CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI 1. Nhận thức chung về tội giết người trong pháp luật hình sự Việt Nam: 1. Khái niệm tội giết người: Hiện nay trên thế giới có một số nước quy định khái ni ệm t ội gi ết người ngay trong BLHS như Trung Quốc, Thụy Điển, Thái Lan, Liên bang Nga,.Song, cũng có một số nước không khái niệm tội gi ết ng ười trong BLHS như Việt Nam, Nhật Bản. Trong hai xu hướng trên, Việt Nam theo xu hướng thứ hai, đó là không quy định cụ thể khái niệm tội giết người trong BLHS.
Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều quan đi ểm về khái niệm tội giết người. Trong đó có thể nhắc đến m ột s ố các quan điểm sau: Theo Bình luận khoa học BLHS năm 1999 của tiến sĩ luật h ọc Phùng Thế Vắc và Trần Văn Luyện: “ Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quy ền s ống c ủa ng ười khác” [37, tr 51]. Theo Bùi Anh Tuấn và Bùi Thị Nệ cho rằng “ Tội giết người là hành vi làm chết người người khác một cách cố ý và trái pháp luật ” [34, tr 7].Theo TS Đỗ Đức Hồng Hà trong Bình luận tội giết người và một số vụ án ph ức tạp cũng đưa ra quan điểm tương tự nhưng đầy đủ hơn: “ Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp lu ật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi tr ở lên th ực hi ện ” [12, tr 52]. Theo TS Đinh Văn Quế trong Bình luận khoa học BLHS ph ần các t ội phạm tập 1- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân ph ẩm, danh d ự của con người: “giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” [24, tr 22].
Cũng quan điểm ấy, TS Phạm Mạnh Hùng trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập (Phần các t ội phạm)- Tập 1 đã đưa ra khái niệm giết người một cách ng ắn g ọn h ơn (rút bớt từ “ cố ý”) nhưng vẫn đầy đủ về nghĩa: “ giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” [14, tr 38 ]. Từ các quan điểm trên về khái niệm tội giết người, có thể thấy: Thứ nhất, các quan điểm trên hầu hết đều đề cập đến dấu hiệu lỗi là lỗi cố ý. Tuy nhiên, chỉ cần quy định “ giết người” mà không quy định cố ý giết người, vì từ “giết” đã bao hàm cả sự cố ý. Ngoài ra, việc sử dụng thu ật ngữ giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính mạng” của người khác cũng chưa chính xác vì “tước đoạt” cũng đã bao hàm sự cố ý.
Do đó, không cần thiết quy định giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính mạng. Như vậy, yếu tố lỗi cố ý là dấu hiệu đã được bao hàm trong các khái ni ệm giết người cho dù không thể hiện trực tiếp trong kỹ thuật xây dựng câu từ. Thứ hai, các quan điểm trên đều đề cập đến tính “trái pháp luật” của hành vi giết người. Việc gây ra cái chết cho người khác nhưng không trái pháp luật, tức là được pháp luật cho phép thì không phải là ph ạm t ội gi ết người (Ví dụ như thi hành án tử hình).
Do đó, khi quy đ ịnh khái ni ệm v ề t ội giết người cần thiết phải nêu rõ đó là hành vi tước đoạt tính mạng (hoặc c ố ý gây ra cái chết) của người khác một cách “ trái pháp luật”. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng“trái pháp luật” và “trái ý muốn của nạn nhân” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, chẳng hạn như trong trường h ợp thi hành án t ử hình mặc dù “trái ý muốn” của người tử tù nhưng lại không trái pháp luật thì không thể coi là phạm tội giết người. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận hình thức “an tử”, tức là mang đến cái chết cho nh ững ng ười do mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đã cao tuổi có nhu cầu được ra đi b ằng các lo ại thuốc y tế. Do đó, trường hợp này mặc dù không trái ý muốn của n ạn nhân nhưng vẫn bị coi là trái pháp luật.
