Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm tại Việt Nam diễn biến phức tạp. Tội giết người là một trong những loại tội phạm nguy hiểm nhất, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người đã được ghi nhận tại Điều 19 và Điều 20 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên địa bàn toàn quốc nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng, tội phạm giết người trong giai đoạn nghiên cứu có chiều hướng gia tăng về số vụ cũng như tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
Nhằm tăng cường hiệu lực của các cơ quan tư pháp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đặt ra yêu cầu trọng tâm: "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra". Cụ thể hóa chủ trương này, ngày 06/12/2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC về "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm", yêu cầu toàn ngành Kiểm sát nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và kiên quyết không để xảy ra oan, sai.
Tại tỉnh Cao Bằng, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) các cấp đã nỗ lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra (THQCT, KSĐT) các vụ án giết người. Tuy nhiên, hoạt động của Kiểm sát viên (KSV) tại địa phương vẫn bộc lộ những hạn chế: vai trò, trách nhiệm của KSV chưa được phát huy đầy đủ, hoạt động thực hành quyền công tố chưa đạt hiệu quả tối ưu, kiểm sát điều tra có lúc chưa chặt chẽ, cùng với việc các quy định pháp luật còn mang tính chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể. Do đó, tác giả (sinh viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội) đã lựa chọn đề tài "Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án giết người trên địa bàn tỉnh Cao Bằng" làm khóa luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động THQCT, KSĐT tội giết người của VKSND tỉnh Cao Bằng; chỉ ra các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn công tác, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận: lý luận về tội giết người theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS); lý luận về THQCT, KSĐT; hoạt động THQCT, KSĐT các vụ án giết người từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc điều tra.
- Thứ hai, làm rõ thực trạng hoạt động THQCT, KSĐT tội giết người của VKSND trên địa bàn tỉnh Cao Bằng: tình hình, kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác.
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT, KSĐT các vụ án giết người.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động THQCT, KSĐT các vụ án về tội giết người trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của KSV khi THQCT, KSĐT về tội giết người của VKSND tỉnh Cao Bằng trong thời gian 05 năm (từ năm 2014 đến hết năm 2018), giới hạn trong giai đoạn từ sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi kết thúc hoạt động điều tra.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn.
Cơ sở lý luận của khóa luận kế thừa và đối chiếu các quan điểm khoa học pháp lý hình sự và tố tụng hình sự từ nhiều công trình tiêu biểu:
- Về tội phạm học và luật hình sự: Các giáo trình, sách bình luận khoa học của TS. Phùng Thế Vắc và Trần Văn Luyện (1999); Bùi Anh Tuấn và Bùi Thị Nệ; TS. Đỗ Đức Hồng Hà (2018) với Bình luận tội giết người và một số vụ án phức tạp; TS. Đinh Văn Quế (2006) với Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm tập 1; TS. Phạm Mạnh Hùng trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Tập 1); GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa về mặt chủ quan của tội phạm; công trình của Hoàng Long (1998) về đặc điểm hình sự tội giết người, cướp tài sản; Nguyễn Văn Điều (2000) về tổ chức điều tra vụ án giết người tại Hà Tây.
- Về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra: TS. Lê Hữu Thể (chủ biên, 2005) trong Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra; Nguyễn Ngọc Điệp; Vũ Việt Hùng (2010) với chuyên đề kinh nghiệm THQCT và KSĐT án giết người; Vũ Đức Hạnh (2012); Đoàn Tạ Cửu Long (2013); Nguyễn Văn Lượng (2012) tại Bắc Giang; Nguyễn Quốc Hân (2019) với luận án tiến sĩ về THQCT trong điều tra các tội giết người; cùng tập bài giảng nghiệp vụ chuyên sâu của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
Cơ sở pháp lý trực tiếp được trích dẫn và sử dụng trong toàn bộ khóa luận bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 19, Điều 20).
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (các Điều 9, 10, 12, 16, 21, 29, 51, 91, 123).
- Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (các Điều 110, 113, 117, 118, 119, 121, 123, 133, 153, 155, 157, 159, 161, 173, 179, 180, 183, 189, 201, 202, 204, 229, 230, 231, 235).
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 4).
- Quy chế tạm thời về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC (các Điều 12, 14, 15, 16, 26, 28, 29, 41).
