Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH TỤNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU CHUNG VỀ TRANH TỤNG Ở VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ TRANH TỤNG 1. Tranh tụng là gì? Tranh tụng là phương thức, cách thức giải quyết vụ án, mà ở đó, khi có tranh chấp, kiện tụng, các bên đưa ra chứng cứ, lý lẽ, tranh luận với nhau về tất cả các vấn đề của vụ án. Việc chứng minh vụ án thuộc về trách nhiệm của các bên, Tòa án chỉ đóng vai trò trọng tài, điều khiển quá trình tranh tụng giữa các bên và đưa ra phán quyết khách quan, công bằng đúng pháp luật trên cơ sở tranh tụng bình đẳng, dân chủ trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Trong vụ án hình sự, tranh tụng đòi hỏi hình thành các bên buộc tội và gỡ tội, có địa vị bình đẳng trong việc thu thập chứng cứ, đưa ra lý lẽ, lập luận chứng minh cho các đối tượng chứng minh về tội phạm và các vấn đề liên 11 quan đến vụ án. Nói cách khác, tranh tụng trong tố tụng hình sự là phương thức giải quyết vụ án hình sự, đề cao sự bình đẳng giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội, họ có địa vị pháp lý ngang nhau trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án và Tòa án sẽ ra phán quyết dựa trên các căn cứ pháp luật cùng kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa. Với nội hàm này thì bất kỳ khi nào, ở đâu có hành vi buộc tội sẽ ngay lập tức xuất hiện hoạt động gỡ tội cùng với vai trò trọng tài của Tòa án trong suốt quá trình tố tụng, làm nên bản chất của tố tụng tranh tụng trong vụ án hình sự. Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng với bản chất nêu trên thể hiện sự ưu việt trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm tính khách quan, công bằng, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người thông qua quá trình tố tụng bình đẳng, dân chủ giữa các bên buộc tội, gỡ tội.
Do vậy, xây dựng, chuyển đổi sang mô hình tố tụng tranh tụng là xu hướng tất yếu của luật tố tụng hình sự của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tố tụng hình sự tranh tụng có những đặc điểm gì? So với các mô hình tố tụng hình sự khác, tố tụng hình sự tranh tụng có những đặc điểm chủ yếu sau: - Tố tụng hình sự tranh tụng coi vụ án hình sự là quá trình giải quyết tranh chấp giữa người bị buộc tội với Nhà nước - đại diện cho xã hội thực hiện việc buộc tội. 12 Cách tiếp cận này hoàn toàn khác với việc coi giải quyết vụ án hình sự là quan hệ công quyền, Nhà nước đại diện cho xã hội truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. - Tố tụng hình sự tranh tụng hình thành các bên buộc tội, bên gỡ tội xoay quanh hai chủ thể chính: người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) và người buộc tội.
Bên buộc tội bao gồm các chủ thể công tố, tư tố, bị hại, người làm chứng có lời khai có tính chất buộc tội.; Bên gỡ tội là người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), người bào chữa, người làm chứng có lời khai có tính chất gỡ tội. Tố tụng tranh tụng không phân chia chủ thể thành cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng và người tham gia tố tụng như trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. - Các bên buộc tội, gỡ tội bình đẳng trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh và có quyền ngang nhau trong việc đưa ra lý lẽ, lập luận về các vấn đề liên quan đến vụ án. Mô hình tố tụng đòi hỏi các bên phải kiểm tra xác minh chéo chứng cứ và nhân chứng của bên đối lập, từ đó tìm ra kẽ hở của nhau.
