quan trọng mà một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại đó là pháp luật. Pháp luật TTHS và pháp luật hình sự của nước ta không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ, trong BLTTHS thì gọi là bị hại, còn trong BLHS lại quy định là người bị hại. Pháp luật của các nước cũng không thống nhất trong thuật ngữ này, có nước thì gọi là “người bị hại”, “người tố cáo”, “người bị thiệt hại”, “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”.
Bị hại là một khái niệm quen thuộc trong khoa học pháp lý và pháp luật thực định. Dưới những góc độ khác nhau thì bị hại được hiểu theo những cách khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt thì bị hại được được gọi bằng thuật ngữ “người bị hại”. Theo đó, người bị hại là người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến [48].
Theo cách hiểu ngày, người bị hại có thể là cá nhân hoặc tổ chức mà bị thiệt hại. Tuy nhiên, giải thích trên không phân biệt được “hậu quả từ bên ngoài đưa đến” là do người hay do con vật gây ra, hậu quả đó là thiệt hại về thể chất, tinh thần hay tài sản và giới hạn của thiệt hại. Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “người bị hại” được quy định trong Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao thì người bị hại là cá nhân bị xâm phạm về thể chất, tài sản hoặc 5 Luan van tinh thần [44]. Tiếp đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra [6].
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng đưa ra khái niệm“Người bị hại” theo đó người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra [5]. Như vậy, theo các văn bản trên thì người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản. Với quy định trên làm cho khoa học pháp lý đưa ra rất nhiều ý kiến về việc có nên thừa nhận tổ chức, pháp nhân là người bị hại trong trường hợp họ bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại hay không. Qua thực tiễn áp dụng BLTTHS và xã hội đã có những thay đổi lớn theo hướng tích cực, xu hướng hội nhập khu vực và thế giới đã trở thành xu thế tất yếu, việc thừa nhận tổ chức và pháp nhân là người bị hại nhằm góp phần đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Do đó, thuật ngữ “Người bị hại” trong BLTTHS 2003 đã được thay thế bằng thuật ngữ “Bị hại” trong BLTTHS năm 2015 [4]. Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Xuất phát từ khái niệm trên ta thấy, bị hại không chỉ là con người cụ thể, mà bị hại có thể cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức trực tiếp bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Cá nhân bị thiệt hại có thể là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người bị thiệt hại có thể còn sống hoặc đã chết.
Trường hợp bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì cha, mẹ, người giám hộ của họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại. Trong trường hợp bị hại chết thì cha, mẹ, vợ, chồng, con của bị hại tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại. Nếu bị hại là cơ quan, tổ chức thì đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức tham gia với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại. Thiệt hại gây ra đó là thể chất, tinh thần, tài sản (đối với cá nhân) hoặc thiệt hại là tài sản, uy tín (đối với cơ quan, tổ chức).
Thiệt hại có thể là đã xảy ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại, nghĩa là không chỉ khi tội phạm đã hoàn thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây ra thiệt hại gì do 6 Luan van những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại. Như vậy, khái niệm bị hại theo BLTTHS năm 2015 như sau: Bị hại là chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Nếu bị hại là cá nhân thì đó là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, nếu bị hại là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Từ khái niệm bị hại ta có thể thấy, quyền được công nhận là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng để chủ thể bị thiệt hại được pháp luật bảo vệ và quyền này phát sinh từ khi người này được thừa nhận và đưa vào tham gia tố tụng hình sự với tư cách là bị hại.
Tuy nhiên, khái niệm trên chỉ quy định về nội dung xác định chủ thể là bị hại mà chưa quy định cụ thể về thời điểm, thẩm quyền, trình tự. thủ tục và hình thức xác định tư cách tố tụng bị hại. Đặc điểm bị hại trong tố tụng hình sự Từ quy định tại Điều 62 BLTTHS năm 2015 và khái niệm bị hại đưa ra ở mục 1. nêu trên, có thể thấy bị hại có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể bị hại bao gồm là cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Cá nhân bị tội phạm xâm phạm có thể là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có năng lực hành vi dân sự một phần, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Khi tham gia tố tụng hình sự, bị hại là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà còn sống thì tự mình tham gia tố tụng, bị hại là cá nhân chưa thành niên, hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thì cha, mẹ, người giám hộ của họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại. Trong trường hợp bị hại chết thì cha, mẹ, vợ, chồng, con của bị hại tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của bị hại. Bị hại cũng có thể là cơ quan, tổ chức, đây là một quy định mới về bị hại so với BLTTHS năm 2003 và các văn bản tố tụng trước đây.
Cơ quan, tổ chức không thể tự mình tham gia tố tụng nên đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức tham gia với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức không thể tham gia tố tụng được thì cơ 7 Luan van quan, tổ chức phải cử người khác làm đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của bị hại. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi người đại diện thì phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quy định này đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và bảo vệ được quyền lợi của chủ thể bị xâm phạm bởi tội phạm.
Thứ hai, loại thiệt hại do tội phạm gây Thiệt hại được phân chia bao gồm: Cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín. Thiệt hại về thể chất là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; thiệt hại về tinh thần là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm; thiệt hại về tài sản là tài sản bị mất, bị hư hỏng hoặc thiệt hại. Hậu quả của sự thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc để xác định bị hại, nghĩa là không nhất thiết phải có thiệt hại thực tế mà trong những trường hợp phạm tội chưa đạt do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của tội phạm cũng làm xuất hiện bị hại. Khoản 1 Điều 60 BLTTHS quy định, thiệt hại không chỉ là do tội phạm gây ra mà còn “đe dọa gây ra”.
Tuy nhiên, trong cấu thành tội phạm thì có cấu thành hình thức và cấu thành vật chất. Đối với những cấu thành tội phạm hình thức thì khi chưa có thiệt hại thực tế mà chỉ cần “đe dọa gây ra” thiệt hại đã cấu thành tội phạm thì lúc này làm phát sinh bị hại; trường hợp tội phạm là cấu thành vật chất, phải gây ra thiệt hại mới đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì phải có thiệt hại thực tế mới làm phát sinh bị hại. Thứ ba, tính chất của thiệt hại Thiệt hại của bị hại phải là thiệt hại trực tiếp, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho bị hại. Quy định này là sự kế thừa từ Thông tư 16 của Tòa án nhân dân tối cao và là cơ sở để phân biệt giữa bị hại với nguyên đơn dân sự.