- Thông tư liên tịch số 04/2018 quy định về phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án giết người
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ hệ thống lý luận nền tảng về tội giết người và hoạt động THQCT, KSĐT theo quy định pháp luật Việt Nam.
1. Nhận thức chung về tội giết người trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả phân tích kỹ thuật lập pháp hình sự: một số quốc gia quy định định nghĩa tội giết người trong BLHS (như Trung Quốc, Thụy Điển, Thái Lan, Liên bang Nga), trong khi Việt Nam và Nhật Bản không đưa ra định nghĩa trực tiếp trong điều luật mà để khoa học pháp lý kiến giải. Sau khi phân tích các quan điểm của các học giả (Phùng Thế Vắc, Đỗ Đức Hồng Hà, Đinh Văn Quế, Phạm Mạnh Hùng), tác giả đưa ra định nghĩa: "Giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện". Định nghĩa này giải quyết 3 vấn đề: (1) Thuật ngữ "tước đoạt" hoặc "giết" đã mặc nhiên bao hàm yếu tố lỗi cố ý; (2) "Trái pháp luật" phân biệt với các hành vi làm chết người hợp pháp (như thi hành án tử hình) và phân biệt với "trái ý muốn" (như trường hợp hành vi an tử vẫn bị coi là trái pháp luật tại Việt Nam); (3) Năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) đã bao hàm cả điều kiện về độ tuổi.
Bốn yếu tố cấu thành tội giết người được phân tích chi tiết:
- Khách thể: Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Đối tượng tác động là con người đang sống (xác định từ khi tồn tại độc lập với cơ thể người mẹ, tự thực hiện trao đổi chất đến khi chấm dứt hoàn toàn các hoạt động sinh học; giấy khai sinh hay giấy báo tử chỉ mang tính pháp lý chứ không phải căn cứ sinh học xác định sự sống).
- Mặt khách quan: Hành vi khách quan biểu hiện dưới dạng hành động (đâm, chém, đánh, bắn, bóp cổ...) hoặc không hành động (không cung cấp điều kiện sống thiết yếu khi có nghĩa vụ và điều kiện thực hiện). Hậu quả là cái chết sinh học của nạn nhân (tội phạm có cấu thành vật chất; nếu chưa chết do nguyên nhân khách quan thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt). Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả phải thỏa mãn 3 điều kiện do TS. Đỗ Đức Hồng Hà xác lập: hành vi xảy ra trước hậu quả; hành vi chứa đựng khả năng thực tế trực tiếp làm biến đổi tình trạng sống của nạn nhân; hậu quả xảy ra là sự hiện thực hóa khả năng thực tế đó.
- Chủ thể: Người từ đủ 14 tuổi trở lên và có đủ năng lực TNHS (Khoản 1 Điều 9, Khoản 2 Điều 12, Điều 123 BLHS năm 2015). Người mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thuộc Điều 21 BLHS thì không phải chịu TNHS; nếu chỉ hạn chế khả năng thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
- Mặt chủ quan: Lỗi là dấu hiệu bắt buộc, biểu hiện dưới dạng cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp (Điều 10 BLHS năm 2015). Đánh giá lỗi dựa trên quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (làm rõ người phạm tội có thấy trước hậu quả không, thái độ tâm lý đối với hậu quả ra sao) thông qua tính chất công cụ, phương tiện, vị trí tấn công, sức chống đỡ của nạn nhân và tâm lý thủ phạm. Động cơ, mục đích không phải dấu hiệu bắt buộc nhưng là căn cứ để định tội danh hoặc định khung hình phạt (như giết người để che giấu tội phạm khác).