Thủ tục này chủ yếu xuất hiện ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và lan rộng ra nhiều quốc gia khác. - Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng coi người bị buộc tội là đối tượng yếu thế trong xã hội nên đã chú ý tạo ra cơ sở pháp lý và các điều kiện cần thiết để họ có thể bình đẳng với bên buộc tội vốn dĩ có nhiều ưu thế hơn do họ đại diện 13 cho công quyền. Quyền con người của người bị buộc tội được đặc biệt quan tâm trong quá trình tranh tụng giải quyết vụ án hình sự, tố tụng tranh tụng có cơ chế tranh tụng để bảo đảm tính có căn cứ của các quyết định bắt, giam, tước quyền tự do, được sớm đưa ra Tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. là những quyền con người được quy định tại Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
- Các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự được phân định rõ ràng tương ứng với các chủ thể buộc tội, chủ thể gỡ tội và chủ thể xét xử; Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử với vai trò điều khiển, trọng tài cho việc tranh tụng giữa các bên; chỉ dẫn Bồi thẩm đoàn về luật nội dung, luật hình thức để giúp Bồi thẩm đoàn đưa ra các phán quyết về nội dung vụ án; áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm hay có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự như trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn. - Tố tụng tranh tụng không buộc người bị buộc tội phải khai báo về hành vi phạm tội của mình, họ không có trách nhiệm tự buộc tội và làm xấu thêm tình trạng của mình, họ được quyền giữ im lặng; trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của bên buộc tội. Vì vậy, tố tụng hình sự tranh tụng không mong đợi sự hợp tác của người bị buộc tội trong việc chứng minh làm rõ tội phạm trừ trường hợp thỏa thuận, mặc cả nhận tội.
14 - Người bào chữa có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự tranh tụng, là trụ cột của bên gỡ tội trong suốt quá trình tranh tụng với bên buộc tội, hoạt động bào chữa là yếu tố có tính chất then chốt để vụ án được tiến hành khách quan, bình đẳng và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. - Tố tụng tranh tụng được tiến hành công khai, dân chủ và có tính chất mở, tạo cơ hội cho bên buộc tội và bên gỡ tội có cơ hội thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tố tụng tranh tụng không phân chia giai đoạn tố tụng rõ ràng như tố tụng thẩm vấn, vụ án chỉ được coi là bắt đầu chính thức khi có cáo trạng để thực hiện các thủ tục tranh tụng tại Tòa án, trong quá trình xét xử, các bên vẫn tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ và xuất trình chứng cứ tại bất kỳ thời điểm nào của quá trình xét xử. Tố tụng tranh tụng có những ưu điểm, hạn chế nào? a) Ưu điểm - So với các mô hình tố tụng khác thì mô hình tố tụng tranh tụng đề cao quyền con người của người bị buộc tội và có phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội hiệu quả hơn; - Mô hình tố tụng tranh tụng là biểu hiện của việc phát huy tối đa tính dân chủ trong hoạt động tố tụng; 15 - Hạn chế đến mức tối thiểu các trường hợp kết án oan người không có tội.
Tuy không phải không có các vụ án oan, sai, nhưng tỷ lệ này ít hơn so với mô hình tố tụng thẩm vấn do quá trình tố tụng diễn ra dân chủ, khách quan hơn. b) Hạn chế - Tố tụng tranh tụng có khả năng bỏ lọt tội phạm cao hơn so với mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn hay mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm. - Mô hình tố tụng tranh tụng được xem là một mô hình tố tụng tốn kém so với các mô hình tố tụng khác và hiệu quả tranh tụng phụ thuộc vào chất lượng, số lượng thực tế của đội ngũ luật sư tranh tụng, khả năng trả phí luật sư của người bị buộc tội và khả năng miễn phí cung cấp luật sư tranh tụng của Nhà nước cho những người bị buộc tội không có khả năng trả phí; sự tốn kém không chỉ là tiền bạc, vật chất mà còn tốn kém về thời gian công sức của những người có liên quan. - Tòa án có vai trò thụ động hơn trong việc chứng minh tội phạm so với tố tụng thẩm vấn.
Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam được thể hiện như thế nào? Lần đầu tiên nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 5 Điều 103) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 26) đánh dấu sự thay đổi căn bản cách tiếp cận cũng 16 như phương thức giải quyết vụ án hình sự. Nguyên tắc này đã thể hiện tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với việc xây dựng hoạt động tố tụng hình sự dân chủ, bình đẳng bảo đảm quyền con người, quyền công dân. “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, là định hướng cho việc xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật tố tụng hình sự được quy định tại Điều 26 của Bộ luật này, với các nội dung sau: Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng bình đẳng đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra các yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án”1.
Thứ hai, pháp luật tố tụng hình sự quy định các điều kiện để tiến hành hoạt động tranh tụng trong xét xử, như: hồ sơ vụ án phải đầy đủ, hợp pháp khi Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án; bảo đảm sự có mặt đầy đủ của các _______________ 1.