Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt 1. Khái niệm hình phạt Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật, mang tính khách quan do đó nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học: triết học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học Luật hình sự.Trong khoa học luật hình sự một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hình phạt. Khoa học luật hình sự từ trước đến nay quan điểm về hình phạt chia thành 3 loại: - Hình phạt là công cụ để trừng trị, trả thù người phạm tội; - Hình phạt là công cụ để phòng ngừa tội phạm; - Hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội mà còn là công cụ để phòng ngừa tội phạm.
Thứ nhất hình phạt là công cụ để trừng trị, trả thù của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị hay học thuyết hình phạt tuyệt đối do I. Việc áp dụng hình phạt nhằm đảm bảo công lý, công bằng. Hình phạt theo học thuyết hình phạt tuyệt đối, nó là sự trừng trị, trả thù, người bị hại được đền bù công bằng. Hegel lại coi hình phạt là sự phủ định của sự phủ định (negation der negation), tội phạm là sự phủ định các quyền, nên hình phạt là công cụ để phủ định tội phạm, nhằm khôi phục lại các quyền đã bị vi phạm.
Hình phạt là sự trừng trị, trả thù của Nhà nước, là điều ác trả bằng điều ác. Thứ hai, hình phạt là công cụ để phòng ngừa tội phạm. Học thuyết về phòng ngừa tội phạm của hình phạt hay còn gọi là học thuyết hình phạt tương đối do Cesare Beccaria, một luật gia người Italia khởi xướng, sau đó là Jeremy 11 n Bentham, P. Học thuyết này, coi hình phạt không phải là việc trả thù đối với người phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tương lai.
Thứ ba, hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội mà còn là công cụ để phòng ngừa tội phạm. Những người đại diện cho quan niệm này là A. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, định hướng chủ yếu của đấu tranh phòng và phòng ngừa tội phạm nằm trong việc tiếp tục phát triển và mở rộng các mối quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa các nhà nghiên cứu Luật hình sự nước ta luôn đi theo tư tưởng tiến bộ, nhân đạo về hình phạt. Định nghĩa về hình phạt tại Điều 26 BLHS năm 1999: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [23]. BLHS 2015 có những điểm mới, nâng cao vai trò đấu tranh phòng, chống tội phạm, đáp ứng phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Khái niệm về hình phạt đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, nghiên cứu và được quy định trong BLHS. Tác giả luận văn hoàn toàn đồng tình với khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS 2015, theo đó hình phạt có thể được hiểu là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [25].
Khái niệm áp dụng hình phạt Áp dụng hình phạt là một giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật hình sự, mang tính quyền lực Nhà nước do Tòa án thực hiện trong giai đoạn 12 n xét xử các vụ án hình sự. Áp dụng hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt để áp dụng phải tuân thủ theo những quy định của Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự từ khi thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử; đưa vụ án ra xét xử; ban hành các quyết định, bản án. Áp dụng hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán, Hội thẩm phải cân nhắc toàn diện các tình tiết khác nhau của vụ án, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, tình hình và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương và cả nước để bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng trong phán quyết của mình. Áp dụng hình phạt đúng căn cứ giúp cho người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án tự ý thức được sự công bằng của pháp luật, tự nhận thấy được lỗi lầm để cải tạo và trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Vì vậy, áp dụng hình phạt là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự, mang tính quyền lực Nhà nước, do Hội đồng xét xử là những người được Nhà nước trao quyền thực hiện trong giai đoạn xét xử. HĐXX tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội. Đặc điểm của áp dụng hình phạt Thứ nhất: Áp dụng hình phạt trong hoạt động là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, do Hội đồng xét xử là những người được Nhà nước trao quyền thực hiện trong giai đoạn xét xử Hiến pháp năm 2013 quy định chỉ Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp là xét xử. Hội đồng xét xử nhân danh nước CHXHCNVN mới có quyền quyết định một người có tội hay không, hoạt động áp dụng hình phạt 13 n là hoạt động được tiến hành sau cùng trong quá trình áp dụng các quy định của BLHS để đưa ra một loại hình phạt và mức hình phạt đối với bị cáo.