2. Nhận thức chung về THQCT và KSĐT các vụ án giết người
Tác giả xác định THQCT trong giai đoạn điều tra là hoạt động của VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước từ sau khi khởi tố vụ án đến khi CQĐT kết thúc điều tra. KSĐT là hoạt động của VKSND kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT và các chủ thể khác trong cùng giai đoạn đó. Hai chức năng hiến định này có sự phân định nhưng gắn kết hữu cơ:
| Tiêu chí phân định |
Thực hành quyền công tố (THQCT) |
Kiểm sát điều tra (KSĐT) |
| Đối tượng tác động |
Tội phạm và người phạm tội giết người |
Toàn bộ hoạt động điều tra, hành vi và quyết định tố tụng của CQĐT, người tiến hành và tham gia tố tụng |
| Căn cứ pháp lý |
Dựa chủ yếu vào luật nội dung (BLHS và các quy định tương ứng của BLTTHS) |
Dựa chủ yếu vào luật hình thức (trình tự, thủ tục tố tụng hình sự của BLTTHS) |
| Hình thức văn bản |
Ban hành các lệnh, quyết định tố tụng (phê chuẩn, hủy bỏ, khởi tố...) |
Ban hành các kiến nghị, kháng nghị xử lý vi phạm, thiếu sót trong quá trình điều tra |
| Mối quan hệ |
Là tiền đề làm phát sinh hoạt động kiểm sát; định hướng cho điều tra đúng bản chất vụ án |
Tạo tiền đề, điều kiện kiểm tra tính hợp pháp để thực hiện quyền công tố chính xác, không oan sai, không lọt tội |
3. Nội dung THQCT, KSĐT trong từng hoạt động tố tụng cụ thể
Tác giả hệ thống hóa các quy định của BLTTHS năm 2015 và Quy chế 03/QĐ-VKSTC thành các nhóm công tác nghiệp vụ:
- Khởi tố vụ án và khởi tố bị can: Kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án (xác định sự việc qua dấu vết máu, dấu vết súng đạn, thương tật, biên bản khám nghiệm hiện trường... Điều 12 Quy chế). Kiểm sát việc khởi tố bị can: CQĐT gửi quyết định trong 24 giờ, VKS xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ trong 3 ngày (Điều 179 BLTTHS). VKS có thẩm quyền trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc yêu cầu thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố (Điều 180 BLTTHS).
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn:
- Giữ và bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Kiểm sát căn cứ Điều 110 BLTTHS, Điều 15 Quy chế và Thông tư liên tịch 04/2018 về thẩm quyền, nội dung lệnh và thủ tục thi hành.
- Tạm giữ: Kiểm tra thẩm quyền và điều kiện tạm giữ (Điều 117 BLTTHS); thời hạn 12 giờ để Lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn gia hạn tạm giữ (Điều 118 BLTTHS, Điều 16 Quy chế).
- Bắt bị can để tạm giam, tạm giam: Thời hạn 3 ngày để VKS phê chuẩn lệnh tạm giam.
- Các biện pháp ngăn chặn khác: Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh (Điều 121, Điều 123 BLTTHS) khi không cần thiết áp dụng tạm giam.
- Kiểm sát các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ:
- Đề ra yêu cầu điều tra: Bằng văn bản hoặc lời nói; tập trung vào xác định dấu hiệu giết người hay tự sát/tai nạn/bệnh lý, thủ phạm, đồng phạm, hung khí, động cơ, chứng cứ buộc tội và gỡ tội. Với các vụ án trọng điểm, phức tạp, dư luận quan tâm, KSV phải xin ý kiến lãnh đạo Viện trước khi ký văn bản (Điều 26 Quy chế).
- Khám nghiệm hiện trường và tử thi: KSV kiểm sát việc chụp ảnh, vẽ sơ đồ, thu giữ dấu vết (Điều 201 BLTTHS). Lưu ý các dạng hiện trường đặc thù: súng đạn (tìm hướng bắn, vỏ đạn, đầu đạn), bom mìn (điểm nổ, mẩu mỏ vịt, dây cháy chậm), chết treo cổ (vết hằn trước hay sau khi chết), ngộ độc (thu giữ thức ăn, chất nôn, thuốc), chết ngạt nước. Khám nghiệm tử thi (Điều 202 BLTTHS) gồm khám ngoài và mổ tử thi khám trong; trường hợp có từ 2 tử thi trở lên hoặc dư luận đặc biệt quan tâm thì Lãnh đạo Viện phải trực tiếp cùng KSV tham gia.
- Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại: KSV trực tiếp hỏi cung trong các trường hợp: bị can kêu oan, khiếu nại điều tra, có căn cứ điều tra vi phạm pháp luật, lời khai mâu thuẫn/bất nhất, hoặc bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 28, 29 Quy chế).
- Đối chất và thực nghiệm điều tra: Tiến hành đối chất theo Điều 189 BLTTHS khi có mâu thuẫn gay gắt trong lời khai nhằm tránh bị can liên kết đối phó. Thực nghiệm điều tra (Điều 204 BLTTHS) bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi nhưng nghiêm cấm xâm phạm tính mạng, sức khỏe người tham gia.
