Khóa luận tốt nghiệp: Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Bạc Liêu - Trần Ngọc Thảo

Phân tích sâu sắc thực tiễn quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi tại Bạc Liêu. Đánh giá các quy định pháp luật và thách thức.

Trường đại học

Đại học Kiểm sát Hà Nội

Chuyên ngành

Pháp luật hình sự và Kiểm sát hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra vụ án bị can dưới 18 tuổi

Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi là hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân. Hoạt động này nhằm đảm bảo việc khởi tố, điều tra đúng pháp luật. Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người dưới 18 tuổi được áp dụng nguyên tắc xử lý riêng. Các nguyên tắc này ưu tiên giáo dục, hạn chế hình phạt. Kiểm sát viên phải giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật của cơ quan điều tra. Việc xác định chính xác tuổi của bị can là yếu tố then chốt. Tuổi tác quyết định thẩm quyền, biện pháp tố tụng và mức hình phạt. Người đại diện hợp pháp có quyền tham gia tố tụng. Nhà trường, tổ chức xã hội cũng được mời tham gia. Mục tiêu cuối cùng là giúp người dưới 18 tuổi tái hòa nhập cộng đồng. Hoạt động này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

1.1. Khái niệm và đặc điểm thực hành quyền công tố với bị can dưới 18 tuổi

Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi là việc Viện kiểm sát thực hiện quyền truy tố và giám sát hoạt động điều tra. Đặc điểm nổi bật là phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên giáo dục, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi. Kiểm sát viên cần có kiến thức về tâm lý lứa tuổi. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải thận trọng hơn. Tạm giam chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Người dưới 18 tuổi có quyền có người bào chữa bắt buộc.

1.2. Nội dung thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra đối với bị can vị thành niên

Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Kiểm sát viên giám sát việc áp dụng các nguyên tắc xử lý và cử người tiến hành tố tụng. Việc kiểm sát sự tham gia của người đại diện, nhà trường, tổ chức là bắt buộc. Kiểm sát viên phải làm rõ các vấn đề cần xác định, đặc biệt là xác định chính xác tuổi. Giám sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Kiểm sát việc hỏi cung bị can và cử người bào chữa.

II. Phân tích thực trạng thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra tại Bạc Liêu

Thực trạng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can dưới 18 tuổi tại tỉnh Bạc Liêu cho thấy nhiều kết quả đạt được. Tình hình phạm tội của người dưới 18 tuổi trên địa bàn có những diễn biến phức tạp. Các loại tội phạm phổ biến gồm trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện tốt vai trò giám sát. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Một số vụ án việc xác định tuổi của bị can chưa chính xác. Công tác phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đôi khi chưa phù hợp với đặc điểm người dưới 18 tuổi. Đội ngũ kiểm sát viên chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý vị thành niên. Công tác sơ kết, tổng kết chưa được thực hiện thường xuyên. Những hạn chế này ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án.

2.1. Kết quả đạt được trong thực hành quyền công tố tại Bạc Liêu

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Việc khởi tố, điều tra các vụ án có bị can dưới 18 tuổi cơ bản đúng quy định. Kiểm sát viên đã chủ động yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ các vấn đề. Việc tham gia hỏi cung được thực hiện đầy đủ. Người đại diện hợp pháp được tạo điều kiện tham gia tố tụng. Công tác phối hợp với nhà trường, đoàn thể được tăng cường. Quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi được bảo đảm.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong thực tiễn thực hành quyền công tố

Một số hạn chế được ghi nhận trong thực tiễn. Việc xác định tuổi của bị can trong một số trường hợp còn lúng túng. Chứng cứ về tuổi chưa được thu thập đầy đủ ngay từ đầu. Một số kiểm sát viên chưa nắm vững quy định về xử lý người dưới 18 tuổi. Ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa cao. Tâm lý né tránh vụ án phức tạp vẫn tồn tại. Nguyên nhân chính là do thiếu hướng dẫn chuyên môn và đào tạo chuyên sâu. Công tác sơ kết, tổng kết kinh nghiệm chưa kịp thời.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can dưới 18 tuổi, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ kiểm sát viên. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào quy định pháp luật và kỹ năng tiếp xúc với người dưới 18 tuổi. Thứ hai, xây dựng quy trình phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và các tổ chức xã hội. Thứ ba, ban hành hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể về xác định tuổi bị can. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ. Thứ năm, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật trong cộng đồng. Các giải pháp phải được triển khai thường xuyên, có đánh giá hiệu quả. Mục tiêu là bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người dưới 18 tuổi.