Do đó, áp dụng hình phạt của Hội đồng xét xử là trọng tâm của hoạt động tố tụng hình sự. Đây là hoạt động áp mang tính quyền lực Nhà nước, chủ thể trực tiếp thực hiện áp dụng hình phạt của Tòa án là HĐXX. Thứ hai: Hình phạt là chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước được áp dụng với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Tội phạm là hành vi có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn những hành vi vi phạm pháp luật khác nên Nhà nước áp dụng hình phạt, việc này xuất phát từ mối quan hệ tương xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tính nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế cần áp dụng, phát huy được tính hiệu quả trong đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Áp dụng hình phạt thể hiện tính chất nghiêm khắc ở chỗ nó tước hoặc hạn chế một hoặc một số quyền, lợi ích thiết thân của người phạm tội như tự do thân thể đi lại và cư trú, một số quyền chính trị, thậm chí là quyền được sống. Hình phạt tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền của pháp nhân thương mại phạm tội như: quyền hoạt động kinh doanh, quyền huy động vốn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Căn cứ vào Điều 30 BLHS “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”. Luật Hình sự Việt Nam chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội chỉ người nào hoặc pháp nhân thương mại nào phạm tội người ấy hoặc pháp nhân thương mại đấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba: Hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự và do HĐXX quyết định áp dụng bằng bản án có hiệu lực đối với người phạm tội. 14 n Áp dụng hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự đảm bảo cho việc nhận thức áp dụng một cách thống nhất và chuẩn mực chung cho việc quyết định hình phạt, tránh áp dụng hình phạt tuỳ tiện không đủ cơ sở để quyết định hình phạt. Việc quy định quy định đầy đủ trong BLHS về áp dụng hình phât đảm bảo cho Hội đồng xét xử có cơ sở đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án hình sự. Thứ tư: Áp dụng hình phạt của HĐXX công khai tại phiên tòa Tại phiên tòa các tài liệu chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố được đánh giá, xem xét, tranh tụng công khai để làm sáng tỏ bản chất của vụ án.
Phán quyết của Hội đồng xét xử có căn cứ dựa trên kết quả tranh tụng tại tòa, áp dụng hình phạt của Hội đồng xét xử được tiến hành công khai, khách quan, dân chủ, công bằng tại phiên tòa, đây là hoạt động quan trọng nhất trong việc giải quyết vụ án hình sự. Áp dụng hình phạt của Tòa án nhằm xác định tội danh và áp dụng hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo trong vụ án hình sự. HĐXX sau khi định tội danh, quyết định trách nhiệm hình sự đối với mỗi bị cáo còn phải giải quyết các vấn đề về bồi thường thiệt hại về dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo. Thứ năm: Áp dụng hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án mang tính cá biệt hóa Áp dụng hình phạt là việc cá biệt hoá nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam và đòi hỏi phải được tuân thủ trong khi xây dựng, giải thích và áp dụng luật hình sự để hình phạt đã tuyên có cơ sở đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo, đảm bảo sự mềm dẻo, hiệu quả trong việc áp dụng hình phạt.
Trách nhiệm hình sự càng được phân hóa trong luật có cơ sở cho việc cá biệt hóa hình phạt trong áp dụng. Cá biệt hóa trong áp dụng hình phạt biểu hiện của phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật như: phân loại tội phạm thành các nhóm tội khác nhau để có các quy định khác nhau về trách nhiệm hình sự; đa 15 n dạng hóa hệ thống hình phạt; cụ thể hóa các căn cứ áp dụng hình phạt; cụ thể hóa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản để phân hóa tội danh; phân hóa chế tài của mỗi tội thành nhiều khung hình phạt khác nhau.