- Kiểm sát tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, phục hồi và kết thúc điều tra: Kiểm sát căn cứ tạm đình chỉ (Điều 229 BLTTHS) gắn với yêu cầu ra quyết định truy nã bị can (Điều 231 BLTTHS). Đình chỉ điều tra (Điều 230 BLTTHS) theo các căn cứ tại Điều 157 BLTTHS, Điều 16, Điều 29, Khoản 2 Điều 91 BLHS hoặc khi hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được tội phạm. KSV có 15 ngày nghiên cứu hồ sơ đình chỉ điều tra để xử lý theo Điều 41 Quy chế.
Dưới đây là bảng tổng hợp các quy định pháp luật về thời hạn tạm giam và gia hạn điều tra đối với các khung hình phạt của tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015):
| Khung phân loại tội phạm theo Điều 123 BLHS 2015 |
Thời hạn tạm giam điều tra ban đầu |
Thời hạn điều tra ban đầu |
Quy định về gia hạn điều tra |
Khoản 1 Điều 123 (Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) |
Không quá 04 tháng |
Không quá 04 tháng |
Gia hạn điều tra tối đa 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng (tối đa 16 tháng). Trường hợp rất phức tạp chưa thể kết thúc, Viện trưởng VKSNDTC có thể gia hạn thêm 01 lần không quá 04 tháng. |
Khoản 2 Điều 123 (Tội phạm rất nghiêm trọng) |
Không quá 04 tháng |
Không quá 04 tháng |
Gia hạn điều tra tối đa 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng (tổng thời gian điều tra tối đa không quá 12 tháng). |
Khoản 3 Điều 123 (Chuẩn bị phạm tội - Tội phạm nghiêm trọng) |
Không quá 03 tháng |
Không quá 03 tháng |
Gia hạn điều tra tối đa 02 lần: lần thứ nhất không quá 03 tháng, lần thứ hai không quá 02 tháng (tổng thời gian điều tra tối đa không quá 08 tháng). |
Chương 2: Thực tiễn và một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án giết người trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Căn cứ vào đề cương kết cấu của khóa luận, Chương 2 triển khai hai nội dung trọng tâm:
- Thực trạng THQCT, KSĐT các vụ án giết người của VKSND tỉnh Cao Bằng (2014 – 2018): Đánh giá tình hình tội phạm giết người thực tế tại địa phương; kết quả đạt được trong việc phê chuẩn khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, kiểm sát khám nghiệm và điều tra; chỉ ra những hạn chế (KSV chưa phát huy đầy đủ thẩm quyền, hoạt động kiểm sát có lúc chưa chặt chẽ) và phân tích nguyên nhân từ phía chủ quan năng lực KSV lẫn nguyên nhân khách quan do văn bản pháp luật còn chung chung, thiếu hướng dẫn.
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nghiệp vụ THQCT, KSĐT các vụ án giết người, hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và chuẩn hóa khái niệm tội giết người, làm rõ bản chất 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo BLHS năm 2015; phân định ranh giới giữa chức năng THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án giết người theo tinh thần cải cách tư pháp và BLTTHS năm 2015.
- Về mặt quy trình nghiệp vụ: Chi tiết hóa trình tự, thủ tục và tiêu chí kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của KSV khi thụ lý hồ sơ phê chuẩn khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn (giữ, bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú), các kỹ năng kiểm sát khám nghiệm hiện trường đặc thù, khám nghiệm tử thi, hỏi cung và thực nghiệm điều tra theo Quy chế 03/QĐ-VKSTC.
- Về đóng góp mới so với các nghiên cứu trước: Tác giả kết hợp đồng thời lý luận hình sự, tố tụng hình sự với thực tiễn hoạt động THQCT, KSĐT các vụ án giết người trực tiếp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2014 – 2018, tạo ra công trình nghiên cứu chuyên sâu gắn liền với đặc thù địa bàn miền núi phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được xác định theo phạm vi đề tài:
- Phạm vi giai đoạn tố tụng: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn điều tra (từ sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc điều tra), không mở rộng nghiên cứu sâu giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm (tiền khởi tố) cũng như giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
- Phạm vi không gian và thời gian: Số liệu thực tiễn và khảo sát hoạt động của KSV chỉ giới hạn trong phạm vi VKSND tỉnh Cao Bằng trong khung thời gian 05 năm (2014 - 2018).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hoạt động THQCT và kiểm sát xét xử các vụ án giết người trên địa bàn miền núi; nghiên cứu so sánh thực tiễn áp dụng BLTTHS năm 2015 qua các giai đoạn sau năm 2018 và hoàn thiện các biểu mẫu, quy trình phối hợp liên ngành Điều tra viên - Kiểm sát viên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Kiểm sát tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật khác nghiên cứu môn Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự và Kỹ năng THQCT, KSĐT.