3.1. Giải pháp về nâng cao năng lực đội ngũ kiểm sát viên

Giải pháp đầu tiên là nâng cao năng lực chuyên môn cho kiểm sát viên. Tổ chức các lớp bồi dưỡng về pháp luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Đào tạo kỹ năng giao tiếp, hỏi cung phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Xây dựng đội ngũ kiểm sát viên chuyên trách giải quyết loại án này. Ban hành sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết. Tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị. Đánh giá chất lượng công tác định kỳ để kịp thời chấn chỉnh.

3.2. Giải pháp về hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành

Cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát, tòa án, cơ quan điều tra và các tổ chức xã hội. Xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm từng bên. Tăng cường trao đổi thông tin, tài liệu phục vụ điều tra. Phối hợp với nhà trường, đoàn thể trong việc giáo dục, cảm hóa người dưới 18 tuổi. Mời tổ chức xã hội tham gia giám sát quá trình tố tụng. Đánh giá định kỳ hiệu quả phối hợp để điều chỉnh kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn thực hành quyền công tố tại Bạc Liêu

Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can dưới 18 tuổi tại Bạc Liêu có ý nghĩa quan trọng. Hoạt động này bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, thể hiện chính sách nhân đạo với người vị thành niên. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ cấp bách. Ứng dụng thực tiễn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan. Tỉnh Bạc Liêu cần xây dựng mô hình điểm về giải quyết loại án này. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cần được tổng kết, nhân rộng. Mục tiêu cuối cùng là giúp người dưới 18 tuổi tái hòa nhập cộng đồng. Góp phần giảm thiểu tình trạng phạm tội trong lứa tuổi vị thành niên. Đóng góp vào sự phát triển bền vững của địa phương.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài có ý nghĩa lý luận trong việc hệ thống hóa quy định pháp luật về xử lý người dưới 18 tuổi. Làm rõ cơ sở khoa học cho hoạt động thực hành quyền công tố. Về thực tiễn, đề tài cung cấp cơ sở đánh giá hiệu quả công tác tại Bạc Liêu. Phát hiện những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn. Đề xuất giải pháp khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Góp phần nâng cao chất lượng giải quyết án có bị can dưới 18 tuổi.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển trong tương lai

Cần hoàn thiện quy định pháp luật về tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về xác định tuổi, áp dụng biện pháp ngăn chặn. Tăng cường đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kiểm sát viên. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác. Xây dựng hệ thống dữ liệu về tình hình phạm tội vị thành niên. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp vị thành niên. Nhân rộng mô hình hiệu quả từ các địa phương khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Kltn thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh bạc liêu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề chung về thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi. Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh Bạc Liêu. Chương 3: Yêu cầu và một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi ở tỉnh Bạc Liêu. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1.

Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi Người dưới 18 tuổi phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý chưa ổn định, khả năng nhận thức còn hạn chế, do vậy được Nhà nước và xã hội quan tâm đặc biệt.

Do đó, người tham gia TTHS là người dưới 18 tuổi luôn được điều chỉnh bởi các quy định đặc biệt hơn nhằm bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. So với BLHS 1999 và BLTTHS 2003 thì BLHS 2015 và BLTTHS 2015 đã thay thuật ngữ “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi”, xác định một cách rõ ràng người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi nhằm hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật lập pháp, đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật. Khoa học luật hình sự xác định tuổi chịu TNHS dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển về tâm sinh lý của con người mà chủ yếu là sự phát triển về quá trình nhận thức và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ Điều 12 BLHS 2015 về độ tuổi chịu TNHS thì độ tuổi chịu TNHS cụ thể như sau: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 143, 150, 151, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 285, 286, 287, 289, 290, 299, 303, 304”. Khi người dưới 18 tuổi tham gia TTHS với tư cách là người bị buộc tội, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với người dưới 18 tuổi sẽ được áp dụng. Trường hợp khi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm người đó ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhưng trong giai đoạn điều tra đã hơn 18 tuổi 6 thì sẽ áp dụng các thủ tục tố tụng thông thường. Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, và bị can là người dưới 18 tuổi.

