Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 1. Khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ Cải tạo không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định, xét thấy không cần thiết phải tước tự do của người bị kết án, không cần phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội mà giao họ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương UBND Xã nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục với khoảng thời gian từ 6 tháng đến 3 năm [46]. Cải tạo không giam giữ là hình phạt nghiêm khắc nhất trong số các hình phạt chính không phải tù, đứng sau hình phạt tù có thời hạn. Khác với hình phạt tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi môi trường sống bình thường, nơi trước khi phạm tội họ sống, công tác mà vẫn để họ tham gia lao động, học tập và sinh hoạt có tổ chức và kỷ luật trong môi trường sống thích hợp, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án thường trú và gia đình họ nhằm giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật, thượng tôn quy tắc của cuộc sống xã hội [6, tr.
Trong phần các tội phạm BLHS, cải tạo không giam giữ là hình phạt không tước tự do của người bị kết án được quy định phổ biến nhất. BLHS đã bỏ hình phạt cải tạo tại đơn vị kỷ luật của quân đội. Hình phạt này thực chất là hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng được áp dụng đối với quân nhân phạ tội. Tuy nhiên, trong trường hợp bị phạt này người bị kết án phải chấp hành án tại một cơ sở đặc biệt là đơn vị kỷ luật của quân đội, điều này trái với bản chất của hình phạt cải tạo không giam giữ - một loại hình phạt không tước tự do của người bị kết án… Cho nên, nhà làm luật cho rằng không cần thiết quy định hình phạt cải tạo ở đơn vị của quân đội đối với quân nhân phạm tội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với họ để họ cải tạo ở ngay tại đơn vị của mình [6, tr.
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có tính chất nghiêm khắc hơn so với hình phạt tiền và cảnh cáo nhưng nhẹ hơn hình phạt tù. Do vậy, theo quy định 11 Luan van của pháp luật Tòa án chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội khi thỏa mãn những điều kiện sau đây: - Áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là bảy năm. - Người phạm tội phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng.
Thời hạn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 3 năm. Riêng đối với người chưa thành niên phạm tội thì thời hạn cải tạo không giam giữ áp dụng với họ là không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định (Điều 73 BLHS năm 2015). Trong trường hợp người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 3 ngày cải tạo không giam giữ. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó. Luật thi hành án hình sự năm 2019 và các văn bản pháp luật của Chính phủ quy định về việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ quy định: cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương có thể được Tòa án giao trách nhiệm trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Luật thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ của Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án như: Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án; Tạo điều kiện để người bị kết án lao động, học tập và hòa nhập vào cuộc 12 Luan van sống chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan khác và gia đình người bị kết án trong việc giáo dục, cảm hóa, giúp họ sửa chữa lỗi lầm…Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tọa không giam giữ cho người bị kết án; Nhận xét bằng văn bản và ghi vào sổ theo dõi về quá trình chấp hành hình phạt của người bị kết án khi người đó chuyển đi nơi khác; Tiến hành khấu trừ một phần thu nhập của người bị kết án theo quy định của Tòa án để giao nộp cho cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS năm 2015 thì người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Đây là quy định mang tính bắt buộc đối với người bị tuyên án. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Pháp luật hình sự quy định: Nếu người bị kết án cải tạo không giam giữ là người dưới 18 tuổi phạm tội và chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự thì không khấu trừ thu nhập của người đó (khoản 2 Điều 100 BLHS năm 2015); Nghĩa vụ của người chấp hành án cải tạo không giam giữ, họ phải: Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ theo bản án của Tòa án…; Như vậy, hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính trong hệ thống các hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, trong đó người bị kết án cải tạo không giam giữ bị cải tạo, giáo dục không cần cách ly khỏi xã hội mà họ được giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và gia đình giáo dục, giám sát tại nơi họ sinh sống hoặc làm việc ổn định. Đặc điểm hình phạt cải tạo không giam giữ Trong pháp luật Việt Nam, hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự là biện pháp cưỡng chế “nặng” nhất được Nhà nước áp dụng khi muốn tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người bị kết án. Nhà nước đặt ra hình phạt nhưng hình phạt đó phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người phạm tội thực hiện. Những yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm cho xã hội như: Nhân thân người phạm tội, các quan hệ xã hội đã bị xâm phạm, hậu quả đã xảy 13 Luan van ra hoặc sẽ xảy ra cho xã hội, tâm lý chủ quan của người phạm tội.
Theo quy định pháp luật hình sự, các hình phạt được quy định là hình phạt chính được sắp xếp theo mức độ tang dần như sau: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Cải tạo không giam giữ là hình phạt nghiêm khắc nhất trong số các hình phạt không phải tù, nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn [23, tr. Căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự về hình phat cải tao không giam giữ chúng ta thấy có các đặc điểm sau: Một là, hình phạt cải tạo không giam giữ không cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm trong trường hợp người kết án thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, có nơi làm việc rõ ràng hoặc có nơi thường trú ổn định.
Vì vậy, đặc điểm chính của hình phạt cải tạo không giam giữ là vừa có thể trừng trị và giáo dục người bị kết án mà không phải cách ly họ ra khỏi cuộc sống bình thường. Như vậy, người phạm tội vừa được tham gia lao động trong môi trường phù hợp vừa được trả công lao động và được hưởng các chế độ xã hội như trước khi bị kết án. Hai là, việc thi hành án cải tạo không giam giữ không phải được giao cho một cơ quan thi hành án duy nhất chuyên trách thực hiện. Đây là một đặc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ, vì thông thường tương ứng với từng hình phạt thì có một cơ quan chuyên trách thi hành.
Nhiệm vụ giám sát, trông coi người bị kết án cải tạo không giam giữ là của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức xã hội nơi người người phạm tội sinh sống và làm việc. Đây là hình phạt thể hiện rõ quan điểm xã hội hoá công tác thi hành án của Đảng và nhà nước ta. Sự hiệu quả của chính sách này phụ thuộc vào sự phối hợp giữa cơ quan, tổ chức và gia đình người bị kết án.