- Cán bộ thực tiễn: KSV, Điều tra viên, Kiểm tra viên công tác tại VKSND và Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp, đặc biệt tại các địa phương có điều kiện địa bàn tương đồng với tỉnh Cao Bằng.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Quy trình kiểm tra tính căn cứ và hợp pháp khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng; kỹ năng kiểm sát khám nghiệm các loại hiện trường đặc thù (súng đạn, chất nổ, ngộ độc, treo cổ) và các trường hợp bắt buộc KSV phải trực tiếp hỏi cung bị can theo Quy chế ngành.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa tội giết người như thế nào và tại sao không sử dụng cụm từ "cố ý tước đoạt tính mạng"?
Tác giả định nghĩa: "Giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện". Không cần dùng cụm từ "cố ý tước đoạt tính mạng" vì thuật ngữ "giết" hoặc "tước đoạt" đã tự thân bao hàm yếu tố lỗi cố ý, việc lược bỏ giúp khái niệm súc tích nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ bản chất pháp lý.
2. Để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người trong tội giết người, cần thỏa mãn những điều kiện nào?
Dựa trên quan điểm của TS. Đỗ Đức Hồng Hà được khóa luận dẫn chứng, quan hệ nhân quả phải thỏa mãn 3 điều kiện: (1) Hành vi khách quan xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; (2) Hành vi đó độc lập hoặc tổng hợp với hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người (trực tiếp làm biến đổi tình trạng sống của nạn nhân); (3) Hậu quả chết người xảy ra trên thực tế phải chính là sự hiện thực hóa khả năng thực tế của hành vi đó.
3. Theo Quy chế THQCT và KSĐT (Quyết định 03/QĐ-VKSTC), Kiểm sát viên trực tiếp hỏi cung bị can trong những trường hợp nào?
Theo khoản 4 Điều 28 Quy chế, KSV trực tiếp hỏi cung trong các trường hợp: bị can kêu oan; bị can khiếu nại hoạt động điều tra; có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật; khi có đề nghị của Cơ quan có thẩm quyền điều tra; tài liệu chứng cứ mâu thuẫn hoặc chưa rõ; lời khai của bị can không thống nhất (lúc nhận tội, lúc chối tội); có căn cứ nghi ngờ tính xác thực trong lời khai; bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng; và các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
4. Khám nghiệm hiện trường vụ án giết người bằng súng đạn hoặc chất nổ đòi hỏi Kiểm sát viên phải lưu ý những gì?
Đối với vụ án giết người bằng súng, KSV phải kiểm sát việc tìm vỏ đạn và đầu đạn thông qua xác định hướng bắn, khoảng cách bắn để xác định loại súng và các dấu vết trên súng. Đối với vụ án dùng lựu đạn, thuốc nổ, KSV phải yêu cầu xác định chính xác điểm nổ, thu giữ các mảnh nổ, mỏ vịt, đoạn dây cháy chậm còn sót lại phục vụ công tác giám định.
5. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án giết người dựa trên những nhóm căn cứ pháp lý nào?
Căn cứ Điều 230 BLTTHS năm 2015, việc đình chỉ điều tra vụ án giết người căn cứ vào: (1) Các trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 BLTTHS (không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, chưa đến tuổi chịu TNHS, đã có bản án hiệu lực, hết thời hiệu, đại xá, người thực hiện hành vi đã chết); (2) Các trường hợp miễn TNHS theo Điều 16, Điều 29 hoặc Khoản 2 Điều 91 BLHS; (3) Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã phân tích toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận về tội giết người cũng như chức năng THQCT, KSĐT trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015. Đề tài kết hợp giữa nghiên cứu quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng tại VKSND tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2014 – 2018 để chỉ ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại. Từ cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm giải pháp nghiệp vụ và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.