Trong đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự [7]. Có thể hiểu, bị can là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự. Bị can là người dưới 18 tuổi là đối tượng của quan hệ pháp luật hình sự, do đã trực tiếp tham gia quan hệ pháp luật trong lĩnh vực hình sự và TTHS. Quan hệ này diễn ra vào thời điểm người dưới 18 tuổi chưa đủ trưởng thành về tâm sinh lý cũng như hiểu biết pháp luật, do đó, tất cả những hoạt động của các chủ thể trong tiến trình tố tụng, nhất là trong giai đoạn điều tra sẽ có tác động lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Trong vụ án có người bị buộc tội nói chung, bị can nói riêng là người dưới 18 tuổi thì việc truy cứu TNHS đối với họ chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo, giúp họ nhận thức đúng đắn hơn các ý nghĩa xã hội của hành vi của mình, từ đó có những lựa chọn thực hiện các hành vi đúng chuẩn mực xã hội. Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm như sau: “Vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi là vụ việc có dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện, đã bị cơ quan có thẩm quyền THTT khởi tố, điều tra khi người đó đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi theo thủ tục đặc biệt theo quy định pháp luật”. Khái niệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi Theo khoa học luật TTHS, quá trình giải quyết VAHS bao gồm các giai đoạn: khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử. Giai đoạn điều tra VAHS là một giai đoạn tố tụng, trong đó cơ quan có thẩm quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn VAHS.

Giai đoạn này bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS, và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Trong giai đoạn điều tra, VKSND thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, được sử dụng một số biện pháp điều tra trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện chức năng THQCT và KSĐT các VAHS mang ý nghĩa quan trọng hơn cả bởi thực tiễn đã chỉ ra rằng “những kết quả khả quan cũng như 7 những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [9]. - THQCT vụ án có bị can là người dưới 18 tuổi Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và THQCT đã xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luật.

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, “Công tố có nghĩa là điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án”. Từ điển Luật học thì định nghĩa: “Công tố là quyền của Nhà nước truy cứu TNHS đối với người phạm tội”. Khái niệm “Công tố” còn được tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn pháp lý nước ta với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, cụ thể như sau: Góc độ tiếp cận thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS [8, tr11]. Góc độ tiếp cận này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND.

Góc độ tiếp cận thứ hai: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt nhà nước đưa các vụ việc có vi phạm pháp luật ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích công khi xuất hiện các vi phạm pháp luật [12, tr8]. Góc độ tiếp cận này mở rộng khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố, đồng nhất quyền công tố với quyền năng khác của VKS trong kiểm sát hoạt động tư pháp. Góc độ tiếp cận thứ ba: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó tại phiên tòa [18, tr14]. Góc độ tiếp cận này đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố; đồng thời không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền công tố.

Để đưa ra khái niệm đầy đủ nhất ta cần xuất phát từ nội hàm của từ “công tố” gắn liền với chủ thể, mục đích thực hiện hoạt động này: Một là, công tố là bộ phận không thể tách rời của quyền lực Nhà nước, gắn liền với Nhà nước và mang tính giai cấp của Nhà nước. Để củng cố địa vị thống trị của mình, Nhà nước thiết lập một trật tự công phù hợp với ý chí và lợi ích giai cấp thống trị đồng thời bảo vệ và duy trì trật tự đó, những hành vi nguy hiểm xâm hại đến các quan hệ được Nhà nước bảo vệ sẽ bị trừng trị. Hai là, để thực hiện việc truy tố người phạm tội, Nhà nước phải giao quyền này cho một cơ quan trong tổ chức bộ máy của mình thực hiện, cơ quan này nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội; có trách nhiệm 8 thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó, quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa. Ba là, quyền công tố chỉ xuất hiện trong TTHS, được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, gắn liền với chức năng buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm.

Quyền công tố chấm dứt khi vụ án được xét xử có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ. Từ những nhận thức trên, có thể đưa ra được định nghĩa sau: “Quyền công tố là quyền lực nhà nước, được Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền nhân danh Nhà nước để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người, pháp nhân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhằm đưa người, pháp nhân đó ra trước Tòa án để xét xử qua đó bảo vệ các lợi ích đã bị hành vi phạm tội đó xâm hại hoặc đe dọa xâm hại”. Ở nước ta, Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “THQCT” khi đề cập đến chức năng của VKSND tại Điều 137, và được thể chế hóa ở Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND 1981.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