Thứ ba, trong một số định nghĩa có đề cập đến năng lực trách nhi ệm hình sự của người phạm tội. Trên cơ sở khoa học pháp lý hình s ự, đ ể có được năng lực này con người phải đạt đến độ tuổi nhất định, trải qua quá trình phát triển về thể chất và tinh thần để hình thành và hoàn thi ện kh ả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Do vậy, vi ệc đ ề c ập đ ến năng lực trách nhiệm hình sự trong các định nghĩa trên c ần đ ược hi ểu là đã bao hàm độ tuổi chịu TNHS. Từ những phân tích trên, tác giả tiếp nhận các quan đi ểm trên và đ ưa ra định nghĩa khái niệm tội giết người như sau: “ Giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, do ng ười có đ ủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Các yếu tố cấu thành tội giết người: 1. Khách thể: Tội giết người xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và b ảo vệ tính mạng của con người thông qua sự tác động làm biến đ ổi tình tr ạng bình thường của đối tượng tác động - con người đang sống. Con ng ười đang sống trong xã hội có quyền tự nhiên là quyền s ống, đòi h ỏi các ch ủ thể khác phải tôn trọng. Như vậy, khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
Đối tượng tác động của tội giết người là thân thể con người đang sống mà hành vi phạm tội tác động vào để xâm phạm đ ến quy ền s ống c ủa họ. Thời điểm để xác định tình trạng “sống” của con người được tính từ khi con người đó tồn tại tách biệt với cơ thể người mẹ và tự th ực hi ện đ ược quá trình trao đổi chất trong cơ thể và kết thúc khi người đó ch ấm d ứt hoàn toàn các hoạt động sinh học của cơ thể. Việc xác định sự sống của một con người bằng giấy khai sinh và giấy báo tử ch ỉ mang tính ch ất pháp lý chứ không được coi là căn cứ để xác định tình tr ạng “s ống” c ủa con người với tư cách là đối tượng tác động của tội giết ng ười. Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan tr ọng.
Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không ph ải hay ch ưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống, quyền đ ược tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, vì vậy, hành vi đó không ph ạm tội giết người. Mặt khách quan Mặt khách quan của tội giết người là những biểu hiện của tội gi ết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, bao g ồm: Hành vi khách quan của tội giết người, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan với hậu qu ả nguy hiểm cho xã hội. Hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành vi khách quan c ủa t ội ph ạm) là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm. Hành vi khách quan của tội phạm nói chung và của tội giết người nói riêng là nh ững bi ểu hi ện của con người ra ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể, có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí.
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi gây ra cái chết cho ng ười khác m ột cách trái pháp luật. Hành vi này có thể được thực hiện dưới dạng hành động ph ạm tội (đâm, đánh, chém, bắn, bóp cổ.) hoặc không hành đ ộng ph ạm t ội (không cho ăn, không cho uống, không cung cấp các đi ều ki ện s ống thi ết yếu mặc dù có nghĩa vụ và điều kiện thực hiện). Hậu quả của tội giết người chính là thiệt hại do hành vi ph ạm t ội gi ết người gây ra cho quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền s ống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Vì tội gi ết ng ười là tội phạm cấu thành vật chất nên thời điểm hoàn thành c ủa tội ph ạm này là thời điểm nạn nhân đã chết về mặt sinh học - giai đo ạn cu ối cùng c ủa s ự chết mà ở đó sự sống của con người không có khả năng ph ục h ồi.
Trong trường hợp người phạm tội mong muốn gây hậu quả chết người nhưng hành vi đó không dẫn đến hậu quả chết người vì những lý do khách quan thì hành vi phạm tội giết người chưa hoàn thành mà có th ể là ở giai đo ạn phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội Về mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả: Hành vi là nguyên nhân gây ra chết người phải là hành vi xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian. Tuy nhiên không phải bất cứ hành vi nào xảy ra trước hậu qu ả ch ết ng ười đ ều là nguyên nhân mà chỉ những hành vi có mối quan h ệ n ội t ại, t ất y ếu v ới hậu quả thì mới là nguyên nhân. Theo TS Đỗ Đức Hồng Hà: “ Hành vi khách quan của tội giết người được coi là nguyên nhân gây ra h ậu qu ả ch ết cho người khác nếu thỏa mãn 03 điều kiện: 1) Hành vi khách quan c ủa t ội gi ết người xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian. 2) Hành vi khách quan c ủa t ội giết người độc lập hoặc trong mối quan hệ tổng hợp với một hay nhi ều hi ện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu qu ả ch ết người khác.
Khả năng này chính là khả năng trực tiếp làm bi ến đ ổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm – con người đang sống.